“MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LÀM VĂN
MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4 Ở TRƯỜNG PTDTBT”
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài, sáng kiến, giải pháp:
Tiếng Việt là tiếng phổ thông của dân tộc Việt Nam. Trong nhà trường Tiểu
học, Tiếng Việt là đối tượng mà học sinh cần chiếm lĩnh. Đồng thời, cũng là một
môn học được gọi là môn Tiếng Việt. Môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học có nhiệm vụ
hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết để học tập và
giao tiếp trong môi trường hoạt động, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy. Môn
Tiếng Việt còn cung cấp cho học sinh những kiến thức ban đầu về vốn từ, vốn sống,
những kĩ năng cơ bản nhất trong giao tiếp. Học tập môn này, học sinh còn được bồi
dưỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng
Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam.
Trong chương trình Tiểu học mới, Tiếng Việt được chia thành các phân môn,
mỗi phân môn có nhiệm vụ rèn luyện cho học sinh những kĩ năng nhất định. Phân
môn Tập làm văn là phân môn mang tính tổng hợp cao nhất, nó có vai trò rèn cho
học sinh cả bốn kĩ năng, trong đó quan trong là các kĩ năng nghe, nói, viết. Đối với
phân môn này, các em được rèn luyện năng lực trình bày ở dạng văn bản với nhiều
thể loại khác nhau.
Với học sinh lớp 4, việc rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho các em là cần thiết.
Học tốt văn miêu tả sẽ là điều kiện thuận lợi để học tốt các môn học khác ở Tiểu
học và học tiếp lên các lớp trên. Việc giúp các em hoàn thành tốt bài văn miêu tả sẽ
góp phần nâng cao năng lực viết, cảm thụ văn học, giúp các em khám phá được
những cái hay cái đẹp viết được bài văn với ngôn ngữ trong sáng, lời hay ý đẹp,
xây dựng văn bản khúc chiết.
Qua thực tế giảng dạy và quản lý tại trường PTDTBT hơn 10 năm, tôi nhận
thấy phân môn Tập làm văn là phân môn khó nhất trong các phân môn của môn
Tiếng Việt, trong đó kĩ năng viết văn miêu tả của học sinh dân tộc Bru- Vân Kiều
1
văn học, sổ tay chính tả, sổ tay văn học nhằm giúp học sinh chắt lọc các từ ngữ hay,
những hình ảnh ấn tượng, sinh động, những câu văn câu thơ giàu hình ảnh, từ đó
các em “giàu” vốn từ, vốn sống khi viết văn. Bố trí đội ngũ phù hợp với năng lực
sở trường của giáo viên, giao trách nhiệm cho những giáo viên thực sự có có năng
khiếu, năng lực về tiếng Việt đảm nhận dạy phân môn tiếng Việt của khối 4,5.Từ đó
giáo viên có thời gian nghiên cứu kĩ bài dạy, soạn giảng có chiều sâu hơn, chất
lượng bài soạn được nâng cao do đó chất lượng dạy phân môn tập làm văn đối với
dạng bài miêu tả mới đạt được kết quả như mong muốn.
1.3 Phạm vi áp dụng đề tài, sáng kiến:
Tập trung nghiên cứu một số giải pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng kĩ năng
làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 ở trường PTDTBT, thực hiện trong nội bộ
trường PTDTBT, đã và đang áp dụng triển khai dạy học trong những năm học vừa
qua, có thể vận dụng dạy học ở địa bàn khó khăn,có những đặc điểm tương đồng,
đối tượng là học sinh dân tộc Bru- Vân Kiều.
2.Phần nội dung
2.1. Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu:
Trường vừa mới được thành lập cách đây vừa tròn 13 năm, đến nay cơ sở vật
chất phòng học cơ bản đã đáp ứng được theo yêu cầu, trang thiết bị dạy học vẫn
chưa đáp ứng đủ nhu cầu dạy học. Đặc biệt trường đóng chân trên địa bàn xã biên
giới vùng đặc biệt khó khăn có 100% học sinh là con em dân tộc Bru-Vân Kiều. Đa
số các học sinh đều nói tiếng mẹ đẻ tiếng Bru- Vân Kiều, tiếng Việt còn nhiều hạn
chế, vốn từ ngữ của các em còn nghèo, vẫn còn bất đồng về ngôn ngữ đặc biệt là
học sinh mới vào lớp 1. Đời sống kinh tế của nhân dân còn nhiều thiếu thốn, có
nhiều hộ nghèo, đứt bữa còn phụ thuộc vào các nguồn trợ cấp của Nhà nước. Phụ
huynh chưa thật quan tâm nhiều đến việc học tập của con em. Địa hình hiểm trở, có
nhiều khe suối rất nguy hiểm khi đi lại vào mùa mưa. Các bản sống biệt lập, cách
xa trung tâm xã từ 7km đến 20 km đường rừng . Mật độ dân cư sinh sống thưa thớt,
độ tuổi của học sinh ở các bản không đồng đều. Do đó các em ở bản xa không có
tả trong phân môn Tập làm văn lớp 4 lại yêu cầu vốn từ ngữ, năng lực tư duy rất
lớn. Vốn từ của các em chưa phong phú, chưa hiểu hết nghĩa của từ nên việc vận
dụng vào bài làm còn sai sót.
4
BẢNG 1:
CHẤT LƯỢNG KHẢO SÁT
Năm học: 2014-2015
Lớp
4A
4B
Tổng số
học
sinh
16
22
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
SL
%
SL
cho giáo viên đã và đang được bộ phận chuyên môn, nhà trường hết sức chú trọng.
Do đó trong năm học 2014- 2015 đội ngũ giáo viên của nhà trường đã có sự tiến bộ
vượt bậc về chuyên môn, kinh nghiệm dạy học tập làm văn được nâng lên và đặc
biệt là dạy học làm văn miêu tả ở học sinh lớp 4, được đầu tư đúng mức.
5
2.4. “Một số giải pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng làm văn miêu tả
cho học sinh lớp 4 ở trường PTDTBT”.
Giải pháp thứ nhất:
Giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ đặc điểm cơ bản của văn
miêu tả ở lớp 4 là như thế nào?
Từ điển Tiếng Việt do Hoàng phê chủ biên định nghĩa: Miêu tả là dùng ngôn
ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho con người khác có thể hình
dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người.
Nhà văn Phạm Hổ: “ Miêu tả là khi đọc những gì chúng ta biết, người đọc
như thấy cái đó hiện ra trước mắt mình: một con người, con vật, một dòng sông,
người đọc còn có thể nghe được cả tiếng nói, tiếng kêu, tiếng nước chảy, thậm chí
còn ngửi thấy mùi hôi, mùi sữa, mùi hương hoa hay mùi rêu, mùi ẩm mốc,…nhưng
đó mới chỉ là miêu tả bên ngoài, còn sự miêu tả bên trong nữa là miêu tả tâm trạng
vui, buồn, yêu, ghét của con người, con vật và cả cây cỏ.”
Như vậy, miêu tả là loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm cho
người nghe người đọc, hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật sự
việc như nó vốn có trông đời sống. Một bài văn miêu tả hay, không những phải thể
hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện ở trí tưởng
tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết với đối tượng được miêu tả. Bởi vì trong
thực tế không ai tả mà để tả, mà thường tả để gửi gắm suy nghĩ,cảm xúc sự đánh
Cây cối sống trông thiên nhiên, gần gũi với con người. Khi miêu tả, cần gắn
chúng với cảnh vật xung quanh, như mặt trời, bóng mây, gió, nước, chim, sông,
suối, ao, hồ, con đường, sân trường, vườn và con người luôn hiện hữu. Kèm theo
đó là lợi ích của cây cối và tình cảm gắn bó của người tả đối với cây cối…
Tả loài vật:
Đối tượng của văn miêu tả loài vật là những con vật quen thuộc gần gũi với
học sinh. Đó là con lợn, con bê, con gà, con cún con, con mèo, con khỉ, con gấu
bông, con búp bê…Mỗi con vật đều có đặc điểm riêng về hình dáng, ngoại hình,
đặc tính giống nòi riêng, thói quen riêng, tính cách của mỗi con vật luôn có sự khác
biệt của mỗi loài vật. Khi miêu tả, hướng cho học sinh miêu tả cái chung và những
nét riêng biệt, tiêu biểu của từng loài vật, màu sắc, vóc dáng, tính nết. Những con
7
vật miêu tả là những con vật gần gũi thân thiết và có nhiều lợi ích, bài viết phải thể
hiện được sự chăm sóc ân cần, chu đáo, thể hiện rỏ tình cảm yêu quý của học sinh
đối với con vật mình tả.
Bài văn miêu tả được xây dựng trên cơ sở những hình ảnh, những ấn tượng
về đối tượng mà người viết thu lượm, cảm nhận được thông qua các giác quan của
mình. Bài văn miêu tả mang tính chất nghệ thuật cao, mang tính sáng tạo, tính riêng
biệt của người viết. Ngôn ngữ trong miêu tả là thứ ngôn ngữ nghệ thuật giàu sức
gợi tả, gợi cảm và là ngôn ngữ của những biện pháp tu từ. Tả là mô phỏng, tô vẽ
lại, là so sánh ví von, nhân hóa bằng hình ảnh…chứ không phải là kể lể.
Văn miêu tả mang tính chất thông báo thẩm mĩ, dù miêu tả đối tượng nào, có
bám sát thực tế đến đâu thì văn miêu tả cũng không bao giờ sao chép, chụp ảnh
máy móc những sự vật hiện tượng mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng,
đánh giá hết sức phong phú. Đó là sự miêu tả được cái mới, cái riêng biệt của đối
tượng thông qua cảm nhận của mỗi người khi tả.
Ví dụ: Nhà văn Thép Mới lại lấy cảm hứng của anh chiến sĩ đang mơ về tương lại
của đất nước khi ngắm trăng trong bài Tập đọc Trung thu đọc lập (SGK TV4/T1
những giáo viên có năng lực, sở trường, năng khiếu về phân môn Tiếng Việt, nhiệt
huyết, yêu nghề, có tin thần trách nhiệm cao, có sức khỏe để đảm đương dạy học
Tiếng Việt lớp 4. Bố trí những giáo viên dạy giỏi, hiểu biết được tiếng Bru-Vân
Kiều, có kinh nghiêm lâu năm trong dạy học lớp 4 nói chung và có năng lực về dạy
Tiếng Việt nói riêng. Động viên và đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể cho từng giáo
viên đứng lớp phải tuân thủ sự chỉ đạo của nhà trường nhằm nâng cao hiệu quả dạy
học phân môn tập làm văn và chú trọng đến chất lượng làm văn miêu tả lớp 4 vì kĩ
năng này học sinh còn hạn chế, nhằm khắc phục sớm nhất những hạn chế đã chỉ ra.
Giải pháp thứ ba:
Tổ chức sinh hoạt chuyên môn, thảo luận và dạy thực nghiệm
từng chuyên đề cụ thể về phân môn tập làm văn mà đặc biệt quan tâm
dạng bài văn miêu tả ở lớp 4 .
Chuyên môn, tổ chuyên môn lập kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ theo hướng dẫn
nhiệm vụ năm học. Nắm bắt thực tiễn năng lực của giáo viên, chất lượng của học
sinh từ đó lập kế hoạch và đưa ra những giải pháp bồi dưỡng, chỉ đạo dạy học sát
9
với thực tiễn của đơn vị. Từ kế hoạch tổng quát của cả năm học, đến kế hoạch bồi
dưỡng giáo viên theo từng giai đoạn, đến tháng, tuần. Tổ chức công khai các kế
hoạch để có sự bàn bạc thống nhất chung trong tổ khối, bậc học thực hiện đảm bảo
có hệ thống. Chuyên môn phân công cụ thể đến tổ chuyên môn thực hiện các
chuyên đề, từ đó tổ phân công, tổ chức thảo luận các phương pháp, hình thức tổ
chức dạy học sao cho có hiệu quả cao nhất. Các thành viên trong tổ thảo luận xây
dựng hoàn thành ý tưởng của một chuyên đề, hay một bài dạy, sau đó lựa chọn một
giáo viên có năng lực thực hiện chuyên đề đó sau đó đánh giá, khảo sát chất lượng
theo định hướng trên. Tổ chức đánh giá nhận xét và tổ chức rút kịnh nghiệm qua
thực tiễn của chuyên đề. Ví dụ: Đều là dạy văn miêu tả, nhưng các chuyên đề thể
hiện một khía cạnh, một mảng riêng, nhằm làm phong phú hơn về phương pháp
nhận được về đối tượng (đồ vật, cây cối, loài vật, hiện tượng thiên nhiên, con
người…), dùng ngôn ngữ để vẽ ra hình ảnh chân thực của đối tượng đó, trình bày
theo một bố cục hợp lý và diễn đạt bằng lời văn sinh động, khiến cho người đọc,
người nghe cùng thấy, cùng cảm nhận như mình. Văn miêu tả chia làm nhiều loại.
Ở lớp 4, học sinh được học tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật.
Ví dụ: Đề bài học sinh đọc và phân đoạn bài văn “Hoàng hôn trên sông
Hương” và xác định nội dung của từng đoạn trong bài văn đó. Học sinh trả lời, bài
văn có bốn đoạn, gồm một đoạn mở bài, hai đoạn thuộc thân bài và một đoạn kết
bài.
Mở bài: ( Cuối buổi chiều… yên tĩnh này.) : cảnh hoàng hôn đang lắng
xuống trên thành phố Huế yên tĩnh.
Thân bài: ( Mùa thu,… cũng chấm dứt.) : Sự thay đổi về màu sắc của sông
Hương và hoạt động của con người từ cuối buổi chiều đến khi thành phố lên đèn.
Phần thân bài gồm hai đoạn:
Đoạn 1: ( Mùa thu…hàng cây. ): Những biến đổi về màu sắc của sông
Hương từ cuối buổi chiều dến lúc tối hẳn.
Đoạn 2: ( Phía bên sông…chấm dứt.): Sinh hoạt của xóm Cồn Hến, của dân
chài trên sông Hương và cảnh thành phố khi mới lên đèn.
Kết bài: ( Huế thức dậy… ban đầu của nó.) Huế đi vào cuộc sống buổi tối.
Hướng dẫn cho học sinh những điều cần lưu ý khi quan sát và miêu tả:
11
Mỗi cảnh đều được xác định bởi một phạm vi không gian và thời gian nhất
định. Ví như cảnh một ngôi trường thì có các lớp học, khu vực hành chính, sân
trường, vườn trường, khu tập thể dục thể thao… tất cả thường được bao bọc bởi
những bức tường hay hàng rào và có cổng trường để ra vào. Vượt ra ngoài phạm vi
đó sẻ không còn là cảnh trường nữa. Mỗi cảnh gắn liền với một thời gian nhất định
như sáng sớm, trưa hay chiều tối…Thời gian đi liền với ánh sáng, thời tiết, hoạt
động của người và vật….làm cho cảnh có những nét riêng biệt.
hào Nguyễn Du đã nêu một nhận xét rất sâu sắc: “ Người buồn cảnh có vui đâu bao
giờ!”. Đúng vậy, cảnh vật mang theo nó cuộc sống riêng với những đặc điểm riêng.
Nhưng con người cảm nhận cảnh như thế nào sẻ đem đến cho cảnh những tình cảm
như thế ấy. Đấy là phần hồn của cảnh. Cảnh không có hồn sẻ trơ trọi, thiếu sức
sống.
Giáo viên cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản trên, học sinh nắm
chắc và vận dụng linh hoạt, giúp học sinh xác định chắc chắn thể loại, cách viết, từ
đó chất lượng bài viết của học sinh từng bước được nâng lên. Một điều khẳng định
rằng học sinh vận dụng linh hoạt được những kiến thức của giáo viên cung cấp
trên, học sinh sẻ tự tin trong quá trình làm bài, viết bài với nhiều cảm xúc, bài viết
hay, súc tích.
Giải pháp thứ năm:
Giúp học sinh có kĩ năng quan sát đối tượng cần miêu tả, cách
lựa chọn hình ảnh, nội dung cần miêu tả:
Định hướng quan sát vừa giúp cho học sinh tích luỹ vốn sống vừa phát triển
vốn từ, rèn luyện tư duy logic, tư duy hình tượng trong bài văn. Biện pháp hướng
dẫn học sinh quan sát là một biện pháp không thể thiếu khi dạy văn, đặc biệt là văn
miêu tả, tuy nhiên khi sử dụng biện pháp này giáo viên cần lưu ý:
Quan sát theo trình tự từ xa đến gần và ngược lại, từ trong ra ngoài, từ bao
quát đến chi tiết và ngược lại. Ghi chép những điều đã quan sát được. Tổ chức quan
sát từng đối tượng cụ thể. Có thể hướng dẫn quan sát theo nhiều hình thức: quan sát
trực tiếp đối tượng ( Ví dụ: Tả một con vật nuôi trong gia đình em, tả một con vật
nuôi mà em thích ). Quan sát gián tiếp qua báo, đài ( những cảnh đẹp của quê
13
hương đất nước hay những con thú ngộ nghĩnh, tin nghịch dễ thương, đồ chơi mới
lạ mắt… mà em thích, ….).
Lựa chọn hình ảnh miêu tả và nội dung miêu tả:
huy trí tưởng tượng của mình. Trong mỗi lớp học có nhiều đối tượng học sinh, khi
ra đề bài cho các em, giáo viên nên tạo cho các em quyền lựa chọn bằng cách ra
nhiều đề bài (từ 2 đến 4 đề) để các đối tượng trong lớp đều có thể tự do chọn đề bài
thích hợp cho mình, tránh áp đặt cho các em.
Ví dụ: Khi ra đề bài tả con vật các em làm bài kiểm tra viết, tôi định hướng
bốn đề bài sau:
a) Tả một con vật nuôi trong nhà.
b) Tả một con vật em chợt gặp trên đường..
c) Tả một con vật lần đầu tiên em thấy trên họa báo hay trên truyền hình,
phim ảnh.
d. Em hãy tả một con vật mà em yêu thích nhất.
Với bốn đề bài trên, các em có thể chọn đối tượng miêu tả là một con vật
quen thuộc, gần gũi. Nhưng với một vài học sinh khác, các em cũng có thể chọn tả
một con vật lần đầu tiên em thấy trên họa báo hay trên truyền hình, phim ảnh, với
rất nhiều chi tiết sống động mà các em đã có dịp quan sát trên ti vi qua các chương
trình thế giới động vật, qua báo, tranh ảnh khi giáo viên giảng dạy.
Giải pháp thứ bảy:
Hướng dẫn học sinh có kĩ năng sắp xếp ý, diễn đạt ý, lập dàn ý chi
tiết cho một bài văn:
Đây là một việc làm khó. Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh lập dàn ý
trước khi làm thành một bài văn hoàn chỉnh. Có lập được dàn bài thì mới có thể tìm
ý, sắp xếp ý, viết thành một bài văn mạch lạc, bố cục rõ ràng, ý văn trong sáng. Bởi
lẽ, ở những lớp dưới, các em không phải làm những việc này, mà các em chỉ viết
câu văn, đoạn văn bằng cách trả lời những câu hỏi cho sẵn hoặc dựa vào những gợi
ý của đề bài, một cách đơn giản, ngắn gọn. Khi lên học chương trình lớp 4 thì việc
lập dàn ý cho một đề bài cụ thể là yêu cầu bắt buộc, các em phải biết thực hiện,
phải lập được dàn ý dựa vào đó mà hoàn chỉnh đoạn văn, bài văn.
15
16
- Con chó sống với gia đình em lâu nhất tên là Mực.
Thân bài:
a. Tả hình dáng bên ngoài.
- Tả bao quát:
+ Ngoài cái ức trắng, toàn thân Mực màu đen
+ Đã già và nặng ngót ba chục kí.
- Tả từng bộ phận:
+ Tai to, trán vuông, mắt đen pha nâu, mồm to và dài, cánh mũi đen ướt, răng
trắng và nhọn…
+ Lông cổ và dọc sóng lưng dài hơn, cứng,da cổ đã xệ.
+ Lưng hơi vòng, ngực nở, bụng thon, chân cao đuôi dài và cong.
b. Tả hoạt động
+ Không ăn vụng và ăn nhỏ nhẹ, từ tốn.
+ Buổi trưa Mực nằm nghỉ dưới gốc cây Mít nhưng tai rất thính.
+ Tối Mực ngủ ngay trức sân và lùng sục suốt đêm.
+ Rất quyến luyến với chủ: tìm chủ bên nhà hàng xóm.
Kết bài:
- Mực hiền lành, khôn ngoan, được việc.
- Cả nhà đều quý và coi Mực như một thành viên của gia đình.
Giáo viên cần lưu ý cho học sinh nắm mục đích của từng đoạn văn. Đoạn mở
bài có tác dụng giới thiệu cho người đọc, người nghe biết xuất xứ nhân vật. Đoạn
thân bài là bức tranh vẽ bằng lời về hình dáng, đường nét, cử chỉ, hoạt động, tính
nết của nhân vật. Có chọn được những chi tiết đặc sắc, tiêu biểu thì ta mới nhận ra
nhân vật đó mang những cá tính riêng. Bạn học sinh trong bài là một học sinh vùng
nông thôn với những đặc điểm riêng, cá tính riêng không lẫn lộn với bất cứ bạn học
sinh nào khác. Đoạn kết bài mang đậm dấu ấn cá nhân của người viết. Không thể
có đoạn kết bài chung cho mọi học sinh. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh nêu
tư/30/BGD&ĐT là hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học và
ưu việt hơn đối với học sinh Bru- Vân Kiều. Các em vốn từ, vốn sống còn hạn chế
do đó các em phần lớn là nhút nhát, thiếu tự tin. Để kích thích các em học được và
học tốt văn miêu tả, không nhất thiết chấm điểm, mà dành cho học sinh những lời
khen, kịp thời, mang tính khích lệ động viên. Các em sẽ phấn khởi, tự tin hơn, từ đó
18
phát huy được khả năng tiềm tàng của bản thân. Từ đó các em loại bỏ được âu lo,
mặc cảm với điểm số, từ đó các em tự tin, hào hứng với môn học, học tích cực và
hiệu quả hơn.
Giải pháp thứ chín:
Làm giàu vốn từ cho học sinh trong quá trình dạy học:
Nếu học kiểu bài kể chuyện, học sinh chỉ tái hiện lại nội dung câu chuyện đã
nghe, đã đọc là có thể đạt được yêu cầu cơ bản của đề bài thì văn miêu tả đòi hỏi
phải có một vốn từ phong phú mới có thể làm bài. Thế giới quanh ta rất phong phú,
đa dạng và không ngừng biến đổi. Người viết văn không thể “vẽ” được một cảnh,
một người nếu bản thân người ấy thiếu vốn từ, vốn sống.
Làm giàu vốn từ cho học sinh có nghĩa là giúp cho các em nắm một số từ gợi
tả để có thể dùng trong miêu tả. Giáo viên yêu cầu học sinh theo mức dộ khó dần,
bước đầu chỉ yêu cầu học sinh đặt đúng câu, viết đúng đoạn, cao hơn phải sử dụng
được các biện pháp như; so sánh, nhân hóa, dùng từ láy, từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm
thanh, hay những từ ngữ biểu lộ tình cảm.
Ví dụ: Miêu tả một chú gà trống. Học sinh đặt câu:
- “Chú gà nhà em có bộ lông đỏ tía”.
Giáo viên có thể cho các em nhận xét: Câu văn đã đủ chủ ngữ, vị ngữ, đã rỏ nghĩa.
Sau đó đặt câu hỏi: Em nào đặt câu khác hay hơn để miêu tả bộ lông của chú gà
trống? Học sinh có thể đặt câu:
“Chú trống choai thật oai vệ, chú khoác trên mình bộ lông màu đỏ tía, chen lẫn
dùng cho các em ghi chép các ý hay, các câu, đoạn văn hay. Việc ghi chép này
không nhất thiết để cho học sinh khi làm văn sẽ mở ra sử dụng nhưng trước hết,
qua mỗi lần ghi chép, các em sẽ được một lần đọc, ghi nhớ, bắt chước, lâu dần
thành thói quen. Khi làm bài, những từ ngữ, hình ảnh, ý văn sẽ tự động tái hiện,
giúp học sinh có thể vận dụng trong bài làm.
Giải pháp thứ mười :
Vận dụng có hiệu quả tiết trả bài ở phân môn tập làm văn, kiểu bài
miêu tả.
Để tiết trả bài tập làm văn có hiệu quả, mang lại sự thành công thì không thể
bỏ qua bất cứ một khâu nào, trong quy trình dạy tập làm văn miêu tả. Khâu kiểm
20
tra đánh giá học sinh là một khâu quan trọng, có kiểm tra đánh gía đúng thực chất
năng lực của học sinh, người giáo viên, cán bộ quản lý mới biết được những ưu,
khuyết điểm của từng học sinh, cũng như trong chỉ đạo điều hành dạy học của
chuyên môn. Đây chính là một cứ liệu quan trọng để điều chỉnh, các giải pháp, biện
pháp, cách thức tổ chức dạy học sát đúng với đối tượng học sinh hơn.
Do đó tiết trả bài ở phân môn tập làm văn kiểu bài miêu tả hết sức quan
trọng, đây là khâu cuối cùng, giúp học sinh, giáo viên nắm được chất lượng thực
chất,để đánh giá nhận xét. Từ đó giúp học sinh thấy được những ưu điểm của mình
để phát huy, thấy được những mặt hạn chế của mình qua bài làm để khắc phục sớm
những tồn tại, khiếm khuyết đó. Trong tiết trả bài giúp học sinh đọc lại được bài
làm của mình, biết những lỗi mà giáo viên chỉ ra, biết được những ưu điểm của bài
viết của mình. Từ đó học sinh biết sữa lỗi dùng từ đặt câu, ngữ pháp, cách diễn đạt
ý, lỗi chính tả, bố cục của bài mình và bài các bạn. Thông qua tiết trả bài giáo viên
hướng dẫn học sinh học hỏi lẫn nhau, những câu văn hay, những biện pháp, nhân
hóa, so sánh, liên tưởng hợp lý, những đoạn văn hay, cấu trúc bài chặt chẽ…Vì vậy
tiết trả bài giáo viên cần phải chuẩn bị kĩ lưỡng trước khi lên lớp, xem đây là một
- Trả bài cho học sinh, yêu cầu học sinh đọc thầm lại toàn bộ bài làm, lời nhận
xét chung và những chỗ lưu ý cụ thể của giáo viên trong bài viết; sau đó tổ chức
cho học sinh tiến hành tự chữa lỗi cá nhân và trao đổi bài cho nhau để cùng kiểm
tra, chia sẻ kinh nghiệm,…
Một lưu ý khi dạy tiết trả bài: giáo viên cần căn cứ vào thực tế bài làm của học
sinh để lựa chọn, điều chỉnh nội dung chữa lỗi chung ở lớp theo cách trên( tập trung
chữa lỗi học sinh thường mắc qua từng bài làm cụ thể đồng thời chú ý rèn kĩ năng
diễn đạt một cách toàn diện cho học sinh). Tránh tiến hành chữa lỗi cho học sinh
một cách máy móc, phiến diện.
NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
BẢNG 2:
KẾT QUẢ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG CUỐI NĂM
22
Lớp
4A
4B
Tổng số
học
sinh
16
22
Năm học:2014-2015
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
SL
3. Phần kết luận:
3.1. Ý nghĩa của đề tài, sáng kiến, giải pháp:
Ý nghĩa của sáng kiến này cung cấp cho người đọc nắm được và thấy rỏ
“Những giải pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4
ở trường PTDTBT”. Người đọc hiểu được một cách tổng quan nhất về những giải
pháp thực hiện có tính khoa học và thực tiễn trong quá trình chỉ đạo dạy học. Xem
đây là một kinh nghiệm được thực nghiệm có kết quả khá cao trong quá trình vận
dụng linh hoạt các giải pháp, các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học có hiệu
quả. Thông qua ý nghĩa của sáng kiến bạn đọc còn cảm nhận được đây là những
giải pháp căn cơn nhất trong dạy học phân môn tập làm văn tiểu học nói chung và
làm văn miêu tả ở lớp 4 nói riêng.
1.Giúp học sinh nắm chắc chắn đặc điểm của văn miêu tả ở lớp 4 là rất cần
thiết và quan trọng. Có hiểu biết về văn miêu tả thì học sinh mới vận dụng linh hoạt
kiến thức, vốn sống, vốn ngôn ngữ của mình đúng cách trong viết văn miêu tả. Từ
đó học sinh sử dụng có hiệu quả các biện pháp như so sánh, nhân hóa, thể hiện
23
đước cái nhìn thiện cảm, tình cảm, nội tâm của mình vào bài làm. Sử dụng từ ngữ
miêu tả trong sáng, một cái nhìn tinh tế, bài viết sinh động và gần gủi với đời sống
của học sinh hơn.
2. Nhân tố điễn hình, vai trò nồng cốt luôn được coi trọng trong quá trình dạy
học và chỉ đạo dạy học. Với giải pháp này người đọc dễ cảm nhận được nhân tố
điễn hình, người giáo viên có năng lực, đạo đức trách nhiệm, yêu nghề là hết sức
quan trọng không thể thiếu trong việc nâng cao chất lượng dạy học. Muốn thực
hiện đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục và đào tạo, thì đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng.
3.Thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả về đổi mới phương pháp dạy học, đổi
mới công tác quản lý trong nhà trường đó là: Tổ chức bồi dưỡng đội ngũ bằng hình
thiện. Thì việc dạy học theo phương pháp làm “giàu” vốn từ, hiểu biết văn học, có
phương pháp tích lũy kiến thức như dùng sổ tay văn học, sổ tay chính tả. Nhằm
chắt lọc những gì thuần khiết, tinh tế nhất của ngôn ngữ để học sinh nhiều vốn từ,
có kinh nghiệm trong cuộc sống. Do đó đây chính là một giải pháp mang tính lâu
dài và có hiệu quả thiết thực, trong quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh cũng
như trong trải nghiệm cuộc sống.
9. Nâng cao chất lượng dạy học nói chung, dạy học phân môn tập làm văn,
kiểu bài làm văn miêu tả nói riêng. Với tin thần chỉ đạo của BGD, SGD, PGD, cùng
với nhà trường, thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả về đổi mới cách đánh giá học
sinh theo nguyên tắc, đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh, cọi trọng việc động viên,
khuyến khích, đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan. Với cách đánh giá này rất
phù hợp với tâm sinh lý lứa tổi của học sinh tiểu học. Đặc biệt phù hợp hơn với học
sinh dân tộc Bru- Vân Kiều học sinh còn nhút nhát, thiếu tự tin, khi được động viên
khích lệ học sinh tự tin, mạnh dạn và tiếp thu bài tốt hơn, không còn,tư ti, nhút nhát
nữa…
10 . Tiết tập làm văn trả bài thực sự có ý nghĩa rất thiết thực, nếu giáo viên tổ
chức, thực hiện tốt. Tiết trả bài thực sự quan trọng bỡi, qua tiết trả bài giáo viên
giúp học sinh nhận ra được những ưu điểm, tồn tại của bài viết của học sinh một
cách kịp thời. Hướng dẫn được nhiều học sinh chữa lỗi, chỉ rỏ được một số lỗi điển
hình có hệ thống. Học sinh có nhiều cơ hội chia sẽ bài làm. Cách làm, cách nghĩ
25