LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, công tác thông tin nói chung và thông tin thư viện nói
riêng có một tầm quan trọng đặc biệt và ảnh hưởng sâu sắc tới mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Sự phát triển giao lưu văn hóa,
thông tin khoa học kĩ thuật nhất là việc khai thác hiệu quả thông tin đã trở thành một
trong những nhân tố quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của bất kì
một quốc gia nào. Do sự phát triển của công nghệ, kiến thức của con người được bảo
quản lâu dài và được truyền bá một cách nhanh chóng, thông tin được cập nhật không
ngừng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng. Tuy nhiên, nhu cầu tin
của giáo viên và học sinh trường tiểu học Diên Hồng chưa được đáp ứng một cách kịp
thời, thỏa mãn. Do một số yếu tố như: Nhiều bạn đọc còn thờ ơ với việc đọc, chưa tự
giác trong việc tự học, tự nghiên cứu; Nguồn lực thông tin và các trang thiết bị liên
quan tới việc đọc cũng như các dịch vụ của thư viện còn hạn chế, chưa tạo động lực đề
thu hút bạn đọc đến thư viện, điều này cũng ít nhiều ảnh hưởng đến nhu cầu hứng thú
đọc của giáo viên và học sinh trong quá trình tham gia sử dụng thư viện.
Đó là lí do tôi chọn đề tài “Đáp ứng nhu cầu tin phục vụ giảng dạy và học tập
tại Thư viện Trường tiểu học Diên Hồng - Đồng Nai”.
1
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ NHU CẦU TIN
1. Các khái niệm:
1.1. Nhu cầu
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn,
nguyện vọng của con người về vật chấtvà tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo
trình độ, nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có
những nhu cầu khác nhau; Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người
muốn có kết quả tốt đẹp cũng cần phải có thông tin; xã hội càng phát triển thì nhu cầu
tin của con người càng trở nên sâu sắc và phức tạp, trong xã hội ngày nay đang tiến
dần đến xã hội kinh tế tri thức, đòi hỏi sự thoả mãn thông tin ngày càng nhiều và sâu
sắc hơn.
Nhu cầu tin xuất hiện và phát triển dưới ảnh hưởng của các nhân tố xã hội
trong đó nổi bật là các yếu tố:Điều kiện văn hóa, điều kiện kinh tế và điều kiện xã hội
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển nhu cầu tin
* Môi trường xã hội là những điều kiện vật chất và tinh thần của xã hội được tạo
lập xung quanh con người, chi phối đời sống con người, bảo đảm sự tồn tại và phát
triển của người đó. Với ý nghĩa ở tầm vĩ mô, môi trường xã hội là cả một hệ thống
kinh tế - xã hội trong tính tổng thể của nó. Đó là các lực lượng sản xuất, các quan hệ
xã hội, các thiết chế xã hội, ý thức xã hội và văn hoá. Với ý nghĩa ở tầm vi mô, môi
trường xã hội bao gồm gia đình, các nhóm, các tập thể học tập, lao động, các tập
đoàn, ... tồn tại xung quanh con người với các quá trình hoạt động giao tiếp của nó.
3
Môi trường xã hội có tác động quyết định đối với sự hình thành và phát triển của
nhân cách. Cùng với hoạt động và nhu cầu của con người, môi trường xã hội cũng là
một quá trình biến đổi và như vậy cá nhân cũng biến đổi theo, tác động vào môi
trường xã hội, con người cũng đồng thời thay đổi cả chính bản thân mình.
Môi trường xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhu cầu tin,
đời sống văn hóa tinh thần phong phú là tiền đề cho nhu cầu tin phát triển
Một xã hội hội hiện đại, với một phương thức lao động tiên tiến yêu cầu con
người phải có những kĩ năng phù hợp để làm chủ các phương tiện máy móc hiện đại
cũng đòi hỏi con người phải tiếp cận tới thông tin nhiều hơn, qua đó cũng là tiền đề
để nhu cầu tin phát triển
* Nghề nghiệp lao động là hoạt động chủ đạo trong một giai đoạn rất dài của
cuộc đời con người và có ảnh hưởng to lớn đến đời sống tinh thần của con người.
* Mức độ và phương thức thỏa mãn nhu cầu tin cũng khiến cho nhu cầu tin
xuất hiện dưới dạng cao hơn, khi nhu cầu tin được đáp ứng sẽ nảy sinh nhu cầu mới,
mặt khác nếu nhu cầu không được đáp ứng trong một thời gian dài, nhu cầu sẽ bị
thoái hóa và triệt tiêu.
2. Vai trò của việc nghiên cứu nhu cầu tin trong hoạt động thông tin – thư
viện
Trong mọi hoạt động của các cơ quan thông tin- thư viện đều hướng tới người
dùng tin, cụ thể là khả năng đáp ứng nhu cầu tin tối đa cho người dùng tin. Chính vì
vậy việc làm rõ nhu cầu và yêu cầu thông tin là một trong những nhiệm vụ trọng yếu
của các cơ quan thông tin- thư viện để qua đó thư viện có những định hướng phù hợp
trong mọi hoạt động chuyên môn nghiệp vụ: bổ sung phát triển nguồn lực thông tin;
cung cấp những sản phẩm, dịch vụ và tư vấn thông tin phù hợp với chức năng nhiệm
vụ của thư viện cũng như thói quen và nhu cầu sử dụng của người dùng tin.
3. Phân nhóm người dùng tin tại các thư viện trường học
Đặc trưng của Thư viện trường học là cung cấp thông tin cho cán bộ quản lý,
giáo viên, công nhân viên và học sinh. Mỗi một đối tượng có một nhu cầu tin khác
nhau.
- Cán bộ quản lý:
5
Hoạt động của người lãnh đạo mang tính định hướng, gây ảnh hưởng, tạo dựng
niềm tin, thuyết phục người khác để họ đồng thuận với người lãnh đạo thực hiện
đường lối, chủ trương hướng tới mục tiêu nào đó. Lãnh đạo tạo hiệu ứng điều khiển,
dẫn dắt người khác dựa trên cơ chế nhận thức, niềm tin, tiêu chuẩn đạo đức, lý
tưởng… mà không mang tính cưỡng bức. Nhất là trong một chế độ dân chủ hiện nay
yêu cầu người lãnh đạo phải chủ động, linh hoạt và kịp thời trong quản lý, phải có
khả năng tính toán tình trạng thay đổi cho kịp thời, sử dụng có hiệu quả các tiềm
năng, cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu tối ưu, ra các quyết định, quyết sách
nhân cách, vừa phải nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề để có đủ
năng lực tham gia trực tiếp vào việc đào tạo nguồn nhân lực cho quốc gia.
Như vậy, người thầy không những là người giỏi về chuyên môn mà còn phải là
người có năng lực sư phạm, có khả năng hiểu biết sâu rộng và có khả năng cập nhật
được những thay đổi nhanh chóng về khoa học, công nghệ. Ngoài ra người thầy cũng
phải là người có khả năng thích ứng với những thay đổi trong ngành nghề và xã hội.
Có như vậy thì người thầy mới có thể phát huy được hiệu quả nhất vai trò và ảnh
hưởng của mình trong quá trình dạy học… nên nhu cầu tin của họ mang tính chuyên
sâu và bền vững.
- Học sinh:
Người dùng tin là học sinh chiếm tỷ lệ rất lớn tại các Thư viện trường phổ
thông, với nhiệm vụ trọng tâm là học nên nhu cầu chủ yếu là các thông tin bổ trợ cho
các môn học, ngoài ra các em cũng có nhu cầu tin về các lĩnh vực giải trí, mở rộng
kiến thức về thế giới tự nhiên và xã hội, ngoài ra đây cũng là lứa tuổi dễ tiếp cận và
đổi thay theo xu hướng đám đông nên nhu cầu tin thường thay đổi và không bền
vững
3. Nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin tại thư viện:
Trong hoạt động Thư viện – thông tin, người dùng tin là yếu tố cơ bản của mọi
hệ thống thông tin. Đó là đối tượng phục vụ của công tác thông tin tư liệu. Người
dùng tin vừa là khách hàng của các dịch vụ thông tin, đồng thời họ cũng là người sản
sinh ra thông tin mới. Thư viện cần phải nghiên cứu nhu cầu tin của họ để kịp thời
đáp ứng thông tin họ cần. Ngoài ra, Thư viện tiến hành ứng dụng các sản phẩm và
dịch vụ thông tin vào hoạt động của mình để nâng cao chất lượng phục vụ cho giáo
7
viên và học sinh. Đối với học sinh, sách là người bạn đồng hành trên con đường
chiếm lĩnh tri thức. Học sinh đọc sách để biết, để biến lý luận thành thực tiễn, biến
những kiến thức từ sách vở trở thành hiện thực trong đời sống, từ đó làm giàu vốn
hiểu biết cũng như những kinh nghiệm cho bản thân. Cán bộ thư viện định hướng cho
nhóm, nghe nhận xét của những người khác và trả lời câu hỏi. Một người sẽ ghi biên
bản cho cả nhóm – Người được phỏng vấn không tự hoàn thành câu hỏi phỏng vấn.
Đây là phương pháp nghiên cứu xã hội học nhưng được áp dụng phổ biến
trong nhiều lĩnh vực trong đó có thư viện học
Để đảm bảo thu được thông tin chuẩn xác, phong phú cần tổ chức điều tra
đúng quy trình và đảm bảo tính khoa học, hợp lý trong từng khâu: Thiết kế bảng hỏi,
chọn mẫu điều tra và xử lý kết quả điều tra
Ưu điểm của phương pháp này là nhanh chóng thu được thông tin phản hồi trên
diện rộng, thông tin đa diện, chi phí công sức và thời gian thấp, thông tin phong phú
Nhược điểm cơ bản của phương pháp này là tính một chiều của thông tin, tính
hình thức của thông tin do người trả lời không muốn bộc lộ quan điểm, kết quả thiếu
chính xác nếu không tuân thủ trình tự một cách nghiêm ngặt, khách quan
* Phỏng vấn Đây là một phương pháp thu thập thông tin dựa trên cơ sở quá
trình giao tiếp bằng lời nói có tính đến mục đích đặt ra. Trong cuộc phỏng vấn, người
phỏng vấn nêu những câu hỏi theo một chương trình được định sẵn dựa trên những
cơ sở luật số lớn của toán học. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi và hiệu quả
trong việc điều tra ý kiến phản hồi của người dùng tin về hiệu quả hoạt động của thư
viện. Hiệu quả phỏng vấn phụ thuộc vào trình độ hiểu biết về tâm lý đối tượng được
phỏng vấn, kỹ năng giao tiếp của người tiến hành phỏng vấn
Thông qua cuộc phỏng vấn, người phỏng vấn có thể giải thích cho người được phỏng
vấn về mục đích cuộc phỏng vấn, nội dung các câu hỏi..qua đó nâng cao được tinh
thần sẵn sàng trả lời được chính xác của người được phỏng vấn giúp cho chức năng
của các câu hỏi kiểm tra có tác dụng tốt hơn, bên cạnh đó người phỏng vấn có khả
năng tạo thêm hàng loạt những thông tin bổ sung quan trọng để đánh giá đối tượng
khảo sát.
Tuy nhiên với một thời gian nhất định, người phỏng vấn chỉ có thể phỏng vấn
một số lượng hạn chế những người điều tra. Khi số lượng người được phỏng vấn tăng
lên, chi phí sẽ tăng lên và thời gian sẽ bị kéo dài ra.
9
10
công nhân ở các tỉnh thành tập trung về đây rất nhiều. Đồng thời, người dân ở đây
theo đạo Công giáo là phần lớn (98%). Đội ngũ giáo viên trẻ của trường nhiệt tình,
hăng say học hỏi để trau dồi kiến thức phục vụ cho công tác giảng dạy. Trường có 01
giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp Quốc gia, 04 giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, 12 giáo
viên là giáo viên dạy giỏi cấp huyện và 28 giáo viên dạy giỏi cấp trường.
Trong những năm qua, trường tiểu học Diên Hồng luôn đạt được nhiều thành
tích trong các phong trào thi đua hoạt động cũng như học tập như: Vở sạch chữ đẹp,
Olympic Tiếng Anh, năng khiếu môn Toán, năng khiếu môn Văn. Trường luôn đạt
nhiều danh hiệu là trường xuất sắc hàng năm. Đặc biệt, năm học 2011 – 2012 Trường
vinh dự đạt danh hiệu trường xuất sắc cấp tỉnh.
Trường có nhiệm vụ giảng dạy văn hoá và giáo dục học sinh bậc tiểu học trên
địa bàn trở thành công dân có ích cho xã hội trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện
đại hóa đất nước.
Về quy mô, hiện nay trường có 100% cán bộ, giáo viên đạt trình độ chuyên
môn chuẩn và trên chuẩn. Trường có 80 CB, GV – CNV và 57 lớp với 2084 học sinh,
có đủ điều kiện cơ sở vật chất phục vụ hoạt động dạy và học, có một số phòng chức
năng và đủ công trình phụ đáp ứng nhu cầu hoạt động và sinh hoạt của học sinh.
Thực hiện theo quyết định số 37/ QĐTC của giám đốc sở Giáo dục và Đào tạo
Đồng Nai quy định tổ chức bộ máy của nhà trường gồm có :
* Ban giám hiệu: 01 hiệu trưởng, 02 hiệu phó
* Các tổ khối chuyên môn: Tổ khối 1, Tổ khối 2, Tổ khối 3, Tổ khối 4, Tổ khối
5 và tổ Hành chính.
Trường có nhiệm vụ giáo dục và đào tạo học sinh cấp tiểu học từ lớp 1 đến lớp
5. Quyền hạn của trường là tổ chức quản lý, giảng dạy, học tập của giáo viên và học
sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo .
2. Thư viện Trường tiểu học Diên Hồng
dàng, nhanh chóng.
Với nhiệm vụ trọng yếu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tăng
cường quy hoạch và xây dựng Thư viện đạt chuẩn, Nhà trường đã có nhiều biện pháp
đồng bộ, tích cực để thực hiện nhiệm vụ. Hàng năm trường đã bổ sung mua sắm đầu
tư cơ sở vật chất như: mua giá để sách, tài liệu, bố trí nhân viên phụ trách quản lý, tạo
điều kiện cho cán bộ, giáo viên và học sinh tìm hiểu khai thác, sử dụng sách và tài
12
liệu Thư viện. Xây dựng các quy định nề nếp, tăng cường hiệu quả việc khai thác Thư
viện. Nhờ có sự đầu tư đúng hướng, cùng với sự nỗ lực của cán bộ thư viện tháng 1
năm 2006 thư viện đã được công nhận là thư viện đạt chuẩn theo tiêu chí của ngành
Giáo dục và đang từng bước hoàn thiện để phấn đấu đạt thư viện xuất sắc năm 2015.
2.2. Cơ cấu tổ chức
Thực hiện theo Quy chế về tổ chức và hoạt động thư viện trường phổ thông
ban hành kèm theo Quyết định số 61/1998/QĐ – BGD&ĐT ngày 06 tháng 11 năm
1998 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo, Hiệu trưởng đã ra quyết định thành lập
Tổ công tác thư viện do phó Hiệu trưởng trực tiếp làm tổ trưởng.
SƠ ĐỒ TỔ CÔNG TÁC THƯ VIỆN
TỔ TRƯỞNG
(Phó Hiệu trưởng)
TỔ PHÓ
(Cán bộ Thư viện)
Các thành viên
13
trang thiết bị nhưng việc bố trí chúng không khoa học, không phù hợp thì cũng sẽ làm
giảm tác dụng bảo quản và phục vụ tài liệu.
Thư viện trường tiểu học Diên Hồng được bố trí trong một phòng có diện tích
54m2 ở tòa nhà 3 tầng nằm ngay trung tâm để thuận lợi cho việc đọc và mượn sách,
báo của giáo viên, học sinh, cán bộ quản lý giáo dục. Về trang thiết bị, thư viện gồm
có: 02 kệ để đựng sách giáo khoa và sách thiếu nhi; 04 tủ đựng sách tham khảo, đựng
báo – tạp chí, sách pháp luật, sách Lịch sử Việt Nam và sách Đạo đức. Ngoài ra, còn
có 02 tủ để làm tủ sách di động phục vụ học sinh vào giờ ra chơi.
Thư viện được trang bị một số máy móc, trang thiết bị như:
Thiết bị chiếu sáng: 08 bóng đèn huỳnh quang
Thiết bị làm mát: 02 quạt trần
14
Thiết bị an ninh: 02 bình chữa cháy
Thiết bị sao chụp: 01 máy photocopy
01 máy vi tính nối mạng
01 máy in
2.4. Nguồn lực thông tin
Nguồn lực thông tin là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu
quả hoạt động của thư viện. Chính vì vậy, Thư viện đã chú trọng rất nhiều đến việc
xây dựng nguồn lực thông tin cho thư viện và bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu của
đông đảo người dùng tin.
* Số lượng:
Nguồn lực thông tin hiện có của thư viện:
- Dạng sách: 7506 bản sách
Sách giáo khoa: 1702 bản
Sách giáo viên: 1142 bản
Sách văn học thiếu nhi: 2446 bản
học nên trình độ người dùng tin tại trường cũng ngày được nâng cao. Hiện tại trường
có 80 cán bộ giáo viên, công nhân viên trong đó có 73 cán bộ, giáo viên và 7 công
nhân viên. Trong những năm gần đây, trình độ học vấn của giáo viên trường được
nâng cao. Số cán bộ, giáo viên có trình độ đại học là 36, cao đẳng là 22, trung cấp là
18, trình độ khác là 4.
Trình độ học vấn của người dùng tin là cán bộ- giáo viên
Trình độ
Đại học
Cao đẳng
Trung cấp
Khác
Số lượng
36
22
18
4
Tỷ lệ (%)
45%
27,5%
22,5%
5%
16
Người dùng tin tại thư viện Trường tiểu học Diên Hồng đa số đều có trình độ
đại học. Họ là những người gắn bó lâu năm với nghề, có thành tích nhất định trong
công tác và đời sống kinh tế khá ổn định điều này cũng ảnh hưởng rất lớn đến nhu
26,2
37,1
32,5
CB – GV CNV
25 - 35
33
1,7
35 - 45
45 - 55
Trên 55
34
13
0
1,8
0,7
0
* Người dùng tin là học sinh: Lứa tuổi từ 6- 10 tuổi
- Giai đoạn 6 tuổi (lứa tuổi lớp 1)
Đây là giai đoạn thời kì đầu tuổi đi học (từ 6 đến 11 tuổi) là độ tuổi nhi đồng hay
học sinh tiểu học: ở thời kì này hoạt động chủ đạo là học tập và vui chơi
Đây là lứa tuổi thay thế dần từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập và hoạt
Tình cảm của các em thường dễ xúc động chưa biết kìm hãm và tình cảm
thuờng quyến luyến trong gia đình, thầy cô, bạn bè ở lớp.
Bước đầu các em có nhu cầu đọc sách, nhưng chủ yếu vẫn là những truyện
tranh, truyện cổ tích ngắn.
- Giai đoạn 9 – 10 tuổi (lứa tuổi lớp 4 và 5)
Các em thích đọc sách về các cuộc phiêu lưu, mạo hiểm, các sách về khám phá
thiên nhiên, thích đọc truyện tranh, truyện các thiếu niên anh hùng, truyện lịch sử, cổ
tích và báo nhi đồng, măng non…
19
Các em tiếp thu sách bằng trực giác nhưng đã hiểu nội dung tư tưởng của sách
và biết biểu lộ thái độ của mình đối với sách, có những học sinh lớp 5 đã biết quan
tâm tới lịch sử của đất nước, tiểu sử của các nhân vật nổi tiếng, một số lại muốn đọc
truyện khoa học viễn tưởng. Ở tuổi này, các em đã hình thành tính tập thể, dễ dàng
tiếp xúc với người lớn, muốn được mọi người tin cậy và được gánh vác trách nhiệm
chung. Vì vậy, cán bộ thư viện lưu ý đặc điểm đó để thu hút các em vào các hoạt
động của thư viện.
Ở lứa tuổi thiếu nhi các em có quá ít kinh nghiệm sống nên sự nhận thức của
các em còn quá non nớt, sự phân biệt giữa điều tốt – xấu còn ở mức độ thấp. Vào độ
tuổi này, sách đối với các em như con dao hai lưỡi, nó có thể xây dựng tư tưởng, đạo
đức, giáo dục những phẩm chất tốt mà cũng có thể làm cho các em có những nhận
thức, những đánh giá sai lệch về nhiều vấn đề vì các em chưa có sự tiếp xúc xã hội,
phạm vi hoạt động của các em còn quá hạn hẹp nên chưa định hình được những điều
xảy ra xung quanh mình… đôi khi do tác động của môi trường xã hội không lành
mạnh, ở các em manh nha có những biểu hiện của thói hư, tật xấu. Lúc này, thư viện
cần phải định hướng cho các em đọc những tài liệu có nội dung trong sáng, lành
mạnh để góp phần uốn nắn nhân cách cho trẻ theo hướng phát triển tích cực, toàn
diện.
phong phú đầy đủ các môn loại; CBTV phải nắm bắt được các đặc điểm và nhu cầu
đọc của từng lứa tuổi thì hoạt động của thư viện mới có hiệu quả.
* Người dùng tin là cán bộ- giáo viên trong trường: Độ tuổi từ 25- 55 tuổi
Giai đoạn 25 – 35: Chiếm 42,5% trong tổng số cán bộ, giáo viên và công nhân
viên trong toàn trường. Họ là đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình trong mọi hoạt động
của nhà trường. Ngoài những tài liệu chuyên môn theo lớp dạy, họ còn thường tìm
đọc các tác phẩm văn học, tài liệu về công nghệ thông tin, tài liệu về nữ công gia
chánh… nhằm giúp nâng cao kiến thức về chuyên môn cũng như nâng cao kiến thức
để hoàn thiện mình hơn trong cuộc sống.
- Giai đoạn 35 – 45 tuổi: cũng là lứa tuổi chiếm rất lớn (34/80 CBGV – CNV).
Đây là lứa tuổi đã có công việc và gia đình ổn định, việc chuyên tâm đến nghiệp vụ là
việc đương nhiên nên mức độ sử dụng thông tin có sự chọn lựa nghiêm túc, thích sử
dụng các thông tin đã được xử lí (thư mục) để lựa chọn thông tin phù hợp vì thế nhu
cầu tài liệu của họ cũng rất phong phú. Đây cũng là lứa tuổi có trình độ chuyên môn
21
cao, lứa tuổi đang sung sức để cống hiến những thành quả lao động, nghiên cứu khoa
học cho xã hội, những người có địa vị trong xã hội nên nhu cầu tin của họ ổn định
hơn các lứa tuổi khác.
- Giai đoạn 45 – 55 tuổi:
Ở lứa tuổi này ngày càng có sự suy giảm về sức khỏe, tuy nhiên họ là những
người có bề dày kinh nghiệm được tích lũy trong công việc và cuộc sống nên nhu cầu
tin của họ có chiều sâu và ổn định.
3.3 Nhu cầu tin của người dùng tin tại Thư viện trường tiểu học Diên Hồng
Nhu cầu về nội dung thông tin tài liệu
Nội dung thông tin là thành phần cơ bản nhất khi tìm hiểu nhu cầu tin của
người dùng tin, thông qua việc tìm hiểu các nội dung lĩnh vực bạn đọc thường quan
tâm, thư viện có chính sách bổ sung vốn tài liệu phù hợp với nhu cầu của bạn đọc.
lượng
26
14
9
53
100
41
22
Tỷ lệ
10,7%
5,8%
3,7%
21,8%
41,1%
16,9%
Giáo viên
Số lượng
42
78
39
59
64
61
Tỷ lệ
12,2%
22,8%
thông tin bên cạnh những tài liệu truyền thống dạng sách còn có rất nhiều loại hình
tài liệu phi truyền thống (tài liệu điện tử) với những công năng không thể chối cãi:
gọn nhẹ, dung lượng lớn, tiết kiệm diện tích kho chứa, truy cập dễ …tuy nhiên,
những loại hình tài liệu này thường có giá thành cao, phụ thuộc vào phương tiện
truyền tải và chế độ bảo quản đặc biệt nên thư viện ít bổ sung, đa phần là đĩa CD,
DVD được bán kèm theo sách nên người dùng tin chưa có thói quen sử dụng loại
hình tài liệu này.
Thông qua cuộc khảo sát, điều tra hoạt động đọc của giáo viên trường tiểu học
Diên Hồng với câu hỏi loại hình tài liệu nào tại thư viện mà anh chị thường sử dụng
cho hoạt động đọc nhiều nhất thì nhận được kết quả như sau:
Nhu cầu về loại hình tài liệu
STT
Loại hình tài liệu
Số phiếu
Tỷ lệ %
1
2
3
Sách
Báo – tạp chí
Các loại hình khác
49
18
Mức độ/tuần
1– 2 lần
2– 3 lần
3– 4 lần
Trên 5 lần
Tổng số
Học sinh
Số lượng Tỷ lệ
24
38
30
8
100
24%
38%
30%
8%
100%
Giáo viên
Số lượng Tỷ lệ
8
31
25
16
80
25