Các hiệp định thương mại tự do kiểu mới và hàm ý chính sách đối với Việt Nam (tt) - Pdf 47

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Phan Thanh Nga

CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO KIỂU MỚI
VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế
Mã số:

9 31 01 06

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI – Năm 2017


2

Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội
Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
Hướng dẫn 1: PGS.TS. Phạm Thái Quốc
Hướng dẫn 2: PGS.TS. Nguyễn Xuân Trung

Phản biện 1: PGS.TS. Đỗ Đức Bình............. ...........................
Phản biện 2: PGS.TS. Đoàn Xuân Thuỷ
Phản biện 3: Nguyễn Văn Thanh

kinh tế - thương mại toàn diện EU – Canada (CETA, ký kết năm 2016),
Hiệp định đối tác kinh tế EU – Nhật Bản (kết thúc đàm phán tháng
12/2017)…
Các FTA kiểu mới này có đặc trưng cơ bản là thường vượt ra ngoài
phạm vi thương mại – đầu tư của các FTA thông thường, có nhiều tiêu
chuẩn kỹ thuật cao hơn so với các tiêu chuẩn hiện tại của Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO), bao gồm các điều khoản như mua sắm của chính
phủ, sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, phát
triển bền vững (lao động và môi trường), giải quyết tranh chấp… Được coi
là chuẩn bị cho mức độ tiếp theo của tự do hóa thương mại [97], các FTA
kiểu mới đang tạo ra những cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức,
đặc biệt là đối với các nước đang phát triển.
Mặc dù xu hướng hình thành các FTA kiểu mới có tác động quan
trọng tới kinh tế thế giới cũng như từng quốc gia thành viên và cả các nước
không tham gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, nhưng đến nay, cả
trong và ngoài nước đều chưa có nhiều công trình nghiên cứu, tổng hợp về
đặc điểm và tác động của các FTA này. Cho tới nay, Việt Nam mới tham
gia 02 FTA kiểu mới với các đối tác đang cổ súy mạnh mẽ cho FTA kiểu
mới là EU và Mỹ, gồm EVFTA và TPP (nay là CPTPP). Điều đó đặt ra
yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu, tìm hiểu các FTA kiểu mới nhằm đổi
mới nhận thức, góp phần xác định sớm và đúng các cơ hội, thách thức, làm
tốt công tác chuẩn bị, phát huy cơ hội, giảm thiểu thách thức, nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia, điều chỉnh chính sách và bảo vệ lợi ích quốc


2

gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.Với ý nghĩa đó,
luận án: “Các hiệp định thương mại tự do kiểu mới và hàm ý chính
sách đối với Việt Nam”là đề tài nghiên cứu cần thiết và kịp thời, có giá

3.1. Đối tượng nghiên cứu:Luận án tập trung nghiên cứu các FTA
kiểu mới do EU và Mỹ đề xuất, đàm phán và ký kết từ năm 2006 tới nay
(khái niệm FTA kiểu mới được trình bày kỹ hơn trong Chương 2 – Cơ sở
lý luận của sự hình thành FTA kiểu mới).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi nội dung nghiên cứu: luận án tập trung vào các khía cạnh
khái niệm, đặc điểm, nội dung chính, xu hướng hình thành các FTA kiểu
mới do EU và Mỹ đề xuất, đàm phán và ký kết kể từ năm 2006 tới nay; tác


3

động đối với nền kinh tế thế giới, các nước tham gia, nước thứ ba (không
tham gia FTA) và hàm ý chính sách đối với Việt Nam.
- Về phạm vi loại hình FTA: luận án chỉ tập trung vào các FTA kiểu
mới (còn được gọi là “thế hệ mới”) do Mỹ và EU đề xuất, đàm phán và ký
kết từ 2006 tới nay (khái niệm FTA kiểu mới sẽ được trình bày kỹ hơn
trong Chương 2 – Cơ sở lý luận của sự hình thành FTA kiểu mới).
- Về phạm vi thời gian xem xét: luận án tập trung vào các FTA kiểu
mới được đề xuất, đàm phán và ký kết từ năm 2006 tới nay.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
- Cách tiếp cận: Luận án chủ yếu sử dụng cách tiếp cận định tính,
theo phương pháp hệ thống, duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; theo lý
thuyết kinh tế học, lý thuyết về chính sách thương mại quốc tế.
Luận án sử dụng lý thuyết tổng hợp về hội nhập kinh tế, kết hợp với
vận dụng vào thực tiễn xu hướng hình thành các FTA kiểu mới trên thế
giới từ năm 2006 tới nay, rút ra khái niệm, đặc điểm, tác động, triển vọng
của FTA kiểu mới, đặc biệt là tác động đối với Việt Nam, từ đó rút ra hàm
ý chính sách dựa trên kết quả khảo sát lý luận và nghiên cứu thực tiễn.
Khung phân tích cơ bản như sau:

study) đối với 03 FTA kiểu mới là TTIP, TPP/CPTPP và EVFTA. Trong
một số vấn đề, luận án sử dụng kết quả nghiên cứu định lượng của các
công trình nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nước, làm căn cứ minh
họa cho các nhận định của luận án.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Làm rõ được cơ sở hình thành của FTA kiểu mới, cụ thể là đã làm rõ
khái niệm, đối tượng, phạm vi và mức độ cam kết của các FTA kiểu mới;
các yếu tố tác động làm hình thành, xu hướng phát triển và dự báo triển


4

vọng của các FTA kiểu mới trên thế giới; từ đó đóng góp vào việc hoàn
thiện lý luận về sự phát triển của một thế hệ FTA tiếp theo, được dự báo là
bước chuẩn bị cho mức độ tiếp theo của xu hướng tự do hóa thương mại
toàn cầu, với nền tảng pháp lý và đặc trưng riêng mới.
- Chỉ ra được những khuyết thiếu trong các quy định hiện hành của hệ
thống thương mại đa phương, đặc biệt là trong các quy định của WTO về
các căn cứ điều tiết và hình thành một FTA; từ đó chỉ ra yêu cầu cấp thiết
phải sớm hoàn thiện các quy định pháp lý của hệ thống thương mại đa
phương, trước hết là của WTO, để làm nền tảng cơ sở, tạo khung khổ pháp
lý cho sự phát triển và phổ cập các FTA kiểu mới trong thời gian tới.
- Tổng hợp đánh giá tác động định lượng và định tính của các FTA
kiểu mới đối với nền kinh tế thế giới, các nước tham gia, các nước thứ ba
(không tham gia) và đối với Việt Nam, thông qua việc nghiên cứu tác động
cụ thể của một số FTA kiểu mới điển hình, trên quan điểm tiếp cận toàn
diện, không chỉ về mặt lợi ích kinh tế mà còn dưới góc độ đảm bảo lợi ích,
an ninh quốc gia của Việt Nam, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
ngày càng sâu rộng hơn và việc tham gia các FTA kiểu mới.
- Rút ra được những hàm ý chính sách, là các vấn đề mới mà thực tiễn

Chương 2 – Cơ sở lý luận của sự hình thành FTA kiểu mới
Chương 3 – Xu hướng hình thành các FTA kiểu mới và tác động
Chương 4 – Triển vọng của các FTA kiểu mới và hàm ý chính sách
đối với Việt Nam
CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN FTA VÀ FTA KIỂU MỚI
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong giai đoạn 1992-2000: chưa có nhiều bài viết, nghiên cứu và đề
tài liên quan tới chủ đề còn mới mẻ với Việt Nam lúc đó là tự do hóa
thương mại và các FTA. Các bài viết phần lớn chỉ tập trung phân tích,
đánh giá quá trình hình thành, đặc điểm, nội dung của một số FTA cụ thể
(như ACFTA, BTA Việt Nam – Hoa Kỳ, Hiệp định thương mại tự do Bắc
Mỹ - NAFTA ký kết năm 1994) và đánh giá tác động đối với Việt Nam.
Trong giai đoạn 2001-2006:các công trình, nghiên cứu tập trung về xu
hướng hình thành FTA trên thế giới, triển vọng và tác động của xu hướng
hình thành FTA đối với Việt Nam. Các công trình phần lớn đề cập về quá
trình hình thành một số FTA cụ thể tại Đông Nam Á, Đông Bắc Á [54],
[60]; về các điều kiện tác động tới xu hướng hình thành FTA trên thế giới
và tại Châu Á – Thái Bình Dương [61], [18], [60], [54]; về phân tích, đánh
giá tác động của một số FTA cụ thể và xu hướng hình thành FTA tập trung
tại ASEAN, khu vực Đông Á, Châu Á – Thái Bình Dương cũng như đề
xuất một số kiến nghị chính sách đối với Việt Nam [61], [18], [54].
Kể từ sau khi gia nhập WTO từ cuối năm 2006 tới nay:Luận án đã tiếp
cận các công trình nghiên cứu và bài viết, có thể phân loại như sau:
- Về tầm quan trọng và nhiệm vụ hội nhập kinh tế quốc tế: Nhìn
chung, các công trình, nghiên cứu về vấn đề này đều nhất trí xác định việc
chủ động tham gia các FTA một cách có chọn lọc để phát triển bền vững,
đóng góp ngày càng lớn hơn cho thực hiện các mục tiêu chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2011-2020, sớm đưa Việt Nam trở thành nước công
nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN [6], [38], [55], [66].

- Về phân tích, đánh giá tác động của FTA: Các lý thuyết quan trọng
bao gồm lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của A. Smith, lợi thế so sánh của D.
Ricardo, lý thuyết về lợi thế tương đối của Heckscher-Ohlin, mô hình
Viner-Meade, Kemp-Wan; các bổ sung của R. Mundell, A. Flemming, J.
Keynes, Baldwin, R.J. Wonnacott.
Trong giai đoạn từ năm 2006 tới nay:các công trình nghiên cứu đáng
chú ý sắp xếp theo lĩnh vực như sau:
- Về khái niệm, nội hàm, đặc điểm lựa chọn đối tác của các FTA kiểu
mới (hay thế hệ mới): Fred Burke [5] đã nêu một số đặc điểm mới của hiệp
định thế hệ mới TPP;các văn bản chính sách do EU ban hành [91], [93],
báo cáo của Action Aid [78], Bence Tamassy [121] đã xác định rõ hơn nội
hàm các FTA kiểu mới cũng như đối tượng, đặc điểm lựa chọn đối tác cho
FTA kiểu mới của EU.
- Về đánh giá, phân tích tác động và đặc điểm của các FTA kiểu mới
đối với kinh tế một quốc gia, quan hệ song phương hoặc tác động đối với
khu vực, thế giới: Các nghiên cứu sử dụng mô hình cân bằng tổng thể
(CGE) tĩnh của Todsadee, Kameyama và Lutes (2012); Petri, Plummer và
Zhai (2012); nghiên cứu sử dụng mô hình CGE động của Itakura and Lee
(2012), Cheong (2013) nhằm mô phỏng ảnh hưởng của tự do hóa thương
mại nhờ tham gia TPP và các FTA tiềm năng khác trong khu vực Châu Á
– Thái Bình Dương. Nghiên cứu của Kawasaki (2014), 02 nghiên cứu của
G. Felbermayr và nhóm nghiên cứu (2014 & 2015) sử dụng mô hình CGE
để phân tích tác động phúc lợi của TTIP đối với EU, Mỹ và các nước thứ
ba; nghiên cứu của Laura Puccio (2016) theo đặt hàng của Nghị viện Châu


7

Âu (European Parliament) phân tích chuyên sâu về các tác động của TTIP;
nghiên cứu của Ecorys (2016) sử dụng các mô hình CGE và E3MG để

hay nhiều nước, theo đó các nước thỏa thuận tạo khuôn khổ pháp lý dựa
trên các nguyên tắc tự do hóa cho quan hệ kinh tế giữa họ, bao gồm nhưng
không giới hạn các lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ,
đầu tư, mua sắm chính phủ và phi thương mại như chính sách cạnh tranh,
các biện pháp phi thuế quan, quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế giải quyết tranh
chấp, lao động, môi trường, minh bạch, chống tham nhũng, bảo vệ quyền
con người... với mức độ cam kết sâu rộng, cao hơn hoặc chưa có trong các


8

tiêu chuẩn quốc tế đang được thừa nhận hiện tại (còn gọi là các cam kết
WTO+)”.
Căn cứ theo đối tượng tham gia, phạm vi cam kết và mức độ cam kết
mà FTA đó có thể được phân loại theo mức độ “mới” (Hình 2.2).

Độ “mới”
cao

Độ “mới”
trung bình

Không mới/
FTA truyền
thống

- Đối tượng: có sự tham gia của EU, Mỹ
- Phạm vi:bao gồm nhưng không giới hạn các lĩnh vực thương mại hàng
hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, mua sắm chính phủ và phi thương mại
như chính sách cạnh tranh, các biện pháp phi thuế quan, quyền sở hữu trí

+ Hàng rào thuế quan cắt giảm về 0% ngay khi FTA có hiệu lực đến 65%
tổng dòng thuế cam kết
+ Lộ trình cam kết trung bình là 15-20 năm
+ Tiêu chuẩn cam kết được thừa nhận hiện tại, trong khuôn khổ cam kết
WTO

Hình 2.2: Phân loại mức độ “mới” của FTA kiểu mới


9

Nguồn: tác giả tổng hợp.
2.1.3. Phân loại các FTA
Quy định
của WTO

Thế hệ 1
Thương mại
hàng hóa: cắt
giảm thuế quan
& phi thuế quan

Thế hệ 2
Bổ sung:
thương mại
dịch vụ &
đầu tư

Thế hệ 3/
Kiểu mới

mức độ “nông” nhất, chỉ có phạm vi điều tiết trong lĩnh vực thương mại
thuần túy. Thực tế cho thấy, các FTA kiểu mới cũng nằm trong khung khổ
này nhưng về phạm vi điều tiết đã và đang vượt ra ngoài lĩnh vực thương
mại thuần túy.
2.2.2. Lý thuyết chung về FTA
- Lý thuyết về lợi thế so sánh của nhà kinh tế học người Anh David
Ricardo (1772-1823)
- Lý thuyết về liên minh thuế quan của Jacob Viner (1950)


10

- Lý thuyết trục và nan hoa xe đạp: được R.J. Wonnacott đề cập đến
lần đầu tiên năm 1996
- Lý thuyết kinh tế chính trị: được đề cập tới qua nhiều công trình
nghiên cứu, như của D. North (1992), R.E. Feinberg (2003)...
- Lý thuyết sự lựa chọn tốt thứ hai: được những người ủng hộ tự do
hóa thương mại vận dụng mạnh mẽ
2.3. Đặc điểm của FTA kiểu mới
2.3.1. Đối tượng tham gia
2.3.2. Phạm vi của các FTA kiểu mới
2.3.3. Mức độ cam kết trong các FTA kiểu mới
2.4. Tác động của FTA kiểu mới
2.4.1. Các hiệu ứng tĩnh
(i) Hiệu ứng tạo thêm thương mại
(ii) Hiệu ứng chệch hướng thương mại
(iii) Hiệu ứng thay đổi điều kiện thương mại
(iv) Hiệu ứng gian lận thương mại
2.4.2. Các hiệu ứng động
(i) Hiệu ứng tăng trưởng

Hình 2.5: Các quy định pháp lý điều tiết việc hình thành FTA của
WTO


11

2.5.1. Về kinh tế
2.5.1.1. Nhu cầu trao đổi thương mại quốc tế giữa các quốc gia
2.5.1.2. Bế tắc của vòng đàm phán thương mại đa phương Doha và
khủng hoảng kinh tế toàn cầu
2.5.1.3. Các lợi ích địa - kinh tế, chiến lược do FTA kiểu mới mang lại
2.5.2. Về chính trị
2.5.2.1. Chính sách ngoại giao kinh tế của các nước lớn
2.5.2.2. Chính sách ngoại giao kinh tế của một số nền kinh tế có độ
mở cao
2.5.2.3. Xu hướng hình thành cục diện thế giới đa cực mới
2.5.3. Các quy định pháp lý của WTO về hiệp định thương mại tự
do(xem Hình 2.5)
CHƯƠNG 3- XU HƯỚNG HÌNH THÀNH CÁC FTA KIỂU MỚI
VÀ TÁC ĐỘNG
3.1. Xu hướng hình thành và đặc điểm của các FTA trên thế giới
đến trước năm 2006
3.1.1. Thời kỳ trước Chiến tranh thế giới thứ I
3.1.2. Thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ II tới cuối những năm
1980
Có thể coi giai đoạn 1945-1989 là thời kỳ manh nha hình thành các
FTA thế hệ thứ nhất – chỉ tập trung chủ yếu vào cắt giảm hàng rào thuế
quan và loại bỏ các hàng rào phi thuế quan.
3.1.3. Thời kỳ từ cuối những năm 1980 tới trước năm 1995
Thời kỳ 1989 – 1994 đánh dấu sự hình thành và phát triển nở rộ của


13

3.2. Xu hướng hình thành và nội dung chính của các FTA kiểu
mới từ năm 2006 đến nay
3.2.1. Xu hướng hình thành các FTA kiểu mới từ năm 2006 tới nay
Kết thúc đàm phán
EPA EU-NB; Khởi
động FTA Mỹ-Anh

EVFTA

TPP,
CETA
FTA EU Colombia& Peru;
Khởi động TTIP

FTA EU Cameroon

FTA EU Hàn Quốc
FTA Mỹ - Hàn Quốc,
Mỹ - Colombia

Chính sách
EU toàn cầu

3.2.2. Nội dung chính của các FTA kiểu mới – Nghiên cứu các
trường hợp TTIP, TPP/CPTPP và EVFTA
Trong giai đoạn từ 2006 tới nay, xu hướng hình thành FTA kiểu mới
đã rõ nét, với đối tượng tham gia, phạm vi lĩnh vực và mức độ cam kết có

- Các FTA kiểu mới đang phần nào làm hạn chế nỗ lực tự do hóa
thương mại đa phương.
- Một số quy định mới trong FTA kiểu mới đang tạo tiền lệ trong vấn
đề pháp lý quốc tế và vấp phải phản đối ngay từ cộng đồng doanh nghiệp,
các nhà bảo vệ môi trường của các nước phát triển.
Riêng đối với các nước thứ ba (không tham gia FTA), các FTA kiểu
mới tạo các hiệu ứng “tạo thêm thương mại”, “chệch hướng thương mại”,
“xói mòn ưu đãi”, từ đó có tác động chủ yếu là tiêu cực tới kinh tế các
nước thứ ba.
3.3.2. Đối với các nước tham gia
* Tác động tích cực
- Các FTA kiểu mới mang lại lợi ích kinh tế rất lớn cho các nước tham
gia do có quy mô lớn với sự tham gia của các nền kinh tế hàng đầu thế giới
và có độ mở rất cao.
- Các FTA kiểu mới sẽ góp phần tăng cường bảo vệ môi trường, hạn
chế khí thải CO2,hỗ trợ phát triển bền vững, bảo vệ người lao động bằng
các tiêu chuẩn cơ bản tốt hơn.
- Các FTA kiểu mới giúp các đối tác thành viên có được cơ hội tiếp
cận một cách bình đẳng với các thị trường rộng lớn về hàng hóa, đầu tư,
dịch vụ, mua sắm công của Mỹ, EU... đồng thời được tham gia vào chuỗi
giá trị và phân công lao động quốc tế, điều mà trước đây chưa từng có
trong FTA truyền thống.
- Các FTA kiểu mới sẽ giúp các nước đối tác nhỏ hơn có điều kiện sử
dụng FTA như một công cụ chiến lược đảm bảo an ninh cho mình.
* Tác động tiêu cực
- Các Nhà nước chịu tác động tiêu cực trước làn sóng mở cửa do các
FTA kiểu mới đem lại.
- Các doanh nghiệp đối mặt với cạnh tranh gay gắt cả ở thị trường
trong và ngoài nước.
- Lao động - việc làm sẽ dịch chuyển mạnh.

mới trong quản lý Nhà nước về Internet cũng như đảm bảo an ninh mạng.
- Trong lĩnh vực mua sắm công: các điều khoản cam kết khá cao và
mới mẻ đặt ra những yêu cầu mới về quản lý chất lượng và đảm bảo an
ninh cho nguồn hàng hóa, dịch vụ được cung cấp từ các nhà thầu nước
ngoài. Xét tính khả thi, khả năng hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam
tham gia thị trường mua sắm công ở các nước đối tác là rất thấp.
3.3.3.3. Đối với đầu tư
* Tác động tích cực
- Các FTA kiểu mới sẽ kích thích làm tăng đáng kể các nguồn vốn đầu
tư vào Việt Nam, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hoàn thiện môi trường
đầu tư.
- Các FTA kiểu mới với tiêu chuẩn cao về tạo lập môi trường đầu tư
minh bạch, ngang bằng với các tiêu chuẩn hiện đại của thế giới, góp phần
cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy cải cách kinh tế trong nước.
* Tác động tiêu cực: Do cam kết về đầu tư trong FTA kiểu mới có độ
mở rất cao và phạm vi cũng rộng hơn, đặt ra một số thách thức mới về các


16

quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp ISDS; trong lĩnh vực ngân hàng –
tài chính...
3.3.3.4. Đối với một số vấn đề xã hội
* Tác động tích cực
- FTA kiểu mới có tác động thuận lợi nhưng không lớn tới vấn đề xóa
đói giảm nghèo ở Việt Nam.
- Các FTA kiểu mới có xu hướng làm dịch chuyển cơ cấu lao động
theo ngành nghề và theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng hơn.
* Tác động tiêu cực
- Các cam kết ở mức cao liên quan tới phát triển bền vững, đặc biệt là


17

chiếm ưu thế, phát triển lấn át FTA kiểu mới có thể diễn ra ở những nước
đang phát triển, có độ mở cửa thị trường thấp và mức độ bảo hộ cao.
4.2. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia các FTA kiểu
mới của Việt Nam từ năm 2006 tới nay
4.2.1. Đường lối, chủ trương chính sách hội nhập kinh tế quốc tế và
tham gia các FTA kiểu mới của Đảng và Nhà nước ta
4.2.2. Thực trạng tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia các
FTA kiểu mới của Việt Nam từ năm 2006 đến nay
Thực hiện đường lối đối ngoại mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa
và chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tích cực, chủ động tiến hành
các bước hội nhập sâu rộng và bài bản. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam được ghi dấu bằng những bước đi quan trọng: đầu tiên là
việc ký kết và gia nhập Hiệp định thương mại tự do của Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á (ASEAN) (gọi tắt là AFTA) năm 1992 – đánh dấu sự hội
nhập trở lại của Việt Nam với khu vực và quốc tế sau nhiều thập kỷ bị bao
vây, cấm vận. Bước tiến quan trọng thứ hai là việc ký kết hiệp định thương
mại tự do song phương với Mỹ (BTA) năm 2000 – đánh dấu việc chính
thức bình thường hóa quan hệ kinh tế với đối tác lớn nhất thế giới của
nước ta. Bước tiến thứ ba là việc Việt Nam hoàn tất đàm phán và chính
thức trở thành thành viên của WTO năm 2007 – đánh dấu hoàn tất quá
trình hội nhập kinh tế đa phương của Việt Nam.
Về tiến trình tham gia các FTA kiểu mới,cho tới nay Việt Nam đã
tham gia đàm phán, ký kết 02 FTA kiểu mới là TPP (nay là CPTPP) và
EVFTA.Đối với TPP/CPTPP: Việt Nam chính thức tham gia đàm phán từ
tháng 10/2010;ngày 04/02/2016, TPP được 12 quốc gia thành viên chính
thức ký kết; ngày 23/01/2017, Mỹ đã chính thức rút khỏi. Ngày
11/11/2017, tại Đà Nẵng, Việt Nam, 11 nước thành viên còn lại đã ra

mới: kéo theo sự hình thành các mạng lưới sản xuất, chuỗi liên kết ngành,
chuỗi giá trị mới theo khu vực, liên khu vực. Điều này đang đặt các thể chế
đa phương, như WTO, đứng trước những thách thức lớn trong nỗ lực thúc
đẩy tự do hóa thương mại đa phương, thống nhất các tiêu chuẩn, quy định,
đặt nền tảng và mở đường cho mức độ phát triển tiếp theo của xu hướng tự
do hóa thương mại toàn cầu.
* Bối cảnh trong nước
Trải qua 30 năm đổi mới, Việt Nam đã tích lũy được tiềm lực đáng kể,
sức mạnh tổng hợp quốc gia không ngừng tăng lên, đã trở thành nước đang
phát triển có thu nhập trung bình và hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào
đời sống kinh tế quốc tế, Uy tín quốc tế của đất nước được nâng cao, tạo
tiền đề quan trọng để thực hiện nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội
nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh mới tham gia các FTA kiểu mới.
Tuy nhiên, nước ta sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn do kinh tế vĩ
mô ổn định chưa vững chắc, nợ công tăng nhanh, nợ xấu ở mức cao, năng
suất,chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, lợi thế kinh
tế thấp , lợi thế kinh tế nhờ giá lao động rẻ giảm, thời kỳ “cơ cấu dân số
vàng” đang trôi đi, gánh nặng an sinh xã hội ngày càng tăng, nguy cơ rơi
vào “bẫy thu nhập trung bình”. Nền kinh tế trong nước ngày càng phụ
thuộc và chịu tác động nhiều hơn từ những biến động của kinh tế thế giới
và từ các thị trường lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, EU…Việc tham
gia cùng lúc nhiều FTA nhưng khả năng tận dụng hiệu quả thấp sẽ khiến
Việt Nam có nguy cơ rơi vào “ bẫy tự do hóa thương mại” [6] - khi áp lực
gỡ bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa từ bên ngoài ngày càng
tăng nhưng không cùng nhịp với khả năng tận dụng ưu đãi của FTA, do
không đáp ứng được các quy tắc xuất xứ, các quy định về lao động, môi
trường, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp… Nói một cách khác, Việt
Nam có nguy cơ đối mặt cải cách trong nước không theo kịp đà hội nhập
kinh tế quốc tế, những lợi ích kỳ vọng từ việc tham gia các FTA kiểu mới
sẽ chỉ được dành cho phần lớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

chế, hệ thống pháp luật trong nước đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường
hiện đại, hội nhập quốc tế và cam kết của các FTA, nhất là FTA kiểu mới.
4.3.3. Về chính sách đầu tư, thương mại, phát triển ngành, ổn định
kinh tế vĩ mô
- Về chính sách liên quan tới kinh tế vĩ mô, tài chính và phát triển
ngành: Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện và phát triển đồng bộ các thị
trường; sớm thực hiện cơ chế giá thị trường đối với dịch vụ công trước
năm 2020; đảm bảo sự dịch chuyển tự do của các nguồn lực sản xuất như
lao động, vốn, đất đai, các tài nguyên để các ngành nghề và thành phần
kinh tế có thể tiếp cận một cách công bằng và hiệu quả. Điều này sẽ giúp
theo kịp các cam kết ở mức độ cao trong các FTA kiểu mới; đồng thời
giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
- Về chính sách liên quan tới thương mại: Các bộ ban ngành và doanh
nghiệp cần tăng hỗ trợ nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng các tiêu chuẩn kỹ
thuật hợp lý, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, áp dụng tiêu chuẩn
tiên tiến của các nước phát triển, mới nổi về môi trường, lao động, vệ sinh
an toàn thực phẩm… đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam.


20

- Về chính sách liên quan tới đầu tư: Các bộ ban ngành, địa phương
cần tiếp tục cải cách hành chính, chính sách đầu tư theo hướng đảm bảo
hiệu quả, Nhà nước chỉ giữ vai trò hoạch định chính sách, rút giảm dần
đầu tư công khỏi các lĩnh vực có sinh lợi nhuận mà các khu vực kinh tế
khác có thể đảm nhận; có chính sách hợp lý để phát triển các ngành công
nghiệp phụ trợ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện kết cấu hạ
tầng, nâng cao chất lượng các loại dịch vụ, hàng hóa nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho dòng vốn đầu tư.
4.3.4. Về một số chính sách xã hội

thống đổi mới sáng tạo quốc gia kết hợp với đổi mới trong hệ thống giáo
dục, đào tạo và dạy nghề; khuyến khích đổi mới sáng tạo trong các doanh
nghiệp, đặt doanh nghiệp vào trung tâm; xây dựng cơ chế khuyến khích


21

tinh thần đổi mới, sáng tạo, phong trào khởi nghiệp của mọi người dân,
doanh nghiệp, đóng góp xây dựng và phát triển đất nước.
4.3.5. Về công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức
Cần làm tốt công tác thông tin truyền thông, tuyên truyền để tạo sự
thống nhất trong nhận thức, hành động, của cán bộ, đảng viên, doanh
nghiệp, doanh nhân và nhân dân về hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và
những cam kết, yêu cầu, cơ hội, thách thức của FTA kiểu mới nói riêng.
KẾT LUẬN
1. Trải qua các thời kỳ, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa thương mại
đã chứng kiến sự hình thành của ba thế hệ FTA khác nhau, trong đó các
FTA kiểu mới /thế hệ thứ ba đang tạo động lực và nền tảng mới, mở
đường và chuẩn bị cho mức độ tự do hóa thương mại toàn cầu tiếp theo.
FTA kiểu mới được các nền kinh tế hàng đầu thế giới là EU, Mỹ và một số
nước phát triển và mới nổi khác thúc đẩy, có đặc điểm là trải rất rộng từ
những lĩnh vực thương mại truyền thống như thương mại hàng hóa, dịch
vụ, đầu tư tới các lĩnh vực phi truyền thống như mua sắm công, chính sách
cạnh tranh, cơ chế giải quyết tranh chấp, lao động, môi trường, minh bạch,
chống tham nhũng, bảo vệ quyền con người...
Mức độ cam kết trong các FTA kiểu mới sâu rộng hơn rất nhiều so với
các FTA truyền thống. Trong đó, hàng rào thuế quan thường được cam kết
cắt giảm về 0% đối với 85%-99% số dòng thuế cam kết ngay khi FTA kiểu
mới có hiệu lực; khác biệt đáng kể so với các FTA thế hệ 1 (từ 1995 trở về
trước) và FTA thế hệ 2 (1995-2005) có cam kết cắt giảm thuế ngay khi có

các nỗ lực khu vực hóa, hình thành FTA theo các nhóm nước riêng lẻ; làm
tăng quy mô GDP, giá trị trao đổi thương mại và luồng vốn đầu tư thế giới,
đặc biệt là với những FTA quy mô lớn như TTIP, TPP/CPTPP, CETA...
- Đối với các nước thứ ba (không tham gia): tác động chủ yếu đến từ
các hiệu ứng “chệch hướng thương mại”, “xói mòn ưu đãi”, làm suy giảm
lợi ích kinh tế, cụ thể là làm giảm tỷ lệ tăng trưởng GDP, giá trị trao đổi
thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài của các nước thứ ba, tùy thuộc sự
ràng buộc kinh tế của các nước này với các nước tham gia FTA kiểu mới.
- Đối với các nước thành viên: FTA kiểu mới dự kiến sẽ có tác động
khá lớn tới kinh tế (các) nước tham gia, làm tăng GDP và phúc lợi kinh tế
thực tế; tăng quy mô xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mở
rộng thị trường trong nước và xuất nhập khẩu; tăng khả năng cạnh tranh
của nền kinh tế, doanh nghiệp và một số ngành nghề có ưu thế; góp phần
cải cách kinh tế, giảm thủ tục hành chính và tệ quan liêu, cập nhật với các
tiêu chuẩn và yêu cầu thương mại – đầu tư hiện đại của thế giới…
3. Trong thời gian tới, các FTA kiểu mới với những tiêu chuẩn mở cửa
thị trường khá toàn diện được coi là đi trước mở đường, chuẩn bị cho mức
độ tự do hóa thương mại toàn cầu tiếp theo, sẽ trở thành một xu hướng tất
yếu khách quan của quá trình tự do hóa thương mại toàn cầu, là một thực
tiễn không thể phủ nhận, ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống
kinh tế thế giới. Trong ngắn hạn từ 1-3 năm tới, nhiều khả năng các FTA
kiểu mới tiếp tục được triển khai nhưng gặp khó khăn, bị trì hoãn; trong
trung hạn (3-5 năm) và dài hạn (từ 5 năm trở lên) thì kịch bản các FTA
kiểu mới hình thành và phổ biến nhanh chóng có khả năng trở thành hiện
thực hơn, nhất là tại các nước phát triển và mới nổi. Khả năng các FTA
truyền thống sẽ chiếm ưu thế, phát triển lấn át FTA kiểu mới có thể diễn ra
ở những nước đang phát triển, có độ mở cửa thị trường thấp và mức độ
bảo hộ cao.
4. Đối với Việt Nam, tham gia các FTA kiểu mới đã được nghiên cứu
chứng minh sẽ đem lại nhiều cơ hội, lợi ích nhưng cũng có những khó

chế kinh tế trong nước cho phù hợp với các cam kết quốc tế, cam kết trong
FTA kiểu mới và bảo vệ lợi ích quốc gia. Các doanh nghiệp đối mặt với
cạnh tranh gay gắt cả trong và ngoài nước, yêu cầu cần phải cập nhật chính
sách, công nghệ, quản lý và thích nghi với điều kiện, môi trường kinh
doanh mới.
5. Việc Việt Nam đang ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng và tham
gia vào các FTA kiểu mới là một xu hướng tất yếu và không thể đảo
ngược, theo tiến trình phát triển chung của nhân loại và đem lại không gian
phát triển mới cho kinh tế trong nước. Nếu Việt Nam không tích cực tham
gia hội nhập kinh tế thì sẽ bị gạt ra khỏi sân chơi quốc tế và khu vực, khi
đó thiệt hại sẽ lớn hơn nhiều so với những hạn chế mà FTA kiểu mới có
thể đem lại.
Đảng, Nhà nước ta cũng khẳng định: hội nhập kinh tế quốc tế nói
chung và việc tham gia các FTA kiểu mới nói riêng là chủ trương nhất
quán, xuyên suốt nhằm đưa nước ta tham gia vào xu hướng phát triển
chung của thời đại, kịp thời đón bắt các cơ hội phát triển mới; tranh thủ tối
đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh, bền vững,
nâng cao đời sống người dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ Tổ quốc; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status