Đánh giá tác dụng điều trị của viên nang cứng “giáng chỉ tiêu khát linh” trên bệnh nhân rối loạn lipid máu có đái tháo đường týp 2 - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn chuyển hoá lipid gắn liền với bệnh lý mạch máu, đặc biệt là bệnh lý
mạch vành. Điều hoà các rối loạn lipid máu có tác dụng cải thiện rõ rệt tiên lượng
bệnh lý tim mạch ở bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) [1].
Ngày nay, bệnh ĐTĐ gia tăng hàng năm theo sự phát triển của đời sống kinh
tế xã hội. Theo thống kê của Hiệp hội đái tháo đường quốc tế IDF (International
Diabetes Federation), năm 2013 thế giới có 382 triệu người mắc bệnh ĐTĐ týp 2 và
dự đoán sẽ tăng lên 592 triệu người trong năm 2035 [2]. Bệnh ĐTĐ xảy ra khắp các
châu lục, thường là ĐTĐ týp 2, đặc biệt ở các nước phát triển. Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh
tăng nhanh nhất là các nước thuộc châu Phi và châu Á, dự báo tới năm 2030 số
bệnh nhân ĐTĐ chủ yếu ở hai châu lục này [3].
Trong ĐTĐ, tăng glucose máu và RLLPM có tăng LDL-C, tăng tỷ lệ triglycerid
(TG), giảm HDL-C máu là những rối loạn chuyển hoá đan xen có nguy cơ rất cao gây
VXĐM và những hậu quả xấu đối với hệ tim mạch. Kiểm soát glucose máu và điều trị
các RLLPM cho bệnh nhân ĐTĐ có thể giảm được nguy cơ tiến triển của các biến
chứng đặc biệt giảm một cách đáng kể nguy cơ các bệnh mạch vành và tỷ lệ tử vong
do mạch vành. Do vậy, nhu cầu các thuốc YHHĐ hay YHCT nhằm kiểm soát glucose
máu, điều trị RLLPM, phòng ngừa các biến chứng và hạn chế tác dụng phụ của thuốc
càng ngày càng trở nên cấp thiết hơn.
Y học hiện đại (YHHĐ) đã đi sâu nghiên cứu tìm ra nhiều loại thuốc điều trị
RLLPM cho bệnh nhân ĐTĐ, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế do hầu hết còn có
những biến chứng khi dùng thuốc kéo dài [4],[5]. Hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu
tìm ra các thuốc mới điều trị ĐTĐ và RLLPM, phòng ngừa các biến chứng vẫn đang là
vấn đề quan tâm của hàng đầu của các nhà khoa học.
Các nhà nghiên cứu lâm sàng về y học cổ truyền (YHCT) phương Đông nhận
thấy chứng RLLPM và chứng đàm thấp có nhiều điểm tương đồng, có thể lấy phương
pháp chữa đàm thấp là một trong những phương pháp điều trị RLLPM. Bệnh ĐTĐ
theo YHCT thuộc chứng tiêu khát, và thường đi kèm chứng đàm thấp. Vì vậy việc


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Rối loạn lipid máu và đái tháo đường theo y học hiện đại
1.1.1. Rối loạn lipid máu theo y học hiện đại
1.1.1.1. Các thành phần lipid máu và lipoprotein
Các lipid chính có mặt trong máu là các acid béo tự do, triglycerid (TG),
cholesterol toàn phần (CT) gồm cholesterol tự do và cholesterol este và
phospholipids. Vì không tan trong nước nên lipid trong huyết tương không lưu hành
dưới dạng tự do mà được gắn với protein đặc hiệu (apoprotein viết tắt là apo) tạo
thành các phức hợp lipoprotein vận chuyển trong máu và hệ bạch huyết [12],[13],
[14].
Các lipoprotein huyết tương được xếp loại dựa trên tỷ trọng của chúng khi
siêu ly tâm. Có bốn loại chính theo tỷ trọng tăng dần là chylomicron (CM),
lipoprotein có tỷ trọng rất thấp (very low density lipoprotein - VLDL) lipoprotein có
tỷ trọng thấp (low density lipoprotein - LDL), lipoprotein có tỷ trọng cao (high
density lipoprotein - HDL) là sản phẩm chuyển hóa của VLDL là tiền chất của
LDL, bình thường có hàm lượng rất thấp trong huyết tương [15],[16],[17].
Ở người bình thường, quá trình tổng hợp và thoái hoá lipid diễn ra cân bằng nhau và
phụ thuộc vào nhu cầu cơ thể, vì thế duy trì được sự ổn định về nồng độ lipid và
lipoprotein trong máu. Khi có sự bất thường, các kiểu rối loạn chuyển hoá lipid sẽ xảy ra.

Hình 1.1. Hình ảnh cấu trúc Lipoprotein [18]


4

1.1.1.2. Rối loạn chuyển hóa lipid
RLLPM là tình trạng bệnh lý khi có 1 hoặc nhiều thông số lipid bị rối loạn (tăng
cholesterol, hoặc tăng triglycerid, hoặc tăng LDL-C, hoặc giảm HDL-C…) [19]
Ngày nay người ta xem đã có rối loạn lipid máu ngay từ khi tỷ lệ càc thành phần

5

+ Dấu chứng nội tạng: nhiễm lipid võng mạc, gan nhiễm mỡ, viêm tụy cấp, xơ
vữa động mạch [19].



Điều trị:
- Nguyên tắc chung: Phải kết hợp thay đổi lối sống và dùng thuốc. Thay đổi

lối sống là chỉ định đầu tiên, bao gồm tăng cường tập luyện- vận động thể lực, nhất
là những người công việc tĩnh tại, và điều chỉnh chế độ tiết thực hợp lý với thể trạng
và tính chất công việc. Để chọn lựa kế hoạch điều trị thích hợp, ngày nay người ta
thường dựa trên báo cáo lần 3 của Chương trình giáo dục quốc gia về cholesterol tại
Mỹ (NCEP – National Cholesterol Education Program) và của Ủy ban điều trị tăng
cholesterol ở người trưởng thành (ATP III – Adult Treatment Panel III). Hướng dẫn
của NCEP dựa trên điểm cắt lâm sàng tại đó có sự gia tăng nguy cơ tương đối của
bệnh lý mạch vành [19].
Bảng 1.1. Đánh giá các mức độ RLLPM theo NCEP ATP III (2001) [19],
[21],[22].
Chỉ số

Nồng độ
mg/dl


≥1,55

rối loạn
Bình thường
Giới hạn cao
Cao
Tối ưu
Gần tối ưu/ trên tối ưu
Giới hạn cao
Cao
Rất cao
Bình thường
Giới hạn cao
Cao
Rất cao
Thấp
cao

Thời gian tập luyện - vận động thể lực khoảng 30 - 45 phút mỗi ngày, 5 ngày
mỗi tuần, cường độ và thời gian tập tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe, nhất là
những người có bệnh lý huyết áp, mạch vành, suy tim…


6

- Chế độ ăn:
Nên ăn nhiều loại thực phẩm. Khẩu phần ăn có sự cân đối giữa glucid, lipid và
protid. Tránh dùng nhiều glucid. Nên điều chỉnh năng lượng tiêu thụ để phòng ngừa
thừa cân và béo phì.
Nên khuyến khích dùng trái cây, rau, các loại đậu, các loại hạt, ngũ cốc

Lovastatin: 20-40mg/ ngày, liều tối đa 80 mg/ngày.
Fluvastatin: 20-40mg/ ngày, liều tối đa 80 mg/ngày.
Pravastatin: 20-0mg/ ngày, liều tối đa 80 mg/ngày.
+ Nhóm fibrate:
Làm giảm TG do kích thích PPAR alpha làm tăng oxy hóa acid béo, tăng
tổng hợp enzyme LPL, làm tăng thanh thải các lipoprotein giàu TG, ức chế tổng
hợp apoC-III ở gan, tăng thanh thải VLDL, tăng HDL do thúc đẩy trình diện apoA-I
và apoA-II.
Liều lượng và tên thuốc:
Gemfibrozil: liều thường áp dụng trên LS 600mg/ngày
Clofibrat: 1000 mg/ ngày
Fenofibrat: 145 mg/ ngày
+ Nhóm acid nicotinic (niacin, vitamin PP)
Giảm TG do ức chế phân hủy từ tổ chức mỡ và giảm tổng hợp TG ở gan, ức
chế tổng hợp và este hóa acid béo tại gan, tăng thoái biến apo B, giảm VLDL, giảm
LDL, tăng HDL
Liều lượng:
Loại phóng thích nhanh: 100mg/dL, liều tối đa 1000mg/ngày
Loại phóng thích nhanh: 250mg/dL, liều tối đa 1500mg/ngày
Loại phóng thích nhanh: 500mg/dL, liều tối đa 2000mg/ngày
+ Nhóm Resin:
Trao đổi ion Cl- với acid mật, tăng tổng hợp acid mật từ cholesterol, làm
tăng bài tiết mật và giảm cholesterol ở gan, kích thích tổng hợp thụ thể LDL-c, tăng
thải LDL-c.
Liều lượng và tên thuốc:
Cholestyramine: 4-8 g/ngày, liều tối đa 32 mg/ ngày
Colestipol: 5-10 g/ngày, liều tối đa 40 mg/ ngày
Colesevelam: 3750 g/ngày, liều tối đa 4375 mg/ ngày
+ Ezetimibe:


rối loạn tiêu hóa, tăng
transaminase trong máu

Resin gắn
acid mật

Giảm 20%

Nicotinic
Dẫn xuất
của acid
fibric

Giảm 10% Tăng 3%
đến 20%
đến 5%

BT hoặc
tăng

Ăn không ngon, đầy bụng
khó tiêu, ợ chua

Đỏ mặt, ngứa, tăng kháng
Giảm 10% Tăng 15% Giảm 20%
Giảm 25%
insulin (BN ĐTĐ), gây cơn
đến 25%
đến 35% đến 50%
Gút cấp (BN Gút)

bệnh cảnh khác như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, dị cảm da, ngứa và ra
khí hư nhiều hoặc suy sinh dục [6].
1.1.2.3.Biến chứng mạn tính của ĐTĐ týp 2
Các biến chứng thường gặp là: biến chứng ở mạch máu (bệnh mạch vành, tai
biến mạch máu não, bệnh mạch máu ngoại biên) và biến chứng mạch máu nhỏ (bệnh
võng mạc), bệnh thận, bệnh thần kinh, bệnh ngoài da… [6].
Biến chứng ở mạch máu lớn:
ĐTĐ là một trong các yếu tố nguy cơ lớn gây ra vữa xơ động mạch.
- Bệnh lý mạch vành (cơn đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim): Tần suất bệnh
mạch vành ở bệnh nhân ĐTĐ cao hơn ở người không có ĐTĐ gấp 2-3 lần. Tử vong
do bệnh mạch vành ở bệnh nhân ĐTĐ cũng cao gấp hai lần người bình thường.
- Tai biến mạch não: Có thể là nhất thời, tiến triển dần, hoặc đột ngột.
- Bệnh mạch máu ngoại biên: Thể hiện chủ yếu bằng bệnh động mạch chi, dễ
dẫn đến các loét, hoại thư và cắt cụt chi.
Biến chứng mạch ở máu nhỏ:
- Biến chứng ở mắt: Gồm bệnh võng mạc và đục thuỷ tinh thể.
- Biến chứng ở thận: Đặc trưng bởi sự dầy màng đáy của mao mạch cầu thận,
lắng đọng các glycoprotein ở trung mạc. Ngoài ra ĐTĐ còn gây biến chứng viêm
thận - bể thận, hoại tử gai thận, suy thận cấp sau sử dụng thuốc cản quang [6].
Các biến chứng khác:
- Biến chứng thần kinh: Bệnh thần kinh cảm giác biểu hiện dị cảm: nóng ran,
ngứa, đau, mất cảm giác. Bệnh thần kinh vận động biểu hiện bằng một sự yếu xảy
ra đột ngột ở vùng chi phối bởi dây thần kinh có liên quan.


10

- Biến chứng ở da: Đặc trưng bởi các chấm sẫm màu teo da ở mặt trước cẳng
chân. Các thay đổi này có thể là hậu quả của sự gia tăng glycosyl hoá protein mô
hoặc một bệnh mạch máu.

-

Mức glucose huyết tương lúc đói ≥ 7,0 mmol/l (≥ 126 mg/dl). Hoặc:

- Mức glucose huyết tương ≥ 11,1 mmol/l (≥ 200 mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau
nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống. Hoặc:
- HbA1c ≥ 6,5% (48mmol/mol theo Liên đoàn hóa sinh lâm sàng Quốc tế
IFCC). Hoặc:
- Có triệu chứng của ĐTĐ (lâm sàng); mức glucose huyết tương ở thời điểm
bất kì ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl).
Cần lưu ý:
+ Nếu chẩn đoán dựa vào glucose huyết tương lúc đói và/ hoặc nghiệm pháp
dung nạp glucose bằng đường uống, thì phải làm 2 lần vào 2 ngày khác nhau.
+ Có những trường hợp được chẩn đoán là ĐTĐ nhưng chỉ có glucose huyết
tương lúc đói bình thường. Trường hợp này phải ghi rõ chẩn đoán bằng phương
pháp nào. Ví dụ: “ĐTĐ typ 2 – phương pháp tăng glucose máu bằng đường uống”.
2. Nghiệm pháp tăng đường huyết (theo WHO) [26]
- Điều kiện tiến hành nghiệm pháp:
+ Nhịn đói 8-14 giờ (6 giờ tối – 7 giờ sáng).
+ 3 ngày trước khi làm nghiệm pháp: khẩu phần ăn giàu carbonhydrat (150
-200g/ ngày)
+ Không tiến hành nghiệm pháp khi đang bị bệnh cấp tính, suy dinh
dưỡng, chấn thương tâm lý, khi đang dùng thuốc corticoid, thiazid, phenyltoin,
thuốc ngừa thai.
+ Không vận động quá sức trước và sau khi làm nghiệm pháp.
- Chỉ định:
+ Rối loạn đường huyết lúc đói (đường huyết đói > 5,6 mmol/l)
+ Đường huyết lúc đói bình thường kèm các yếu tố nguy cơ: béo dạng nam;
tiền sử đẻ con to > 4kg; RLLPM (tăng TG hoặc tăng hỗn hợp); biểu hiện LS như
các biến chứng mạn tính; sử dụng thuốc tránh thai; đường huyết đói bình thường

-

ĐTĐ typ 2

- Các thể đặc biệt khác: khiếm khuyết chức năng tế bào beta, giảm hoạt tính
của insulin do gen; bệnh lý của tụy ngoại tiết; do các bệnh nội tiết khác; nguyên
nhân do thuốc hoặc hóa chất khác; nguyên nhân do nhiễm trùng; các thể ít gặp, các
bệnh nhiễm sắc thể …
-

ĐTĐ thai kì

5. Chẩn đoán sớm bệnh ĐTĐ typ 2
- Đối tượng có yếu tố nguy cơ để sàng lọc bệnh ĐTĐ typ 2


13

+ tuổi >45
+ BMI trên 23
+ HATT ≥ 140 và/ hoặc HATTr ≥ 85 mmHg.
+ Trong gia đình có người mắc ĐTĐ ở thế hệ cận kề (bố, mẹ, anh chị em ruột,
con ruột bị mắc bệnh ĐTĐ typ 2).
+ Tiền sử được chẩn đoán mắc hội chứng chuyển hóa, tiền ĐTĐ.
+ Phụ nữ có tiền sử thai sản đặc biệt (ĐTĐ thai kì, sinh con to – nặng trên
4000 gam, sẩy thai tự nhiên nhiều lần, thai chết lưu…)
+ Người có rối loạn lipid máu; đặc biệt khi HDL – C dưới 0,9mmol/l và
triglyceride trên 2,2 mmol/l.
1.1.2.6. Điều trị ĐTĐ typ 2
1. Mục đích:

- Sau ăn
HbA1c*
Huyết áp

mmol/l

BMI
Cholesterol TP
HDL-C
Triglycerid
LDL-C
Non-HDL

kg/(m)2
mmol/l
mmol/l
mmol/l
mmol/l
mmol/l

%
mmHg

4,4-6,1
4,4-7,8
≤ 7,0
≤ 130/80**
≤140/80
18,5 – 23
< 4,5

Không có một chế độ ăn chung cho tất cả mọi người mắc bệnh ĐTĐ. Một
chế độ ăn phù hợp riêng cho mỗi người phải dựa vào sở thích cá nhân, đặc điểm hấp
thu, dựa trên cơ sở phong tục, tập quán của mỗi địa phương, dựa vào mức độ hoạt
động thể lực của cá nhân đó.
Nguyên tắc.
- Đảm bảo chế độ ăn đủ chất, cân bằng giữa năng lượng đưa vào và năng
lượng tiêu thụ.
Theo nhiều nghiên cứu, nhu cầu năng lượng cho hoạt động bình thường ở nữ
là từ 30-35 calo/kg/ngày; ở nam là từ 35-40 calo/kg/ngày. Điều này có nghĩa là một
bệnh nhân nữ nặng 50kg cần tổng lượng calo là 1500 - 1750 calo/24 giờ.
Yêu cầu chung về tỷ lệ các thành phần thức ăn:
+ Lượng carbonhydrat (đường) chiếm 60%-65% tổng số calo.
+ Mỡ chiếm 20% tổng số calo, mỡ bão hoà < 10% tổng số calo.
+ Protein 10% (≈ 0,8 g/kg/ngày).
- Nếu có béo phì buộc phải giảm tỷ lệ calo chung từ 10-20%.
5. Chế độ luyện tập.
Hoạt động thể lực, tập thể dục đều đặn làm cơ thể tiêu thụ đường dễ dàng, do
đó làm giảm lượng đường huyết, từ đó có thể làm giảm liều insulin và các thuốc hạ


15

đường huyết khác, cải thiện tình trạng hoạt động của các cơ quan, nâng cao tình
trạng sức khoẻ của toàn cơ thể. Luyện tập đúng và khoa học làm cho tinh thần hoạt
bát, nhanh nhẹn, sảng khoái, làm tăng sức chịu đựng của cơ thể, tăng tiêu thụ năng
lượng, làm giảm nguy cơ béo phì.
Nguyên tắc:Luyện tập từ từ và thích hợp, phải được phép của thầy thuốc về
mức độ thời gian luyện tập, phải đề phòng hạ đường máu khi tập - Không tham gia
luyện tập khi đang mắc những bệnh cấp tính, lượng đường máu quá cao, ceton máu
tăng cao nhiều lần, ceton niệu dương tính nặng.

Liều thông thường của nhóm Sulfonylurea:
Glipizide từ 2,5mg đến 20.0 mg/ ngày
Gliclazide từ 40-320 mg/ ngày
Gliclazide MR 30-120 mg/ngày
Glimepiride từ 1,0 – 6,0 mg/ ngày – cá biệt tới 8,0 mg/ ngày
Glibenclamide từ 1,25 – 15,0mg/ ngày.
Các thuốc Sulfonylurea được sử dụng rộng rãi dưới dạng đơn trị liệu hoặc
phối hợp với các thuốc biguanide, glitazone, thuốc ức chế men alpha –
glucosecosidase, ức chế men DPP -4, insulin.
* Thuốc ức chế enzym alpha – glucosidase: Enzym alpha- glucosidase có tác dụng
phá vỡ đường đôi thành đường đơn, tác dụng làm chậm hấp thu đường đơn, do vậy
hạ thấp lượng glucose máu sau bữa ăn. Nhóm này gồm các thuốc:
Acarbose: glucobay (50mg và 100 mg). Tác dụng không mong muốn: đầy
bụng, ỉa chảy. Liều có thể tăng từ 25 mg đến 50 mg hoặc 100 mg mỗi bữa ăn.
Nhóm Voglibose: hiện không có tại Việt Nam.
Chú ý: thuốc cần sử dụng phối hợp với 1 loại hạ glucose máu khác. Thuốc
uống ngay trong khi ăn, tốt nhất là ngay sau miếng cơm đầu tiên. Trong bữa ăn phải
có carbohydrate để thuốc tác dụng.
* Metiglinide/ Repaglinide: Thuốc kích thích bài tiết insulin sau ăn (khi có tăng
glucose trong máu). Có thể dùng như 1 đơn trị liệu hoặc kết hợp với metformin, với
insulin. Liều dùng: Repaglinide liều từ 0,5 – 4mg/ bữa ăn. Liều tối đa 16 mg/ ngày.
Nateglinide liều từ 60 – 180mg/ bữa ăn. Liều tối đa 540 mg/ ngày.
*Thiazolidinedione (Glitazone): Thuốc làm tăng nhạy cảm của cơ và tổ chức mỡ


17

với insulin bằng cách hoạt hóa PPAR ƴ, vì vậy làm tăng thu nạp glucose từ máu.
Thuốc làm tăng nhạy cảm của insulin ở cơ vân, mô mỡ đồng thời ngăn cản quá trình
sản xuất glucose từ gan.

500:5


18

* Insulin: Bệnh nhân ĐTĐ typ 1 phụ thuộc vào insulin ngoại sinh để tồn tại. BN
ĐTĐ typ 2 không phụ thuộc insulin ngoại sinh, nhưng sau 1 thời gian mắc bệnh,
nếu không ổn định tốt glucose máu, nhiều người bệnh ĐTĐ typ 2 giảm khả năng
sản xuất insulin, đòi hỏi bổ sung insulin ngoại sinh để kiểm soát glucose máu.
Insulin thường được tiêm vào tổ chức dưới da bụng, mông, đùi, cánh tay.
Quay vòng vị trí tiêm là cần thiết để ngừa phì đại hoặc teo tổ chức mỡ dưới da tại
nơi tiêm.
1.1.3. Rối loạn lipid máu trong bệnh đái tháo đường type 2
ĐTĐ là nguyên nhân phổ biến thứ hai gây RLLPM thứ phát (nguyên nhân
phổ biến nhất là chế độ ăn). Ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 phổ biến có RLCH lipid và
lipoprotein phức tạp vì nó chịu tác động của nhiều yếu tố, bao gồm sự thiếu hụt
insulin (tương đối hoặc tuyệt đối) và/hoặc kháng insulin, mức độ béo phì, phương
pháp điều trị, mức độ kiểm soát glucose máu, các thuốc điều trị những rối loạn phối
hợp và các biến chứng của bệnh ĐTĐ. V ì vậy, những người giảm dung nạp glucose
có insulin máu tăng cao có thể có mẫu hình RLLPM tương tự như gặp trong ĐTĐ.
Các đặc điểm chung nhất của RLLPM trong bệnh đái tháo đường là TG máu
tăng, HDL-C giảm và xuất hiện các phần tử LDL nặng và nhỏ hơn (tỷ trọng tăng và
kích thước nhỏ hơn). Tăng TG máu do tăng bài tiết VLDL và sự giảm hoạt độ của
enzym LPL, đặc trưng bởi sự ứ đọng các phần tử tàn dư sau khi thuỷ phân VLDL,
là yếu tố gây VXĐM [1],[3],[24],[27],[28].
1.2. Đái tháo đường và RLLPM theo quan niệm của YHCT
1.2.1. Hội chứng RLLPM theo quan niệm của YHCT
1.2.1.1. Chứng đàm thấp, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh:
Đàm thấp là sản phẩm bệnh lý, đàm là chất đặc, ẩm là chất loãng, đàm thấp
sau khi sinh sẽ gây ra những chứng bệnh mới, đặc biệt phạm vi gây bệnh của đàm

- Thấp đàm: người nặng nề, mệt mỏi.
* Ẩm:
- Huyền ẩm: đau mạng sườn, ho khó thở, đau liên sườn (gặp ở tràn dịch
màng phổi).
- Yêm ẩm: đau người và nặng nề, tay chân phù, hen suyễn, không có mồ hôi,
sợ lạnh.


21

1.2.1.3. Sự tương đồng giữa chứng đàm thấp và hội chứng rối loạn lipid máu:
Trong nhiều năm qua, nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt ở Trung
Quốc đã đi sâu phân tích, tìm mối liên hệ giữa hội chứng RLLPM của YHHĐ với
các chứng trạng của YHCT. Căn cứ trên các biểu hiện lâm sàng, người ta thấy giữa
hội chứng RLLPM và chứng đàm thấp có một sự tương đồng khá sâu sắc về bệnh
nguyên, bệnh sinh và nguyên tắc trị liệu.
- Bệnh nguyên:
Hội chứng RLLPM phát sinh do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
+ Yếu tố thể chất do tiên thiên quyết định, thường là tiên thiên bất túc. Sách
linh khu thiên: "Thọ yểu cương nhu" viết "con người ta sinh ra có cương có nhu, có
cường có nhược, có nặng có nhẹ, có âm có dương", yếu tố này có thể hiểu tương tự
như nguyên nhân di truyền của YHHĐ.
+ Yếu tố ăn uống (ẩm thực) do ăn quá nhiều các chất cao lương, thức ăn ngọt
béo làm tổn thương tỳ vị, khiến vận hoá thất điều, đàm thấp nội sinh mà dẫn đến
bệnh tật. Yếu tố này tương tự như việc ăn quá nhiều thức ăn giàu mỡ động vật mà
YHHĐ quan niệm.
+ Yếu tố ít vận động thể lực: Sách Tố vấn thiên "tuyên minh ngũ khí luận" viết
"cửu ngọa thương khí, cửu toạ thương nhục" (nằm nhiều hại khí, ngồi nhiều hại cơ
nhục). Thương khí dẫn đến khí hư, thương nhục dẫn đến tỳ hư, tỳ khí hư suy mà
gây ra bệnh.

đến phép tiêu và điều đàm. Theo YHCT, RLLPM là một chứng do nội đàm gây nên
có đặc điểm là "bản hư tiêu thực". Tuỳ theo thế bệnh cấp hay hoãn mà lấy phù chính
làm chủ, khứ tà là phụ, hoặc khứ tà làm chủ, phù chính là phụ hoặc vừa phù chính
vừa khứ tà, tiêu bản đồng trị. Bản hư chủ yếu là tỳ thận hư tổn, tiêu thực chủ yếu là
đàm trọc, huyết ứ. Trị bản phải chú ý bổ tỳ, ích thận, trị tiêu phải chú ý các phép
khứ đàm trừ thấp, thanh lý thông hạ, hoạt huyết hóa ứ [33].
- Các phương pháp điều trị cơ bản: có 9 phương pháp.
+ Hoạt huyết hoá ứ: Tăng cường lưu thông huyết dịch trong mạch máu.
Các vị thường dùng: hồng hoa, xuyên khung, xích thược, đan sâm. Các thành
phẩm thường dùng: Viên tam thất.


23

+ Tư âm dưỡng huyết: dùng độc vị hà thủ ô. Cho những trường hợp: Cơ thể
gầy, lưỡi đỏ, mặt đỏ, hồi hộp, ù tai, mạch tế.
+ Trừ đàm hoá trọc: Những trường hợp: Béo bệu, thích ăn mỡ, ngọt, váng đầu,
tức ngực, khó thở, đoản hơi, tê mỏi tay chân, lưỡi bệu nhớt, mạch huyền hoạt. Phép
chữa là kiện tỳ, hoá đàm, trừ thấp. Dùng bài “Nhị trần thang” hoặc “Bạch kim hoàn”.
+ Thư can bình can: Những trường hợp do công năng sơ tiết của tạng can bị
ảnh hưởng, khí uất trệ làm công năng vận hoá của tỳ bị ảnh hưởng. Phép chữa là
thanh can giải nhiệt thì dùng bài “Thảo quyết minh thang”. Điều lý can tỳ thì dùng
bài “Giảm mỡ thang”.
+ Lợi thuỷ thẩm thấp: Khi công năng của ba tạng tỳ, phế, thận bị rối loạn làm
cho thuỷ dịch ứ đọng ở tam tiêu, lâu ngày thanh trọc bất phân hoá mà thành đàm
sinh bệnh. Dùng bài “Nhân truật thang”.
+ Thanh nhiệt giải độc: Đàm tích đọng lâu ngày hoá nhiệt.
Dùng viên “Cốt khí”, hoặc viên “Đại hoàng”.
+ Ôn kinh thông dương: Dương khí bất túc, hàn tà hợp với đàm thấp làm cho
thuỷ dịch không lưu thông. Phép chữa là ôn kinh thông dưong. Dùng bài “Bảo hoà

nằm ngồi nhiều thì tỳ hư, khí hư mà sinh bệnh.
- Do yếu tố thể chất: thường là tiên thiên bất túc, yếu tố này tương đương với
yếu tố di truyền của Y học hiện đại.
1.2.2.3. Cơ chế bệnh sinh:
Nguyên nhân, cơ chế, bản chất bệnh là phụ thuộc vào bản chất bẩm phụ bất
túc, tình chí thất điều, ẩm thực bất tiết, lục dâm xâm lăng, lao dục thất độ dẫn đến
ngũ tạng nhu nhược, uất lâu ngày hóa hoả, tích nhiệt thương tân, hoả trước tổn âm,
hao tinh thương thận. Cơ chế bệnh có liên quan đến âm tinh hao tổn, tích nhiệt nội
thịnh mà dẫn đến âm hư là chủ yếu. Âm hư là bản, táo nhiệt là tiêu. 2 yếu tố này là
nhân -quả tương hỗ quán xuyến suốt quá trình bệnh tiêu khát. Bản chất bệnh ảnh
hưởng đến nhiều cơ quan tạng phủ (nhưng chủ yếu là tạng phế, vị, thận) tức là
thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu; giữa phế, vị và thận thường cho là thận quan trọng
nhưng đều hỗ tương ảnh hưởng; vì vậy ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, cũng là
tương hỗ với nhau. Tiêu khát lâu ngày thường dẫn đến ứ huyết nội đình, ứ huyết lại
là nguyên nhân bệnh lý trở tắc cơ quan tạng phủ mà dẫn đến khí trệ huyết ứ.
Sự chuyển hoá bình thường của thuỷ dịch trong cơ thể được đảm bảo bởi sự
hoạt động điều hoà của 3 tạng tỳ, phế, thận. Tỳ chuyển hoá thuỷ cốc thành tân dịch
vận chuyển lên phế, phế tiếp thu thuỷ dịch chuyển xuống thận, thận chưng hoá khai


25

hợp chuyển phần thanh lên phế, phần trọc ra nước tiểu. Sự phân thanh, giáng trọc
của tân dịch và sự bài tiết của thuỷ dịch là mấu chốt quan trọng để duy trì sự thăng
bằng của thuỷ dịch trong cơ thể.
- Phế: Phế chủ khí, phế tuyên thông thì khí bình thường điều tiết quản lý tân
dịch, cái tinh hoa trong tân dịch phế điều tiết được. Ngược lại, nếu phế khí trái
thường thì không thể điều tiết quản lý tân dịch, cái tinh hoa trong tân dịch là do mất
sự quản lý mà theo tiểu tiện bài tiết ra ngoài cơ thể, vì thế mà phát sinh chứng tiêu
khát. Sách "Bản thảo cương mục" viết: "Phế chứa khí, phế không bệnh thì có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status