luận văn thạc sĩ Phương pháp hướng dẫn làm các bài thực hành phần địa lý tự nhiên lớp 10 thpt tỉnh thái nguyên theo hướng tích cực - Pdf 47

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ THỊ TÂM

PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN LÀM CÁC BÀI
THỰC HÀNH PHẦN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỚP
10 THPT TỈNH THÁI NGUYÊN
THEO HƯỚNG TÍCH CỰC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ
MÔN ĐỊA LÝ
MÃ SỐ: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. NGUYỄN THỊ HỒNG

THÁI NGUYÊN, 2008


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ THỊ TÂM

PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN LÀM CÁC BÀI
THỰC HÀNH PHẦN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỚP
10 THPT TỈNH THÁI NGUYÊN
THEO HƯỚNG TÍCH CỰC

CT & SGK trong nhà trường phổ thông các cấp đã có thêm nhiều nội dung
mới theo hướng tăng mạnh kênh hình, giảm dần kênh chữ, tỷ trọng BTH tăng
lên đáng kể.
Tuy nhiên, thực trạng giảng dạy trong nhà trường cho thấy thực hành
hiện vẫn là khâu yếu, chưa được quan tâm đầy đủ dẫn tới kết quả học tập của
học sinh chưa tương xứng với yêu cầu. Đây chính là tình hình chung của các
trường phổ thông ở thành phố cũng như vùng nông thôn và đặc biệt là ở vùng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




khó khăn. Nhìn chung CT & SGK Địa lý trước đây nặng về lý thuyết, các
BTH còn ít nên kỹ năng thực hành của học sinh còn yếu và khả năng vận
dụng kiến thức đã học vào thực tế còn hạn chế, tính năng động, sáng tạo, làm
việc khoa học của người học chưa được phát huy.
Từ năm 2006-2007, CT & SGK Địa lý lớp 10 được triển khai đại trà trên
phạm vi toàn quốc. Đòi hỏi phải ứng dụng các phương pháp dạy học mới theo
hướng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh. Theo tinh thần
đó, căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của một số trường THPT tỉnh Thái Nguyên,
chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Phương pháp hướng dẫn làm các bài thực hành phần Địa lý tự nhiên
lớp 10 THPT tỉnh Thái Nguyên theo hướng tích cực”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu vận dụng các phương pháp hướng dẫn làm BTH nhằm rèn
luyện kĩ năng xử lý các BTH, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy BTH
Địa lý lớp 10 (phần Địa lý tự nhiên) theo CT & SGK hiện nay.
- Vận dụng các phương pháp hướng dẫn làm BTH qua thực nghiệm trong
điều kiện một số trường THPT tỉnh Thái Nguyên.

Về phía học sinh để làm tốt các BTH cũng phải có sự chuẩn bị đồ dùng
học tập, sự kiên trì, có óc sáng tạo và nắm chắc kiến thức lý thuyết.
Gần đây, các BTH rất được coi trọng và chú ý. Đã có một số tài liệu đề
cập đến phương pháp để tiến hành giảng dạy các BTH Địa lý nhưng vẫn còn
rất ít ỏi và các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu còn hạn chế, chưa
đúng với tầm quan trọng của nó.
Chúng tôi điểm qua một số tác phẩm của Việt Nam và Thế giới đề cập
đến vấn đề này:
* Ở Việt Nam :
- Mai Xuân Cương, Đào Trọng Năng (dịch). Các phương pháp giảng dạy
Địa lý, Nxb GD (1976).
- Nguyễn Dược, Mai Xuân San. Phương pháp giảng dạy Địa lý (dùng
cho các trường cao đẳng sư phạm), Nxb GD (1986).


- Nguyễn Dược, Nguyễn Việt Hùng, Trần Văn Thắng. Dạy học các bài
thực hành Địa lý PTTH, Nxb Đại học sư phạm Huế (1993).
- Mai Xuân San. Rèn luyện kỹ năng Địa lý cho học sinh trường THPT,
Nxb GD (1997).
- Đặng Văn Đức, Nguyễn Thu Hằng. Phương pháp dạy học Địa lý theo
hướng tích cực, Nxb ĐHSP HN (2003).
- Nguyễn Trọng Phúc. Phương pháp dạy học Địa lý theo hướng tích cực,
Nxb ĐHSP HN(2004)…
* Trên Thế giới :
- I.F. Kharlamôp - Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế
nào, tập 1, Nxb GD (1979).
- Panssetnhicova L. V - Phương pháp giảng dạy Địa lý trong nhà trường,
Nxb GD (1975)…
Những tác phẩm trên đều đề cập đến các dạng và hình thức thực hiện
các BTH Địa lý, đó là cơ sở để chúng tôi tham khảo trong quá trình thực

6.5. Phƣơng pháp thống kê toán
Sử dụng toán thống kê để xử lý, kiểm tra, đánh giá kết quả đạt được qua
tìm hiểu thực tế; qua việc thực nghiệm các phương pháp hướng dẫn làm BTH
phần Địa lý tự nhiên lớp 10 THPT.
6.6. Phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm
Sử dụng các phương pháp hướng dẫn làm BTH Địa lý thí nghiệm lớp
10 cho phù hợp với từng địa phương là quá trình thử nghiệm lâu dài, phụ
thuộc vào tình hình thực tế từng trường mà từ đó đưa ra những giải pháp tối
ưu phù hợp.
7. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

- Xác định được các phương pháp hướng dẫn làm BTH phù hợp với nội
dung CT & SGK hiện nay, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội với mục tiêu
của giáo dục là phát huy vai trò tự học của học sinh theo hướng tích cực, sáng
tạo nhằm phát triển tư duy của học sinh.


- Vận dụng lý luận dạy học hiện đại vào quá trình hướng dẫn làm BTH.
Thay đổi cách dạy và học BTH trong điều kiện một số trường phổ thông đặc
biệt là các trường THPT vùng dân tộc và miền núi tỉnh Thái Nguyên.
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn
được trình bày làm ba chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Các phương pháp hướng dẫn làm bài thực hành phần Địa lý
tự nhiên lớp 10 THPT.
Chương 3: Kết quả thực nghiệm sư phạm.



mối quan hệ nhân quả dựa trên kiến thức đã nắm bắt được có thể tìm tòi, sáng
tạo ra kiến thức mới ở mức độ cao hơn. Đặc trưng của kiến thức Địa lí là tính
không gian rộng lớn, các quá trình diễn ra lâu dài nên rất phong phú và phức
tạp, vì vậy cần tăng cường sự hỗ trợ của các phương tiện để hình thành kiến
thức mới.
1.1.2. Những yêu cầu khi giảng dạy bài thực hành Địa lý lớp 10 THPT
Bài thực hành được giảng dạy sau khi học sinh học các bài lý thuyết và
đã có một số kỹ năng ban đầu. Giờ thực hành yêu cầu học sinh rèn luyện kỹ
năng, kỹ xảo, các thao tác thành thạo và phát huy tính năng động sáng tạo,
nguồn trí lực dồi dào trong học tập. Kỹ năng thực hành Địa lí là yêu cầu
không thể thiếu của việc học môn Địa lí bởi các kỹ năng là thước đo kết quả
học tập của học sinh theo xu hướng dạy học tích cực.
Căn cứ vào CT & SGK Địa lí 10 hiện nay việc tổ chức và đổi mới
phương pháp dạy và học bài thực hành Địa lí phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Tổ chức cho học sinh học các bài tập thực hành Địa lí bằng phương
pháp tự học có hướng dẫn của giáo viên.
- Xây dựng các phòng thực hành bộ môn với trang thiết bị phù hợp với
mục đích, nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy đáp ứng nhu cầu
học tập của học sinh.
- Bài thực hành thường gắn với các thiết bị dạy học nên tổ chức theo kiểu
cá thể hoá hoặc chia nhóm nhằm phát huy vai trò tự học của học sinh.
- Học sinh cần chuẩn bị bài thực hành trước khi tiến hành ở trên lớp.
- Cải tiến việc kiểm tra đánh giá, nâng cao vai trò và khả năng tự đánh
giá của học sinh.
1.1.3. Các phƣơng pháp dạy học Địa lí chủ yếu ở bậc THPT
Phương pháp dạy học là nhân tố quan trọng của quá trình dạy học, trên
quan điểm hệ thống nhân tố này được đặt trong mối quan hệ với nhân tố khác


như mục tiêu và nội dung dạy học. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo thì phương

thức hoạt động của người giáo viên để truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ
năng, là sự kết hợp các biện pháp và phương tiện trong quá trình dạy học
hướng tới mục đích của giáo dục. Vấn đề dạy học hiện nay là phải tổ chức
hoạt động cho người học tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả nhất: đó là
người học tích cực chủ động lĩnh hội tri thức đồng thời có được kỹ năng cần
thiết để hình thành nhân cách trong ứng xử với xã hội và môi trường.
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự tăng trưởng
không ngừng về kinh tế của các nước trên thế giới, những vòng xoáy biến đổi
của nền kinh tế thị trường trong quá trình hội nhập đòi hỏi người giáo viên
phải thiết kế được hệ phương pháp dạy học mềm dẻo, linh hoạt, giúp người
học thích ứng, hoà nhập tích cực với cuộc sống hiện thực. Sau nhiều thập kỷ,
hệ thống dạy học cá thể hoá được lặp lại ở trình độ cao tương ứng với bước
phát triển nhảy vọt về chất của vòng xoáy ốc. Dạy học cá thể hoá tương ứng
với nền giáo dục có quy mô lớn và trình độ phát triển cao, đa dạng, luôn biến
động với những hình thức tổ chức đa dạng và linh hoạt đáp ứng nhu cầu học
tập của người học.
Sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và đặc biệt là CNTT
đã ảnh hưởng sâu sắc tới sự nghiệp GD & ĐT. Đổi mới phương pháp dạy học
trên cơ sở ứng dụng CNTT là phương pháp làm tăng giá trị và tốc độ trao đổi
thông tin nhanh và hiệu quả hơn.
Các thành tựu tin học ứng dụng trong giảng dạy là một trong những giải
pháp hiệu quả thực hiện mục tiêu của quá trình dạy học, tác động lớn tới các
nội dung đổi mới các môn học trong đó có môn Địa lí.


Máy tính với các phần mềm dạy học tương ứng là phương tiện dạy học
hiện đại và hiệu quả giúp cho quá trình dạy học theo hướng tích cực lấy học
sinh làm trung tâm. Địa lí là môn khoa học có từ rất sớm lại gần gũi với cuộc
sống và liên quan đến nhiều môn khoa học nên có thể tìm kiếm thông tin từ
nhiều nguồn, nhiều dạng tư liệu khác nhau. Sử dụng máy tính với các phần

dạy học.
Xu hướng cải tiến phương pháp dạy học hiện nay là phương pháp dạy
học lấy học sinh làm trung tâm, nhằm huy động tối cao chức năng tâm lý và
nhận thức. Cần huy động học sinh tích cực tái hiện, tích cực tìm tòi phát hiện
cái mới, cái hay, cái thú vị và đặc biệt là tích cực sáng tạo. Thông qua các
phương pháp dạy học, các bài tập thực hành trong giảng dạy Địa lí cần được
lồng ghép, tích hợp trong tất cả các tiết học đồng thời tăng thời lượng trong
chương trình học.
Quan điểm về dạy thực hành Địa lí đã có chuyển biến tích cực, nhưng
trong đó, cách dạy để đạt hiệu quả tối ưu các bài thực hành là yếu tố quan
trọng giúp học sinh phát huy năng lực trí tuệ, tư duy sáng tạo tìm tòi, đồng
thời rèn luyện kỹ năng thực hành cho HS là khởi nguồn cho khả năng thích
ứng nhanh chóng với thị trường lao động trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước.
1.2. CÁC PHƢƠNG PHÁP TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC BTH ĐỊA LÝ TỰ
NHIÊN LỚP 10 THPT

1.2.1. Quan điểm dạy học tích cực
Phương pháp dạy học theo hướng tích cực thực chất là cách dạy hướng
tới việc học tập tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, chống lại thói quen học
tập thụ động của học sinh.
Dạy và học tích cực là một trong những mục tiêu chung và cũng là một
tiêu chuẩn về giáo dục hiệu quả hiện nay, đó là đổi mới nhiều mặt của quá
trình dạy học.


Việc dạy học được thực hiện theo hướng tích cực sẽ đem lại hiệu quả cao
bản chất của nó đã thay đổi theo hướng là lấy học sinh làm trung tâm, dạy học
gắn với người học và nhu cầu của xã hội.
Người giáo viên không đóng vai trò truyền đạt kiến thức mà là người
thiết kế và giúp học sinh thực hiện học tập một cách tích cực, phù hợp với

đường học tập không chỉ mang tính chất cá nhân mà lớp học là một môi
trường học tập mở, giữa thầy và trò, trò với trò có mối quan hệ cá nhân được
điều chỉnh, khẳng định hay bác bỏ... sẽ giúp người học nâng mình lên một
trình độ mới. Chính cách học hợp tác này giúp cho học sinh thích ứng với đời
sống xã hội tốt hơn.
Một điều rất quan trọng trong dạy học tích cực là dạy học có sự phản hồi
để được điều chỉnh từ cả phía thầy và trò. Vì vậy việc kiểm tra đánh giá học
sinh không mang tính độc quyền của người giáo viên như trước đây, mà học
sinh cũng được tự đánh giá. Mặt khác việc kiểm tra đánh giá không chỉ là tái
hiện kiến thức, lặp lại kỹ năng mà còn khuyến khích óc sáng tạo, rèn luyện
khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh. Do đó phải có những
phương pháp và kỹ thuật đánh giá được đưa vào nhà trường giúp cho việc
đánh giá trở nên thuận lợi, kịp thời góp phần để điều chỉnh việc dạy và học.
Như vậy dạy học tích cực thực sự sẽ đem lại chất lượng và hiệu quả mới
cho việc dạy học. Muốn vậy giáo viên không đơn thuần là người truyền đạt
kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức hướng dẫn các hoạt động - độc
lập hoặc theo nhóm để học sinh tự lực chiếm lĩnh các kiến thức mới, hình
thành các kỹ năng, thái độ mới theo yêu cầu của sự phát triển hiện này. Vì thế
vai trò của người giáo viên ngày càng trở nên quan trọng. Yêu cầu đối với
giáo viên thực sự cao hơn, phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ
sư phạm lành nghề, có đầu óc sáng tạo và nhạy cảm mới có thể tổ chức,
hướng dẫn hoạt động học tập độc lập của học sinh có hiệu quả.


Để có thể đạt được những yêu cầu nói trên trong việc dạy học tích cực
người giáo viên phải có khâu chuẩn bị chu đáo và công phu trước giờ lên lớp.
Từ nội dung, phương pháp đến cách thức tổ chức dạy học, cũng như việc sử
dụng các phương tiện dạy học như thế nào, đối tượng học sinh ra sao… đều
phải được dự kiến, chuẩn bị trước thì bài học mới có thể thành công, đem lại
hiệu quả như mong muốn. Do đó dạy học tích cực không chỉ tích cực hoá

PP giảng giải là PP giáo viên dùng lời để giải thích các sự kiện, hiện
tượng Địa lý…PP giảng giải thường kết hợp với các phương tiện trực quan
(tranh ảnh, số liệu, bản đồ…) để minh hoạ cho lời giải thích, trong trường hợp
này thường gọi là PP giải thích - minh hoạ. Trong khi giải thích, GV có thể
dùng biện pháp quy nạp, trước tiên đưa ra các số liệu, sự kiện, hiện tượng Địa
lý cụ thể rồi sau đó mới tìm ra nguyên nhân.
Gần đây, xu hướng tăng cường phát huy trí lực của HS, PP giảng giải
thường kết hợp với PP đàm thoại để trở thành một biện pháp yêu cầu HS tìm và
phát biểu về mối quan hệ nhân quả. Việc giải thích trước đây thường do GV chủ
động thực hiện, nay được chuyển thành những câu hỏi để cho HS trả lời.
* Phương pháp đàm thoại:
Là PP mà GV là người chủ động khéo léo đặt câu hỏi hoặc hệ thống câu
hỏi để HS trả lời. Trong PP đàm thoại sự tham gia của HS có ở nhiều mức độ.
Điều đó phụ thuộc vào yêu cầu của GV về mục đích của cuộc đàm thoại. PP
này có thể dùng để cung cấp tri thức mới cho HS. Cũng có thể PP này dùng
để phát huy trí lực, gợi mở cho HS làm sáng tỏ những vấn đề mới, giúp cho
HS tự khám phá những tri thức bằng sự tái hiện những tài liệu đã học từ
những kinh nghiệm đã được tích luỹ trong cuộc sống.
Nếu căn cứ vào mục đích sư phạm của PP đàm thoại, có thể phân ra: đàm
thoại gợi mở, đàm thoại củng cố, đàm thoại tổng kết, đàm thoại kiểm tra.


Trong dạy học Địa lí, PP đàm thoại thường được vận dụng trong hầu hết
tất cả các loại bài và cũng thường được kết hợp các PP dạy học Địa lí khác
như: sử dụng bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu...
PP này phụ thuộc vào kĩ thuật đặt câu hỏi của GV và cách tổ chức hoạt
động cho HS.
* Phương pháp dạy học nêu vấn đề:
PP dạy học nêu vấn đề thực chất là hình thức cải tiến của PP diễn giải
truyền thống trước đây, trong PP này GV không trình bày tri thức theo trình

không một phương tiện nào có thể làm được, những kí hiệu, màu sắc, cách
biểu hiện trên bản đồ là những nội dung Địa lí được mã hoá, trở thành một
thứ ngôn ngữ đặc biệt “ngôn ngữ bản đồ”.
Về mặt PP, bản đồ được coi là phương tiện trực quan, giúp HS khai thác,
củng cố tri thức và phát triển tư duy trong quá trình giảng dạy Địa lí. Để khai
thác được tri thức trên bản đồ, GV cần phải hướng dẫn cho HS hiểu bản đồ,
đọc được bản đồ, nắm được kiến thức lí thuyết về bản đồ, trên cơ sở đó có
được kĩ năng làm việc với bản đồ. Điều đó hoàn toàn đúng với nhận định
“Địa lí bắt đầu bằng bản đồ, kết thúc cũng bằng bản đồ”.
* Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức Địa lí qua các số
liệu thống kê và biểu đồ:
Các số liệu thống kê có ý nghĩa nhất định trong việc hình thành các tri
thức về Địa lí tự nhiên cũng như Địa lí KT - XH.
Trong Địa lí tự nhiên nhờ số liệu thống kê biết được sự phát triển, mối
quan hệ của các hiện tượng tự nhiên, KT - XH, qua những số liệu, HS có thể
xác định được cơ cấu của các ngành kinh tế, giải thích được tốc độ tăng
trưởng, trình độ phát triển của một nước, hay biết được độ dài của một con
sông, lượng mưa trung bình của một vùng/ năm... Là một trong những biện


pháp làm tăng tính hiểu biết về thực tiễn, định lượng hoá đối tượng nghiên
cứu, bởi vì các số liệu không chỉ có trong các tài liệu Địa lí mà chúng còn
được giới thiệu rộng rãi trên các báo chí, các tài liệu thông tin đại chúng.
Thông thường, trong quá trình dạy học Địa lí, GV giới thiệu các số liệu
để cùng HS giải thích, làm sáng tỏ nội dung bài học hoặc cho HS phân tích để
khai thác tri thức Địa lí mới. Trong quá trình sử dụng các số liệu GV cần bồi
dưỡng cho HS năng lực so sánh, đối chiếu, phân tích số liệu, hoặc trong
trường hợp, để tìm ra được những kiến thức mới cần xử lí các số liệu với các
tính toán cụ thể. Làm như vậy mới hướng dẫn HS khai thác được hết ý nghĩa
về sự phong phú của các con số cũng như các dạng biểu đồ, đồ thị trong dạy

- Thu thập số liệu và dữ kiện thích hợp
- Sắp xếp và phân tích số liệu dữ kiện
- Xây dựng giải pháp
- Thử nghiệm
- Đưa ra kết luận
* Phương pháp ứng dụng CNTT:
Chúng ta đang sống trong thời kì phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ
thuật và công nghệ thông tin. Những thành tựu của nó đã đẩy nhanh tốc độ
phát triển của xã hội, tác động và ảnh hưởng sâu rộng đến mọi lĩnh vực của
sản xuất và đời sống. Trong sự phát triển đó giáo dục cũng đã có sự thay đổi
lớn lao, vai trò và vị thế ngày càng trở nên to lớn và quan trọng. Khoa học kỹ
thuật đã tạo ra một nguồn tri thức khổng lồ đòi hỏi lĩnh hội sâu rộng trong đời
sống - đó chính là nhiệm vụ đặt ra cho giáo dục. Đồng thời để đáp ứng kịp
thời sự phát triển đó giáo dục cần phải đào tạo ra một nguồn nhân lực có trình
độ tương xứng. Mối quan hệ đó đẩy giáo dục phát triển lên một tầm cao mới một nền giáo dục hiện đại - giáo dục gắn với CNTT...


Do đó hiện nay trong việc dạy học nói chung, thiết kế bài giảng nói riêng
ngoài các phương pháp dạy học truyền thống thì CNTT đóng vai trò quan
trọng với những tính năng ưu việt.
Chúng ta biết rằng để tiến hành thành công bài học trên lớp thì giáo viên
phải có một bản thiết kế bài giảng (giáo án) thật tốt. Ở đó bao gồm toàn bộ ý
tưởng thể hiện nội dung, phương pháp, cách tổ chức dạy học cũng như các
tình huống hoạt động học tập mà chuẩn bị cho người học.
Để làm tốt việc thiết kế bài giảng có sử dụng CNTT, giáo viên phải có
đầy đủ những tư liệu cần thiết phục vụ cho bài học. Tất cả đều được vi tính
hoá để có thể sử dụng hiệu quả. Chính vì vậy CNTT không chỉ là phương tiện
dạy học hữu ích (máy vi tính, máy chiếu, màn hình Overheat...) mà chính là
một thư viện thu nhỏ, một tổng bộ bao gồm những yếu tố cần thiết phục vụ
cho dạy học.

tiết, khái quát vừa đầy đủ lại hiện đại với nhiều hệ thống kênh hình, kênh chữ
cũng như âm thanh, phim ảnh... Do đó có thể nói công nghệ thông tin góp
phần to lớn là hoàn thiện, hiện đại hoá việc thiết kế bài giảng của giáo viên,
góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.
Mặt khác các phương tiện, thiết bị kỹ thuật của CNTT cho phép người
giáo viên tiết kiệm được rất nhiều thời gian trên lớp, học sinh có nhiều thời
gian để học tập, nghiên cứu hơn. Quá trình trao đổi diễn ra nhiều hơn qua đó
làm tăng khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh.
Như vậy từ những vai trò to lớn ấy của CNTT đối với việc dạy học nói
chung và thiết kế bài giảng nói riêng chúng ta thấy rằng cần thiết phải đưa
CNTT vào trong quá trình dạy học để nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu
quả dạy học.
1.3. THỰC TIỄN DẠY HỌC CÁC BÀI THỰC HÀNH Ở MỘT SỐ TRƢỜNG THPT
TỈNH THÁI NGUYÊN


1.3.1. Khái quát về tình tình KTXH tỉnh Thái Nguyên
2

Thái Nguyên là tỉnh với diện tích tự nhiên 3546.6 km có nhiều dân tộc
anh em cùng sinh sống với dân số 1137.7 nghìn người (2007), là cửa ngõ giao
lưu kinh tế - xã hội của vùng Trung du và miền núi phía Bắc với các tỉnh
Đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà Nội. Tỉnh Thái Nguyên có thế mạnh về
tài nguyên khoáng sản và một số cơ sở công nghiệp đang trên đà phát triển;
nông nghiệp với tốc độ tăng trưởng hàng năm trên 6%. Cây chè là một trong
những cây công nghiệp mũi nhọn, đồng thời là thương hiệu nổi tiếng trên thị
trường trong và ngoài nước. Thành phố Thái Nguyên là trung tâm công
nghiệp nặng của vùng Đông Bắc, với các ngành công nghiệp sản xuất sắt
thép, kim loại màu, công nghiệp khai khoáng và cơ khí chế tạo. Thành phố
Thái Nguyên đồng thời là một trong những trung tâm đào tạo với nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status