Ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm phát triển sự khéo léo cho học sinh khối 10 trường THPT Mỹ Hào - Hưng Yên - Pdf 47

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

PHẠM THỊ DUYÊN

ỨNG DỤNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI VẬN
ĐỘNG NHẰM PHÁT TRIỂN SỰ KHÉO
LÉO CHO HỌC SINH KHỐI 10
TRƢỜNG THPT MỸ HÀO - HƢNG YÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI
HỌC

HÀ NỘI, 2012


PHẠM THỊ DUYÊN

ỨNG DỤNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI VẬN
ĐỘNG NHẰM PHÁT TRIỂN SỰ KHÉO
LÉO CHO HỌC SINH KHỐI 10
TRƢỜNG THPT MỸ HÀO - HƢNG YÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: CNKHSP TDTT GDQP
Hƣớng dẫn khoa học

TH.S HÀ MINH DỊU

HÀ NỘI, 2012


LỜI CAM ĐOAN

QN

Quãng nghỉ

STT

Số thứ tự

TCVĐ

Trò chơi vận động

TDTT

Thể dục thể thao

TG

Thời gian

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

ĐC


Bảng 3.5. Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của hai nhóm đối

32

chứng và thực nghiệm
Bảng 3.6. Tiến trình thực nghiệm giảng dạy TCVĐ trong 6 tuần

34

cho học sinh khối 10 trường THPT Mỹ Hào - Hưng Yên.
Bảng 3.7. Kết quả kiểm tra sau thực thực nghiệm của 2 nhóm

35

đối chứng và thực nghiệm
Biểu đồ 3.1: Thành tích chạy díc dắc 20m của hai nhóm trước và

36

sau thực nghiệm.
Biểu đồ 3.2: Thành tích dẫn bóng bằng tay luồn cọc 20m của

37

hai nhóm trước và sau thực nghiệm
Biểu đồ 3.3: Thành tích đập cầu lông vào ô qui định của hai nhóm
trước và sau thực nghiệm

37


TCVĐ
12
1.3.1. Khái niệm, đặc diểm
cách thức phân loại trò
chơi vận động
12


1.3.2. Trò chơi vận động với các tố chất thể
lực nói chung và14
tố chất khéo léo nói riêng
1.3.3. Một số hạn chế khi áp dụng một số trò
chơi vận động 14
CHƢƠNG 2: NHIỆM VỤ, PHƢƠNG
PHÁP VÀ TỔ CHỨC
16
NGHIÊN CỨU
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu

16

2.2. Phương pháp nghiên cứu16
2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài
liệu16
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
17
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm

17


3.1. Thực trạng công tác GDTC tại trường cho học sinh khối

21

10 trường THPT Mỹ Hào - Hưng Yên
3.1.1. Thực trạng công tác GDTC cho học sinh khối 10 trường

21

THPT Mỹ Hào Hưng Yên
3.1.2. Đánh giá thực trạng năng lực khéo léo của học sinh khối

21

10 trường THPT Mỹ Hào - Hưng Yên.
3.2. Lựa chọn và đánh giá hiệu quả một số TCVĐ nhằm phát

25

triển sự khéo léo cho học sinh khối 10 trường THPT Mỹ Hào
- Hưng Yên
3.2.1. Cơ sở để lựa chọn một số trò chơi vận động nhằm phát

25

triển sự khéo léo cho học sinh lớp 10 trường THPT Mỹ Hào
- Hưng Yên
3.2.2. Đánh giá hiệu quả các TCVĐ ứng dụng trong giảng dạy

25

chất tốt đẹp của con người.
Để có một thế hệ chủ nhân hùng mạnh có khả năng xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc thì việc giáo dục thể chất cho học sinh là điều rất cần thiết mà xã hội
đang rất quan tâm. GDTC tác động để hình thành cho người học những phẩm
chất tốt đẹp, tạo cho họ một sức khỏe tốt để sống hạnh phúc và tham gia vào
cuộc sống học tập và lao động với hiệu quả cao
Như Bác Hồ đã từng nói: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây
đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công. Mỗi người dân
yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi người dân khỏe mạnh là


góp phần làm cho đất nước mạnh khỏe ...”. Như vậy, giáo dục thể chất có liên
quan tới tất cả các mặt của giáo dục bởi vì sức khỏe là vốn quý nhất của con
người, có sức khỏe tốt thì con người mới học tập tốt, lao động tốt, ham thích
sáng tạo cái đẹp. Đất nước ta ngay từ khi mới giành được độc lập, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã là người đi tiên phong trong xây dựng phong trào TDTT để
giữ gìn nền độc lập và phát triển đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng
của sức khỏe đối với mọi người trong đó có học sinh, Đảng và Nhà nước ta đã
chủ trương đưa môn học Thể dục vào trong nhà trường ngay từ những ngày
đầu, luôn quan tâm tới mục tiêu đào tạo con người phát triển toàn diện về đức,
trí, thể, mỹ cho thế hệ tương lai của đất nước.
Tại Nghị quyết Trung ương (TW) 2, khóa VIII của Đảng cũng từng nêu:
Cần phải đào tạo những con người mới "...Phát triển cao về trí tuệ, cường
tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức, phong phú về tinh thần..." [3] để có
đủ năng lực làm mọi việc, vượt qua mọi thử thách đưa đất nước đi lên.
Muốn tạo ra những con người mới như chúng ta vừa đề cập, chỉ có các
chính sách đúng đắn thôi thì chưa đủ mà phải có sự chung tay, góp sức của
gia đình, nhà trường và toàn xã hội.
Trong đề tài này, tác giả chỉ đề cập đến vấn đề nâng cao sức khỏe, phát
triển thể lực, hoàn thiện từng bước hình thái và chức năng cho các em học



CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi THPT
1.1.1. Đặc điểm tâm lí
* Đặc điểm tâm lí chung
Về mặt tâm lí các em thích chứng tỏ mình là người lớn, muốn để cho
mọi người tôn trọng mình, đã có một trình độ nhất định, có khả năng phân
tích tổng hợp, muốn hiểu biết, có hoài bão nhưng còn nhiều nhược điểm và
thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống. Tuổi này, chủ yếu là tuổi hình thành thế
giới quan, tự ý thức và hướng tới tương lai, là tuổi đầy nhu cầu sáng tạo, nảy
nở những tình cảm mới. Đó cũng là tuổi có những ước mơ độc đáo và mong
cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
* Đặc điểm tâm lí học tập
Hoạt động học tập của học sinh THPT đòi hỏi tính năng động, tính độc
lập ở mức độ cao hơn nhiều so với học sinh THCS. Đồng thời cũng đòi hỏi
phát triển tư duy lí luận để nắm vững nội dung một cách sâu sắc.
Ở lứa tuổi này các em đã biết cách ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính
tư duy lô gic, tính chặt chẽ, hiểu được vấn đề cần học tập. Do đặc điểm của trí
nhớ đối với lứa tuổi học sinh THPT khá tốt nên giáo viên có thể sử dụng
phương pháp trực quan, kết hợp giảng giải sâu sắc các chi tiết, kĩ thuật động
tác, giúp các em hiểu được vai trò, ý nghĩa của GDTC để các em có thể tự tập
luyện một cách độc lập trong thời gian nhàn rỗi.
Các phẩm chất ý chí rõ ràng hơn và mãnh mẽ hơn các lứa tuổi trước
đó. Các em có thể hoàn thành những bài tập khó và đòi hỏi sự cố gắng lớn
trong tập luyện.


1.1.2. Đặc điểm sinh lí

đối yếu. Các cơ bắp lớn phát triển tương đối nhanh (cơ đùi, cơ cánh tay)
còn các cơ nhỏ, cơ bàn tay phát triển chậm hơn. Các cơ co phát triển sớn hơn
các cơ duỗi, các cơ duỗi của nữ lại càng yếu. Đặc biệt, tuổi 16 các tổ
chức mỡ dưới da phát triển nhanh - mạnh. Nói chung, cuối thời kỳ học sinh
THCS và đầu thời kỳ học sinh THPT thường nữ 13 đến 15 tuổi là thời kỳ cơ
bắp phát triển mạnh nhất, đối với nam lực cơ phát triển mạnh nhất ở tuổi 16
Do những đặc điểm kể trên nên các trò chơi phải đảm bảo nguyên tắc vừa
sức, đảm bảo cho tất cả các loại cơ to nhỏ đều được phát triển.
* Hệ tuần hoàn: Hệ tuần hoàn của học sinh THPT đang phát triển và đi đến
hoàn thiện. Buồng tim phát triển tương đối hoàn chỉnh, mạch đập của
nam vào khoảng 70 đến 80 nhịp/phút, nữ 75 đến 85 nhịp/phút. Hệ thống điều
hòa vận động mạch phát triển tương đối hoàn chỉnh. Phản ứng của hệ tuần
hoàn trong vận động mạch tương đối phát triển và huyết áp phục hồi nhanh
chóng. Khi sử dụng các trò chơi vận động có khối lượng và cường độ vận
động lớn cần phải thận trọng và thường xuyên kiểm tra, theo dõi sức khỏe của
học sinh, tránh để các em ham chơi quá sức dẫn đến mệt mỏi.
* Hệ hô hấp: Đã phát triển và tương đối hoàn thiện, vòng ngực trung bình
của nam từ 67 đến 72cm, nữ từ 69 đến 74cm, gần bằng tuổi trưởng
thành. Dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng từ lúc 15 tuổi là 2 đến 2,5 lít
đến 16 - 18 tuổi là 3 đến 4 lít. Tần số hô hấp giống như người lớn, 10 đến 20
lần/phút. Tuy nhiên các cơ vẫn còn yếu, nên sự co giãn của lồng ngực nhỏ,
chủ yếu là co giãn cơ hoành, trong tập luyện cần thở sâu và chú ý thở bằng
ngực.
Từ sự nghiên cứu, tìm tòi dựa trên cơ sở lí luận và thực tế, nhận thức
được vai trò to lớn của GDTC, theo sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về
công tác GDTC đối với học sinh, trong quá trình giảng dạy chúng tôi đã lựa
chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm phát triển sự khéo léo cho
học sinh khối 10 trường THPT Mỹ Hào, góp phần nâng cao chất lượng công



Năng lực này được xác định trước hết thông qua các quá trình điều khiển và
được học sinh hình thành và phát triển trong tập luyện. Năng lực phối hợp vận
động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lí và năng lực khác như sức
mạnh, sức nhanh, sức bền...
Căn cứ vào đặc điểm các loại hoạt động thể thao và yêu cầu riêng của
chúng về sự khéo léo, người ta phân thành bảy loại:
Năng lực liên kết vận động là năng lực liên kết các hoạt động của từng
bộ phận cơ thể, các phần của động tác trong mối quan hệ với hoạt động chung
của cơ thể theo mục đích hành động nhất định. Nó thể hiện sự kết hợp các yếu
tố về không gian, thời gian và dùng sức trong quá trình vận động.
Năng lực định hướng là năng lực xác định sự thay đổi tư thế và hoạt
động của cơ thể trong không gian và thời gian: Trên sân thi đấu, trên dụng cụ...
Năng lực thăng bằng là năng lực ổn định trạng thái thăng bằng của cơ
thể (thăng bằng tĩnh) hoặc duy trì và khôi phục nó trong và sau khi thực hiện
động tác (thăng bằng động).
Năng lực nhịp điệu là năng lực nhận biết được sự luân chuyển của các
đặc tính chuyển động trong quá trình một động tác hoặc thể hiện nó trong khi
thực hiện động tác.
Năng lực phản ứng là năng lực dẫn truyền nhanh chóng và thực hiện
các phản ứng vận động một cách hợp lí và thời gian ngắn nhất đối với một tín
hiệu (đơn giản hoặc phức tạp).
Năng lực phân biệt vận động là năng lực thực hiện động tác một cách
chính xác cao và tinh tế từng hoạt động riêng lẻ, từng giai đoạn của quá trình
đó.
Năng lực này thể hiện ở sự phân biệt có ý thức và chính xác các thông
số thời gian, không gian và dùng sức trong hoạt động vận động của người tập.
Năng lực thích ứng vận động là năng lực chuyển chương trình hành
động phù hợp với tình huống mới hoặc tiếp tục thực hiện hành động đó theo



việc học và hoàn thiện các bài tập được chọn lựa làm phương tiện để phát
triển năng lực này.
Ngoài ra có thể sử dụng các bài tập tâm lí (mentales training) để phát
triển năng lực xử lí thông tin và nhanh chóng hình thành các biểu tượng vận
động theo nhiệm vụ đặt ra.
- Các bài tập được sử dụng làm phương tiện phát triển sự khéo léo cần
yêu cầu học sinh thực hiện chính xác và thường xuyên phải kiểm tra tính
chính xác của bài tập một cách có ý thức.
Năng lực tri giác và điều khiển các hành động vận động được phản ánh
và giữ lại trong ý thức của học sinh. Lặp lại nhiều lần sai lầm về kĩ thuật sẽ
dẫn đến việc củng cố các biểu tượng sai về kĩ thuật động tác và hạn chế sự
phát triển kĩ xảo.
Cần sử dụng các phương pháp tập luyện nhằm phát triển chức năng của
các cơ quan phân tích. Các cơ quan phân tích là một phần của hệ thống thần
kinh - cơ, được coi là một bộ phận của "thực thể sinh lí" của sự khéo léo.
Phương thức hoạt động của nó ảnh hưởng đến trình độ của sự khéo léo.
Do vậy cần sử dụng các phương tiện phụ nhằm phát triển chúng. Việc
phát triển có mục đích một cơ quan phân tích cũng có tác dụng phát triển
nhiều năng lực phối hợp riêng lẻ: Sử dụng ghế quay đề phát triển chức
năng tiền đình góp phần nâng cao năng lực thăng bằng và đồng thời nâng
cao năng lực định hướng.
Cần sử dụng các biện pháp nhằm nâng cao yêu cầu phối hợp vận động
của các bài tập thể lực. Sau đây có một số biện pháp chính.
Đa dạng hóa cách thức thực hiện động tác: Bật nhảy co gối, nhảy dạng
chân, nhảy gập thân, thực hiện động tác với nhịp điệu, tốc độ thay đổi.
Thay đổi điều kiện bên ngoài. Thực hiện động tác trong điều kiện nâng
cao độ khó của môi trường như: thực hiện động tác với các dụng cụ có độ cao
khác nhau, các trọng lượng khác nhau, với các đối thủ khác nhau...



Các phương pháp nhằm phát triển sự khéo léo rất phong phú, có thể
phối hợp chúng với nhau hoặc thực hiện một cách có trọng điểm từng phương
pháp. Việc lựa chọn và sử dụng từng phương pháp cần căn cứ vào đặc điểm
của từng năng lực cần phát triển. Cần thường xuyên nâng cao mức độ khó
khăn về sự khéo léo của các bài tập, vì chỉ nâng cao kích thích đối với cơ thể
mới tạo được một trình độ thích ứng cao hơn
1.3. Một số nét đặc trƣng của trò chơi vận động
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm cách thức phân loại trò chơi vận động
Trò chơi vận động là những trò chơi nhằm củng cố và hoàn thiện kỹ
năng vận động cơ bản của con người như: Đi, chạy, nhảy, mang vác, leo trèo,...
Hầu hết những trò chơi được vận dụng trong quá trình GDTC đã mang
lại tính mục đích rõ ràng. Trong quá trình chơi, các em tiếp xúc với nhau, mỗi
cá nhân phải phấn đấu hết mình vượt qua khó khăn để hoàn thành trách nhiệm
của mình trước tập thể. Do sự đua tranh giữa các em, các em sẽ cố gắng hết
mình, tự giác, hứng thú là một đặc điểm quan trọng để rèn luyện, phát triển sự
khéo léo cho học sinh. Trò chơi vận động tạo môi trường vận động phong phú,
giúp hệ thần kinh hoạt động tối ưu, ít căng thẳng, mệt mỏi hơn.
Trò chơi vận động còn giúp học sinh rèn luyện tác phong khẩn trương,
nhanh nhẹn, tính kỷ luật, sáng tạo để học sinh hoàn thành nhiệm vụ với kết
quả cao, góp phần giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách cho học sinh.
Trò chơi vận động mang tính tư tưởng cao. Hầu hết các trò chơi vận động đều
dễ chơi vì chơi là một nhu cầu mang tính tự nhiên của trẻ, có thể nói vui chơi
cũng cần thiết và quan trọng như ăn uống hàng ngày của các em. Dù được
hướng dẫn hay không hướng dẫn thì các em vẫn tìm mọi cách và tranh thủ
mọi thời gian, điều kiện để chơi. Khi được chơi các em tham gia hết sức tự
giác và chủ động, đây là một yếu tố quan trọng trong công tác GDTC cho thế
hệ trẻ.


Trong quá trình tham gia vào trò chơi các em biểu lộ tình cảm rất rõ

số trò chơi vận động trung bình, xếp vào trò chơi động. Tuy nhiên cách phân
loại này nhiều khi cũng không chính xác do cách thức tổ chức và tài nghệ của
giáo viên.
Phân loại theo cách chia trò chơi ra làm hai nhóm chính và phụ, trò chơi
chia đội và không chia đội, và một nhóm phụ chuyển tiếp ở giữa. Trò chơi
không chia đội có thể phân ra làm hai loại: Có người điều khiển và không có
người điều khiển. Trò chơi chia đội được tiến hành trong điều kiện số người
trong đội phải ngang bằng nhau. Khi lựa chọn TCVĐ giáo viên phải căn cứ
vào lứa tuổi, giới tính, trình độ vận động và điều kiện sân bãi dụng cụ để
chọn trò chơi phù hợp. Sau khi lựa chọn được trò chơi giáo viên phải biên
soạn thành giáo án giảng dạy. Khi tổ chức chơi, giáo viên nói ngắn ngọn, rõ
ràng, dễ hiểu nhưng tất cả học sinh đều nghe được và nắm được cách chơi,
luật chơi...
1.3.2. Trò chơi vận động với các tố chất thể lực nói chung và tố chất khéo léo nói
riêng
Trò chơi vận động hình thành lên các tố chất thể lực nói chung bao gồm sức
nhanh,sức mạnh, sức bền, bao gồm các trò chơi vận động như nhảy lò cò, chạy
tiếp sức bật nhảy tại chỗ...
Trò chơi vận động hình thành lên sự khéo léo nói riêng bao gồm các trò chơi
như chạy díc dắc, dẫn bóng luồn cọc ... các trò chơi này giúp phát triển sự
khéo léo cho các em học sinh học các môn thể dục được tốt hơn.
1.3.3. Một số hạn chế khi áp dụng trò chơi vận động
Khó kiểm soát lượng vận động khi tiến hành trò chơi vận động.
Một số em tham gia vượt quá khả năng chịu đựng để xảy ra những tai
nạn đáng tiếc.
Đôi khi học sinh tham gia một cách hời hợt, thiếu tích cực, không phát
huy được hiệu quả của TCVĐ.


Giáo viên khó kiểm soát được hết toàn bộ lớp nên chưa phát huy hết

thập những tài liệu gần với vấn đề nghiên cứu. Phương pháp này được sử
dụng trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài.


2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi - trả lời giữa nhà nghiên cứu
với các cá nhân, tổ chức khác nhau về các vấn đề cần quan tâm.
Đã sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn gián tiếp và
trao đổi tọa đàm:
- Phỏng vấn trực tiếp là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi - trả
lời miệng giữa nhà nghiên cứu và người được hỏi.
- Phỏng vấn gián tiếp là phương pháp thu thập thông tin bằng phiếu hỏi,
phiếu điều tra... theo một hệ thống câu hỏi được chuẩn bị sẵn sàng.
- Trao đổi, tọa đàm là phương pháp thu thập thông tin nhiều chiều giữa nhà
nghiên cứu với một số cá nhân về vấn đề quan tâm.
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp quan sát sư phạm là phương pháp nhận thức đối tượng
nghiên cứu trong quá trình giáo dục, giáo dưỡng mà không ảnh hưởng tới quá
trình đó.
Trong thời gian thực hiện đề tài này việc quan sát sư phạm được sử
dụng trong quá trình dự giờ, quan sát quá trình học thể dục và các hoạt động
khác mà các em tham gia.
Qua phương pháp này có thể đánh giá và phân tích được quá trình
giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh, giúp có cái nhìn khách quan và
có thể đưa ra những trò chơi vận động nhằm nâng cao sự khéo léo cho học
sinh khối 10 trường THPT Mỹ Hào - Hưng Yên.
2.2.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm
Trong quá trình nghiên cứu đã tiến hành tổ chức kiểm tra sư phạm
nhằm đánh giá sự khéo léo của các đối tượng nghiên cứu trước thực nghiệm
và sau thực nghiệm. Đặc biệt, phương pháp này còn nhằm kiểm nghiệm tính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status