MỤC LỤC
Trang
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài ....................................................................................................1
1. 2. Ph ạm vi áp dụng sáng kiến..................................................................................2
1.3. Điểm mới của đề tài ..............................................................................................2
II. PHẦN NỘI DUNG
2.1 Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết......................3
2.2 Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán dạng tìm số trung bình cộng...................5
2.2.1 Thay đổi không gian lớp học...............................................................................6
2.2.2 Vận dụng mô hình dạy học mới...........................................................................7
2.2.3 Gợi nhu cầu nhận thức cho học sinh.................................................................10
2.2.4 Tổ chức cho học sinh trải nghiệm, phân tích, khám phá và rút ra được kiến
thức mới......................................................................................................................11
2.2.5 Tìm hiểu một số sai lầm của học sinh khi giải toán........................................13
2.2.6 Làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh học sinh..........................................21
2.2.7 Linh hoạt trong lựa chọn hình thức và phương pháp dạy họckiểm tra và
đánh giá học sinh......................................................................................................21
3. KẾT LUẬN.
3.1 Ý nghĩa của đề tài................................................................................................23
3.2 Kiến nghị, đề xuất.................................................................................................24
1
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC DẠNG TOÁN
TÌM SỐ TRUNG BÌNH CỘNG CHO HỌC SINH LỚP 4
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài :
Như chúng ta đã biết bậc tiểu học được coi là “Bậc học nền tảng của hệ thống
khuôn, bắt chước. Nếu không xác định cho học sinh những kiến thức cơ bản ban đầu
vững chắc thì học sinh sẽ không giải quyết được những bài toán ở dạng cơ bản (đối
với học sinh trung bình) và nâng cao lên (đối với học sinh khá giỏi).
Chính vì những lí do đó, qua thực trạng học phần giải các bài toán về Tìm số
trung bình cộng của học sinh, tôi nhận thấy việc giúp đỡ học sinh phát hiện ra được
cái sai và tìm cách giải các bài toán là việc làm hết sức quan trọng, giúp học sinh có
khả năng phân tích, tổng hợp, tư duy nhằm nâng cao chất lượng học toán. Là một
giáo viên trực tiếp giảng dạy líp 4 nªn tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “ Một số biện
pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng” với mong
muốn nâng cao trình độ nghiệp vụ nhằm giúp học sinh có kĩ năng nhận dạng toán,
phân tích bài toán, biết lựa chọn phương pháp giải phù hợp cho từng bài toán thuộc
dạng toán này, tránh những sai lầm khi giải toán tạo sự hứng thú đối với môn học.
1.2 Phạm vi áp dụng sáng kiến
Đề tài được áp dụng trong công tác giảng dạy môn Toán cho học sinh lớp 4 đặc
biệt là dạng toán “Tìm số trung bình cộng” của học sinh trường Tiểu học nơi tôi công
tác.
1.3 Điểm mới của đề tài.
Khi dạy học các bài toán về trung bình cộng học sinh phải tư duy
một cách tích cực và linh hoạt huy động tích hợp các kiến thức và
khả năng đã có vào những tình huống khác nhau. Điểm mới của đề tài
này là phát hiện ra được những cái sai của học sinh thường gặp phải, phân loại được
các dạng toán trung bình cộng để tìm ra các biện pháp nhằm khắc phục những khó
khăn, sai lầm của học sinh khi giải các bài toán có liên quan đến dạng này, góp phần
3
trong việc nâng cao chất lượng học tập môn Toán của học sinh . Giải pháp này
giúp cho học sinh lập kế hoạch giải một cách dễ dàng, phát triển kỹ
năng, kỹ xảo, năng lực, tư duy và khả năng giải toán của các em.
Đề tài nghiên cứu dựa trên chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt được sau mỗi bài
9(3 6%)
3(12%)
0 ( 0%)
Đề bài kiểm tra gồm cả phần tự luận và trắc nghiệm với các mạch kiến thức: đọc
viết số, chia cho số có 1 chữ số, tìm thành phần chưa biết của phép tính, giải toán
4
dạng Tìm số trung bình cộng. Tôi phân tích cụ thể các dạng bài tập của bài kiểm tra
và nhận thấy đa số các em đọc và viết số số thành thạo, biết cách chia cho số có 1 chữ
số và tìm thành phần chưa biết của phép tính. Tuy nhiên kỹ năng giải toán về Tìm số
Trung bình cộng còn rất yếu.
Qua nh×n nhËn thực tế tôi thấy rằng chất lượng bài kiểm tra chưa cao là do
nhiều nguyên nhân :
*Về phía giáo viên
- Thời lượng ít như vậy và trên thực tế giáo viên phải dạy nhiều môn, thời gian
dành để nghiên cứu, tìm tòi những phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học
sinh trong lớp còn hạn chế. Do vậy, chưa lôi cuốn được sự tập trung chú ý nghe giảng
của học sinh.
- Nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của các bài toán điển hình trong môn Toán
cũng chưa đầy đủ bởi đây là một dạng toán mới đầu tiên các em gặp khi bước vào
lớp 4. Từ đó dẫn đến tình trạng dạy học chưa trọng tâm, kiến thức còn dàn trải.
*Về phía học sinh:
+ Nguyên nhân khách quan:
- Học sinh chưa có hứng thú với các môn học nói chung, môn Toán nói riếng và
đặc biết là dạng Toán tìm số trung bình cộng
về tìm số Trung bình cộng. Khi giải xong bài toán, đa số học sinh bỏ qua bước kiểm
tra lại bài, dẫn đến nhiều trường hợp sai sót đáng tiếc do tính nhầm, do chủ quan.
2.2 Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung
bình cộng
Giải toán là một hoạt động trí tuệ khó khăn và phức tạp, hình thành kỹ năng giải
toán khó hơn nhiều so với kỹ xảo tính, vì các bài toán là sự kết hợp đa dạng nhiều
khái niệm, nhiều quan hệ toán học. Giải toán Tìm số trung bình cộng không chỉ là
nhớ mẫu rồi áp dụng mà đòi hỏi nắm chắc khái niệm, quan hệ toán học, nắm chắc ý
nghĩa các phép tính, các dạng toán, đòi hỏi khả năng độc lập, suy luận của học sinh,
đòi hỏi biết làm tính thành thạo.
6
Sau khi khảo sát chất lượng giải toán đầu năm học, bản thân tôi đã đã nắm bắt
được tình hình học sinh qua kĩ năng giải toán Tìm số trung bình cộng đồng thời tìm
hiểu những sai lầm mà các em thường mắc phải khi giải toán, tôi đã tiến hành xây
dựng các giải pháp như sau:
II.2.1 Thay đổi không gian lớp học
B
ả
n
g
Đổi mới không gian cho lớp học tạo nên lớp học sẽ được “thay áo mới”, thú vị
và bổ ích. Trang trí lớp học thân thiện, phù hợp đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học còn
giúp các em tự hào về lớp, nâng cao ý thức gìn giữ lớp học sạch đẹp, có thêm không
gian để giao lưu, chia sẻ, nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng đổi mới phương
pháp giảng dạy, đồng thời khuyến khích học sinh sự giác học tập
Học sinh sẽ được tiếp cận với nhau trong quá trình học, giáo viên chỉ là người
tình trạng đứng viết hoặc viết trên ghế.
VD: Học sinh Tiến có thị lực yếu, cần bố trí vị trí ngồi hợp lý trong lớp để em
nhìn rõ thuận tiện cho quá trình học tập.
VD: Học sinh Lan( nhóm Vàng Anh) ham chơi, khả năng tiếp thu chậm thì
cần bố trí chỗ ngồi gần bảng gần bàn giáo viên ở dãy ngoài để thuận tiện cho việc học
của học sinh cũng như giáo viên sẽ thuận tiện hơn trong việc kèm cặp, giúp đỡ; mặt
khác thành lập đôi bạn cùng tiến để các bạn giúp đỡ lẫn nhau; yêu cầu các thành viên
trong nhóm giúp đỡ bạn.
Đối với những học sinh yếu thì tôi phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi phụ nhiều
hơn, chi tiết hơn để gợi ý hướng dẫn các em từng bước tìm ra cách giải bài toán.
Ví dụ 1: Một đội công nhân đào đường, ngày đầu đào được 1200m, ngày thứ hai
đào được ít hơn ngày đầu 150m. Hỏi trung bình mỗi ngày đội công nhân đào được
bao nhiêu mét đường?
Câu hỏi gợi ý:
8
- Để tìm được trung bình mỗi ngày đội công nhân đào được bao nhiêu mét
đường ta phải biết được cái gì? ( Tổng số mét đường của hai ngày đào chia cho 2)
-Tổng số m của hai ngày đào đã biết chưa ? (Chưa biết vì chưa biết số mét
đường ngày thứ hai đào được)
Ví dụ 2: Một ô tô chạy từ tỉnh A đến tỉnh B. Trong 2 giờ đầu, mỗi giờ ô tô chạy
được 46km, giờ thứ ba ô tô chạy được 52km, hai giờ sau mỗi giờ ô tô chạy được
43km thì đến tỉnh B. Hỏi trung bình mỗi giờ ô tô chạy được bao nhiêu kilomet?
* Câu hỏi gợi ý ( Dành cho học sinh trung bình) “Xuất phát từ câu hỏi đến các
dữ kiện của bài toán”(Đường lối phân tích)
- Bài toán hỏi gì? (Trung bình mỗi giờ ô tô chạy được bao nhiêu km?)
- Có thể biết ngay được chưa? (chưa). Vì sao? (Vì chưa biết được tổng số km,
tổng số giờ ô tô đã đi)
- Ta có thể biết được số tổng km? (chưa). Vì sao? (Chưa biết số km ô t ô đi
+ Khi nội dung cần có sự phân hóa về độ khó, dễ nên chia nhóm cùng trình độ.
+ Khi nội dung đơn vị kiến thức cần có sự hỗ trợ lẫn nhau như các bài ôn tập thì
nên chia nhóm tương trợ…
Tôi cũng chuẩn bị đầy đủ các phương tiện như phiếu học tập, tranh ảnh, vật thật
(đưa ra hình ảnh trực quan như các cái kẹo thật làm tiền đề cho phần giới thiệu bài)
và thảo luận, bàn bạc; thời gian quy định cho mỗi hoạt động; phiếu học tập nhóm
hoặc cá nhân để học sinh ghi chép kết quả hoạt động sau khi thảo luận. Như vậy học
sinh dễ lĩnh hội kiến thức chắc chắn hơn.
Bản thân tôi đã vận dụng mô hình dạy học này vào quá trình giảng dạy đặc biệt
là trong môn Toán góp thêm cho lớp học một luồng không khí thân thiện, thoải mái,
sinh động, hăng say trong giờ học, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh.
Giáo viên phải xây dựng được Hội đồng tự quản học sinh, tìm hiểu kĩ về từng
học sinh của lớp mình. Coi trọng công tác tổ chức lớp ngay từ đầu năm học. Xây
dựng được Hội đồng tự quản học sinh nhiệt tình có năng lực chỉ đạo lớp.
Đây là mô hình không những đổi mới về tổ chức lớp học, về trang trí lớp mà quá
trình dạy học cũng được đổi mới từ dạy - học cả lớp sang dạy - học theo nhóm. Nhằm
nâng cao chất lượng giảng dạy, tăng cường phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh. Lấy học sinh làm trung tâm trong các hoạt động dạy học giúp các em tự
chiếm lĩnh kiến thức và tạo mọi điều kiện tốt nhất để mọi học sinh được tham gia vào
quá trình học tập.
10
Ngoài ra vận dụng mô hình trường Tiểu học kiểu mới giúp học sinh rèn phương
pháp tự học, tự giác, tự quản, tự trọng, tự tin, tự đánh giá, tự hợp tác, tự rèn luyện kỹ
năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng
thú học tập cho học sinh.
2.2.3 Gợi nhu cầu nhận thức cho học sinh
Nhà tâm lí học Pôlya nói: “… Con người chỉ tư duy tích cực khi có nhu cầu.
Hoạt động nhận thức chỉ có kết quả cao khi chủ thể ham thích, tự giác và tích cực”.
tìm số trung bình cộng tôi đã sử dụng hình thức thảo luận nhóm 4, yêu cầu HS tóm tắt
bằng sơ đồ đoạn thẳng tìm ra quy tắc tìm số trung bình cộng của nhiều số hạng. Tôi
đã đưa thêm 1 ví dụ nữa, các em tiếp tục thực hành và sau đó tìm điểm chung giữa 2
ví dụ này để cùng rút ra công thức tính.
Ví dụ 2: Số học sinh của 3 lớp 5A, 5B, 5C lần lượt là 25 học sinh, 27 học sinh,
32 học sinh. Hỏi trung bình mỗi lớp có bao nhiêu học sinh ?
Muốn làm được điều đó điều đầu tiên đỏi hỏi các em phải tìm hiểu nội dung bài
toán (đề toán) thông qua việc đọc bài toán dù bài toán cho ở dạng có lời văn hoàn
chỉnh hoặc bằng dạng tóm tắt sơ đồ. Học sinh cần phải đọc kĩ, hiểu rõ đề toán cho
biết cái gì? Bài toán hỏi gì? Khi đọc bài toán phải hiểu thật kĩ một số từ, thuật ngữ
quan trọng chỉ rõ tính huống toán học được diễn đạt theo ngôn ngữ thông thường,
chẳng hạn như “bay đi”, “làm vở”, “ăn hết”. Nếu trong bài toán nào có có thuật ngữ
học sinh chưa hiểu rõ thì giáo viên phải hướng dẫn để cho học sinh hiểu được nội
dung và ý nghĩa của từ đó ở trong bài toán đang làm. Khi đọc đề xong có thể gạch
chân các từ ngữ quan trọng trong đề bài. Các từ ngữ đó là sẽ là cơ sở quan trọng để
tìm ra cách giải bài toán, sau đó cho học sinh thuật lại vắn tắt bài toán mà không cần
phải đọc nguyên văn bài toán đó.
Yêu cầu các nhóm thảo luận tóm tắt bằng sơ đồ như sau:
Khi các em tóm tắt được có nghĩa là các em đã phân tích được bài toán, hiểu
được nội dung bài toán.
Nếu nhóm nào còn lúng túng trong câu hỏi thì tôi đưa ra thêm câu hỏi gợi ý
giúp nhóm đi vào tiến trình phân tích thuận lợi hơn là : Nếu chia đều sô học sinh vào
các lớp thì mỗi lớp có bao nhiêu học sinh? Như vậy các em sẽ dễ dàng nắm bắt kiến
12
thức hơn. Bản thân các em sẽ cảm thấy hứng thú hơn với giờ học bởi chính mình đã
tự tìm ra quy tắc này, tự khắc sâu kiến thức cho bản thân mình.
Học sinh rút ra được cách tìm số trung bình cộng như sau:
Để củng cố phần hình thành kiến thức này giáo viên đưa ra hình thức trò chơi "Ô
cửa bí mật". Mỗi ô cửa là 1 bài tập nhỏ về tìm số trung bình cộng. Trong 1 khoảng
thời gian nào đó các em làm nhanh, nếu bạn nào nhanh và đúng thì sẽ được phần
thưởng. Đó là một trong những hình thức khắc sâu kiến thức cho học sinh.
2.2.5 Tìm hiểu một số sai lầm của học sinh khi giải toán
Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học giải toán có lời văn nói riêng,
giáo viên cần theo dõi để tìm ra được những sai lầm của học sinh trong học tập cũng
như trong giải toán như: không nắm được cách giải; bài giải còn thiếu, phép tính chưa
đúng với lời giải đặt ra; lời giải chưa đầy đủ; sai tên đơn vị… Để từ đó tìm ra hướng
khắc phục những thiếu sót, sai lầm cho học sinh nhằm giúp các em ngày càng tiến bộ
hơn.
Đặc biệt ở bài toán Tìm số trung bình cộng này tôi đã phát hiện ra sai lầm của
các em là nhầm lẫn số các số hạng hoặc là xác định số các số hạng chưa đúng. Sau
đây là một số ví dụ cụ thể tương ứng với các dạng:
a. Dạng 1: Các bài toán giải trực tiếp nhờ công thức
Ví dụ : Bốn em Mai, Hoa, Hưng, Thịnh lần lượt cân nặng là 36kg, 38kg, 40kg,
34kg. Hỏi trung bình mỗi em cân nặng bao nhiêu kg?
* Nguyên nhân sai: Học sinh tính được tổng song xác định sai số các số hạng, áp
dụng công thức tìm số trung bình cộng một cách máy móc rập khuôn. (Học sinh cứ
nghĩ số các số hạng ở đây là 2)
Bài giải:
Số mét kg cân nặng của bốn em là:
36 +38+40+34 = 148(kg)
Trung bình mỗi em cân nặng số kg là
148: 4 = 37(kg)
:Đáp số: 37 kg
b. Dạng 2: Các bài toán chưa giải trực tiếp nhờ công thức
14
43km thì đến tỉnh B. Hỏi trung bình mỗi giờ ô tô chạy được bao nhiêu kilomet?
Bài giải 2: (sai)
2 giờ đầu ô tô chạy được số km là:
46 x 2 = 92 (km )
2 giờ sau ô tô chạy được số km là:
43 x 2 = 86 ( km )
Trung bình mỗi giờ ô tô chạy được số km là:
(92 +86 +52): 3 = 76 (km)
* Nguyên nhân sai: (có 2 nguyên nhân)
- Học sinh không đọc kĩ đề, áp dụng rập khuôn công thức tìm số trung bình
cộng. Bài làm sai, đáp số sai.
- Học sinh nhầm lẫn khi tính trung bình, tính được tổng thấy tổng của ba số hạng
92, 86 và 52 nên đem chia cho 3 dẫn đến bài làm sai (mặc dù kết quả không được
tròn). Học sinh xác định sai số các số hạng
Bài giải:
2 giờ đầu ô tô chạy được số km là:
46 x 2 = 92 (km )
2 giờ sau ô tô chạy được số km là
43 x 2 = 86 ( km )
Số giờ ô tô đã chạy là
2 + 1+ 2 = 5 (giờ)
Tổng số km mà ô tô đã chạy là:
16
92 + 52 + 86 = 230 (km)
Trung bình mỗi giờ ô tô chạy được số km là:
230 : 5 = 46 (km)
Đáp số: 46km
*Ví dụ 3: Một nhà máy làm 246 sản phẩm trong 5 ngày. Hai ngày đầu, mỗi
Số sản phẩm làm trong 3 ngày sau:
246 – 108 = 138 ( sản phẩm)
Trung bình mỗi ngày sau làm được
138 : 3 = 46 ( sản phẩm)
Đáp số: 46 sản phẩm.
Đối với học sinh khá giỏi các em có thể làm bước tính gộp ở bước tính trung
bình cộng
*Ví dụ 4: Trung bình cộng của hai số là 30. Biết một trong hai số đó bằng 18,
tìm số kia?
* Nguyên nhân sai: Đây là bài toán mà tôi thấy học sinh dễ nhầm lẫn nhiều nhất
do tính hấp tấp, đọc không kĩ để, xác đinh chưa đúng nội dung bài toán (bài toán cho
biết trung bình cộng chứ không phải tìm số trung bình cộng),học sinh vẫn áp dụng
máy móc cách tính trung bình cộng dẫn đến bài giải sai. Yêu cầu các nhóm phân tích
lại các bước giải toan tìm số trung bình cộng và phân tích ngược lại nêu biết trung
bình của các số rồi thì ta sẽ tìm được cái gì?
c. Dạng 3: Dạng toán trung bình cộng của dãy số cách đều:
Đối với những bài tập dạng này sẽ được chia thành 2 loại:
- Loại bài dành cho dãy số có số số hạng lẻ.
- Loại bài dành cho dãy số có số số hạng chẵn.
* Ví dụ 1: Tìm 5 số lẻ liên tiếp có tổng là 105.
* Phân tích: Ta biết rằng 2 số lẻ liên tiếp cách nhau 2 đơn vị. Vậy số thứ ba (là
số chính giữa dãy số) của 5 số lẻ liên tiếp bằng trung bình cộng của 5 số đó. Từ đó
tìm ra các số khác.
18
Cách 1
Bài giải:
2
2
2
5 lần số thứ nhất là:
105 – ( 2
2
+2+2+2+2+2+2+2+
2 + 2 ) = 85
Số thứ nhất là: 85:5 = 17
Số thứ hai là:
17 +2 = 19
Số thứ ba là: 19 +2 = 21
Số thứ tư là: 21 +2 = 23
Số thứ năm là: 23 +2 = 25
Đáp số: 17, 19, 21, 23, 25
19
d. Dạng 4: Dạng toán liên quan đến bản chất của số trung bình cộng trong
một dãy
Đối với dạng này, giáo viên cần cho học sinh nắm được bản chất sau: Nếu ta
Đáp số: 24 hòn
Từ việc thống kê được một số lỗi sai lầm học sinh thường mắc phải khi giải các bài
toán Tìm số trung bình cộng, tôi đã đưa ra một số biện pháp nhằm khắc phục, đó là:
- Cần suy nghĩ về tình huống bài toán để hiểu ý nghĩa các số đã nêu trong bài
toán, xác định đâu là cái đã cho, đâu là cái phải tìm.
- Tóm tắt bài toán bằng sơ đồ hoặc bằng ngôn ngữ kí hiệu ngắn gọn. Thông qua
đó để thiết lập mối liên hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm.
- Phân tích bài toán để tìm cách giải. Kết quả của bước này là xác định một trình
tự để giải toán.
- Lần lượt thực hiện các phép tính theo trình tự giải đó. Có để đi tới đáp số. Cần
thử lại sau mỗi phép tính và đáp số để tự kiểm tra xem mình đó chắc đóng chưa, sau
đó viết cẩn thận bài giải vào vở.
2.2.6 Làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh học sinh
Xây dựng mối quan hệ Gia đình – Nhà trường có vai trò quan trọng trong tất cả
các môn học. Riêng phân môn Toán đặc biệt là giải toán có lời văn thì giáo viên cần
có biện pháp phối kết hợp cùng gia đình để rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh,
đó cũng chính là một trong những nội dung giá của Thông tư 30/2014/ TT-BGDĐT,
cụ thể:
- Đề nghị phụ huynh thường xuyên theo dõi dành quỹ thời gian hợp lý để kèm
các em học giải toán khi cần.
21
- Cung cấp các thông tin về tình hình học tập, sai lầm và lỗi hay gặp của học
sinh để phụ huynh phối hợp cùng uốn nắn sửa chữa.
- Cung cấp các số liệu về môi trường làm việc của trẻ để phụ huynh nắm được
như: Quy cách bàn – ghế phù hợp với trẻ, khoảng thời gian hợp lý để học.
- Phối hợp cùng gia đình học sinh động viên giúp đỡ học sinh bằng các hình
thức như điện thoại, sổ liên lạc,…
2.2.7 Linh hoạt trong lựa chọn cách kiểm tra và đánh giá học sinh theo
- Em làm bài nhanh, kĩ năng tính toán tốt, trình bày sạch đẹp. Đáng khen!
- Em đã cố gắng hoàn thành bài làm, để đạt được kết quả tốt hơn em cần xác định
đúng số các số hạng và tính toán cẩn thận hơn...
* Trong quá trình dạy học tôi luôn áp dụng những biện pháp trên vào giảng dạy.
Sau đó tôi đã tiến hành khảo sát học sinh và thấy rằng các em nhận ra dạng toán, trình
bày được bài giải, chỉ có một số ít em sơ suất do tính toán, chất lượng học tập của học
sinh có chuyển biến rõ rệt, đặc biệt kĩ năng giải toán về tìm số trung bình cộng được
nâng lên đáng kể, các em sôi nổi tích cực xây dựng bài, hứng thú hơn trong giờ học.
Kết quả học lực môn Toán học kì I:
Điểm
HS
(Tỉ lệ %)
9- 10
8 ( 32%)
(Tăng 8%)
7- 8
11 (44%)
(Tăng 16%)
5- 6
6 (24%)
(Giảm 12%)
3- 4
0(0%)
(Giảm 12%)
tập qua vận dụng thực tế.
Ý nghĩa của đề tài còn thể hiện ở một số bài học kinh nghiệm sau:
1. Thay đổi không gian lớp học phù hợp
2. Vận dung mô hình dạy học VNEN
3. Biết cách gợi nhu cầu nhận thức cho học sinh để tích cực tham gia xây dựng
bài
4. Tổ chức cho học sinh trải nghiệm, phân tích khám pha và rút ra được kiến
thức mới
5. Nắm được một số sai lầm của học sinh khi giải toán để đưa ra được các biện
pháp nâng cao chất lượng
6. Phải làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh học sinh
7. Linh hoạt trong lựa chọn hình thức và phương pháp dạy học và đánh giá học
sinh
Để nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình công giáo viên cần
phải thực hiện tốt những biện pháp nêu trên. Đề tài nghiên cứu trong phạm vi đối
tượng học sinh trường tiểu học nơi tôi công tác, tôi mạnh dạn chia sẻ cùng đồng
nghiệp.
3.2 Kiến nghị, đề xuất
1. Đối với giáo viên :
24
- Không ngừng học tập, trau dồi kiến thức cho bản thân để tìm ra phương pháp
dạy học tốt nhất. Tự giác tu dưỡng, rèn luyện bải thân để thực sự là tấm gượng sáng
cho học sinh noi theo.
2. Đối với nhà trường
- Trang bị đầy đủ đồ dùng dạy học đặc biệt là các thiết bị dạy học hiện đại
- Tổ chức các buổi hội thảo, củng cố chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy
học.
Những vấn đề được nêu trên đây chỉ có tính chất trao đổi kinh nghiệm trong