Thông tin bất đối xứng, quản trị công ty và hiệu quả hoạt dộng tại các ngân hàng thương mại việt nam (TT) - Pdf 39

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU
1.1

Lý do chọn đề tài
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về quản trị công ty cũng như mối quan
hệ giữa Quản trị công ty (QTCT) với hiệu quả hoạt động của công ty hay mối quan
hệ giữa QTCT với thông tin bất đối xứng.
Các kết quả về các mối quan hệ này cũng hết sức khác nhau. Chẳng hạn, nghiên
cứu của Hermalin và Weisbach (1998, 2003), Bhagat và Black (2002) chỉ ra rằng sự độc
lập ngày càng lớn của ban giám đốc có mối quan hệ đồng biến tới kết quả hoạt động của
công ty khi sự độc lập của ban giám đốc được chọn làm thước đo cho quản trị của công
ty. Nhưng gần đây, Bhagat và Bolton (2008) phát hiện mối quan hệ nghịch biến giữa sự
độc lập của ban giám đốc với kết quả hoạt động của công ty, trong khi quy mô của ban
giám đốc cũng có mối quan hệ nghịch biến với kết quả hoạt động (Bhagat, Carey và
Elson, 1999).
Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa QTCT và thông tin bất đối xứng có sự đồng
thuận cao hơn. Lý thuyết cho thấy, cơ chế QTCT tại các tổ chức ngân hàng lớn bị ảnh
hưởng lớn bởi thông tin bất đối xứng (Raheja, 2005 và Adams và Ferreira, 2007). Bên
cạnh đó, ảnh hưởng của cơ chế quản trị dường như xuất hiện tại các lĩnh vực cụ thể và
không có một cơ chế QTCT nào có thể phù hợp với mọi loại hình công ty (Coles, Daniel
và Naveen, 2008). Vì vậy, việc hiểu rõ vai trò của thông tin bất đối xứng và mối quan hệ
của thông tin bất đối xứng đối với cơ chế QTCT đối với từng lĩnh vực là quan trọng để có
những cơ chế quản trị phù hợp với từng công ty thuộc các lĩnh vực khác nhau.
Tại Việt Nam gần đây cũng đã có nhiều hơn những nghiên cứu về mối quan hệ
giữa QTCT với hiệu quả hoạt động hay QTCT với thông tin bất đối xứng. Tuy vậy, hầu
như chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ của ba nhân tố này trong cùng
một nghiên cứu hoặc việc đề cập đến rất mờ nhạt và không rõ ràng.
Chính vì vậy, xuất phát từ thực tế trên, tác giả thấy cần thiết có một nghiên cứu
thực nghiệm nhằm kiểm định mối quan hệ giữa ba nhân tố: thông tin bất đối xứng,
quản trị công ty , hiệu quả hoạt động ngân hàng trên cùng một mô hình, đặc biệt trong
lĩnh vực ngân hàng, một lĩnh vực tài chính có nhiều tính chất đặc thù. Do vậy, tác giả

Minh từ năm 2006 đến năm 2014.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
- Quá trình nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng.
- Mẫu nghiên cứu gồm 16 ngân hàng thương mại được niêm yết trên sàn
chứng khoán Hà Nội và TP Hồ Chí Minh từ năm 2006 đến 2014.
- Các biến được chia thành 04 nhóm: Nhóm thứ nhất, các biến đo lường
quản trị ngân hàng gồm 08 biến. Nhóm thứ hai, các biến đo lường thông tin
bất đối xứng gồm 02 biến. Nhóm thứ ba, biến đo lường hiệu quả quản trị
ngân hàng gồm 01 biến. Nhóm thứ tư, các biến kiểm soát gồm 03 biến.
- Phương pháp phân tích dữ liệu: dùng phần mềm SPSS, Excel…
1.6. Kết quả đạt được của luận án
Thứ nhất, xây dựng được một hình nghiên cứu. Thứ hai, kiểm định được
mối quan hệ giữa ba nhân tố: quản trị công ty, thông tin bất đối xứng và hiệu quả
hoạt động của ngân hàng thương mại. Thứ ba, đưa ra các kiến nghị.
1.7. Bố cục luận án
Bố cục của luận án dự kiến gồm 5 chương
Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về quản trị công ty, thông tin bất đối xứng và hiệu
quả hoạt động của ngân hàng thương mại
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Bình luận và kiến nghị
1.8 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết dự kiến
H1: có mối quan hệ giữa thông tin bất đối xứng và hiệu quả hoạt động ngân hàng.
H2: có mối quan hệ giữa quản trị công ty và thông tin bất đối xứng.
H3: có mối quan hệ giữa quản trị công ty và hiệu quả hoạt động ngân hàng.
Thông tin bất đối
xứng

Quản trị công ty

Thứ hai, cấu trúc QTCT được coi như một yếu tố vô hình nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
của các cổ đông, của người gửi tiền đảm bảo tính minh bạch trong việc cung cấp các
thông tin, báo cáo; tính tuân thủ các chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế; văn hóa tổ
chức và những chuẩn mực đạo đức. Thứ ba, QTCT có thể coi là một trong những công
cụ của quản lý nhằm giúp người chủ công ty có thể kiểm soát được các hoạt động của
giám đốc điều hành, ban kiểm soát, hội đồng quản trị và một số đối tượng khác trong
công ty.
2.1.2 Tầm quan trọng của quản trị công ty
Quản trị công ty được tạo ra với mục đích cuối cùng là ra các quyết định đúng đắn
để vận hành công ty thông qua việc xây dựng một cơ chế phân định rõ quyền và trách
nhiệm của mỗi thành phần liên quan đến công ty. Việc nhìn rõ trách nhiệm, nghĩa vụ,
quyền lợi của mình sẽ giúp các bên liên quan đưa ra các quyết định đúng đắn vì lợi ích
chung. Nếu công ty có hoạt động yếu kém, thì đó là lỗi của HĐQT không thực hiện
đúng vai trò của mình và hạn chế tình huống không ai chịu trách nhiệm về những sai
lầm trong hoạt động điều hành công ty. Trách nhiệm là những gì giúp mọi người trong
công ty đưa ra quyết định ở vị trí của mình. Một khía cạnh quan trọng của QTCT là
giảm rủi ro cho công ty. Việc thực thi QTCT bên cạnh việc xác định vai trò của mỗi
thành viên sẽ gắn trách nhiệm của họ với từng hoạt động. Mỗi hoạt động sai lầm hoặc
cố tình vi phạm sẽ chịu trách nhiệm trước các quy định chung công ty cũng như các quy
định của pháp luật. Bên cạnh đó, đối với hoạt động kinh doanh, QTCT sẽ giúp công ty
được chấp nhận rộng rãi hơn. Điều này có được là do nguyên tắc minh bạch trong hoạt
động, từ các vấn đề tài chính, đầu tư đến định hướng chung trong hoạt động hay tầm
nhìn của công ty cơ bản sẽ được công khai.
2.1.3 Một số mô hình quản trị công ty trên thế giới
Căn cứ vào đặc điểm hệ thống tài chính và sự phân tách giữa sở hữu và quản
trị, các nhà nghiên cứu chia QTCT thành 3 mô hình sau: (1) Mô hình QTCT của
3

các nước Anh, Mỹ (Anglo-Saxon); (2) Mô hình QTCT của Đức; (3) Mô hình
QTCT của Nhật Bản.

Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát
Ban kiểm soát
Kỷ luật thị trường
Nhiều rào cản ngăn ngừa rủi Trực tiếp chịu ảnh
Minh bạch cao
ro
hưởng của chủ sở hữu
Lợi ích đối với các bên
Thông qua mua bán, sáp nhập và tăng trưởng nội sinh
- Xu hướng nợ thấp
- Xu hướng nợ cao
- Xu hướng giảm nợ/ vốn chủ sở - Xu hướng nợ trên vốn chủ sở hữu cao
hữu
- Ít sử dụng các công cụ tài chính phức tạp
- Sử dụng các công cụ tài chính
đa dạng và phức tạp
- Chia tách giữa sở hữu và quản lý - Phối hợp giữa kiểm soát và quản lý
- Giảm động lực đối với nhà đầu - Quản lý bởi các đối tượng có liên quan (ngân
hàng, công ty, cổ đông)
tư tham gia quản lý
- Dễ gây đổ vỡ
- Chậm thay đổi
Khó thay đổi và thích
- Thâu tóm dẫn đến độc quyền
- Hệ thống có thể tạo nghi với cơ chế mới
- Các nhà quản lý có thể thực hiện ra xung đột
các hoạt động vì lợi ích cá nhân


cho trả chậm, khách hàng và cơ quan quản lý. Nhóm bên trong hay còn gọi là nhóm nội
bộ công ty gồm: ban giám đốc điều hành, nhân viên và HĐQT của công ty. Tất cả các
bên tham gia đều nằm trong quá trình giám sát hiệu quả hoạt động của công ty hoặc trực
tiếp hoặc gián tiếp nhưng ở các cấp độ khác nhau và với các mục tiêu khác nhau.
Theo Friedman (2006) cho rằng công ty nên được xem là nơi tổng hòa của các bên
liên quan và mục đích của doanh ngiệp là quản lý lợi ích, nhu cầu và quan điểm của họ
dựa trên một số nguyên tắc đạo đức.
Có 3 cách tiếp cận lý thuyết các bên liên quan: mô tả / thực tiễn, mang tính công
cụ, và chuẩn tắc (Đào Thị Thanh Bình, 2012). Tuy nhiên, Donaldson và Preston (1995)
cho rằng cả ba cách tiếp cận lý thuyết về các bên liên quan mặc dù khá khác nhau,
nhưng lại hỗ trợ lẫn nhau và cơ sở lý thuyết chuẩn tắc đóng vai trò quan trọng cho lý
thuyết này.
2.1.5.3.Lý thuyết về nhà quản lý
Ý tưởng chính của lý thuyết người quản lý là phản ánh ý niệm về bổn phận và
trách nhiệm đối với người khác dựa trên việc duy trì mối quan hệ giao ước. Theo như
Penner, Dovidio, Piliavin, & Schroeder (2005) thì các hành vi quản lý là một loại hành
động xã hội nhằm mục đích ảnh hưởng tích cực lên người khác. Lý thuyết về nhà quản
lý lại chỉ ra rằng nhà quản lý còn tìm kiếm các lợi ích khác ngoài lợi ích về kinh tế như:
vị trí xã hội, lòng trắc ẩn, danh tiếng tốt, việc hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, cảm
giác hài lòng về công việc và ý thức được làm việc vì mục đích tốt đẹp. Lý thuyết về
nhà quản lý cũng chỉ ra rằng các nhà quản lý tự họ muốn làm tốt công việc, tối đa hóa
lợi nhuận của công ty và đem lại lợi nhuận tốt cho các cổ đông. Họ không nhất thiết làm
việc này vì lợi ích tài chính của họ, mà họ cảm thấy có một trách nhiệm cao cả đối với
công ty. Lý thuyết về nhà quản lý cũng ủng hộ các nhà quản lý được tự do theo đuổi
mục đích riêng của mình.
2.1.5.4 Thang đo quản trị công ty
Quản trị công ty được đại diện bởi nhiều biến với nhiều cách thức khác nhau.
Edward và Clough (2005) đã tổng hợp các thước đo về quản trị công ty trong các nghiên
cứu trước, các luật định về quản trị công ty gồm có: quy mô ban giám đốc; sự tách biệt
giữa chủ tịch và CEO (tính nhị nguyên); thành viên HĐQT độc lập; sự cân bằng kỹ

tố
Broad size
Gender

5

Edu
Board
Age
Block

6

State

7
8

Fown
Outdir

Ý nghĩa
Thành viên HĐQT
Thành viên nữ thuộc
HĐQT
Trình độ của HĐQT
Kinh nghiệm làm việc của
thành viên HĐQT
Cổ đông lớn


Trong thị trường tài chính nói chung và thị trường ngân hàng nói riêng, thông tin
bất đối xứng thể hiện cụ thể dưới ba hình thức: thứ nhất, lựa chọn đối nghịch; thứ hai,
tâm lý ỷ lại; thứ ba, chi phí giám sát.
2.2.3 Ảnh hưởng của thông tin bất đối xứng trong hệ thống tài chính-ngân hàng
Về khía cạnh “lựa chọn bất lợi”. Lựa chọn bất lợi xảy ra phổ biến ở thị trường tài
chính nói chung và ngân hàng nói riêng. Nghiên cứu của Awargal và các cộng sự (2011)
đã chỉ ra ảnh hưởng của lựa chọn bất lợi trong quá trình chứng khoán hóa các khoản cho
vay có thế chấp của hệ thống ngân hàng Mỹ trong thời gian từ 2004-2008, trong đó các
ngân hàng, do không có đầy đủ thông tin, đã giữ lại các khoản vay thực chất có độ rủi ro
cao hơn, trong khi lại tập hợp các khoản vay có độ rủi ro thấp chuyển đổi thành các cổ
phiếu bán ra thị trường. Đây được cho là một trong những nguyên nhân làm tăng khả
năng mất thanh khoản của ngân hàng, góp phần dẫn đến khủng hoảng tài chính. Thông
tin bị che đậy đã khiến cho việc cho vay vốn trở nên không kiểm soát được, nợ xấu chắc
chắn xuất hiện khi thị trường suy yếu.
6


Về khía cạnh “tâm lý ỷ lại”. Có thể coi trường hợp của 2 tập đoàn Fannie Mae và
Freddie Mac tại Mỹ là điển hình của “tâm lý ỷ lại”. Tâm lý ỷ lại được coi là nguyên
nhân chính gây ra hiện tượng “sản xuất và tiêu dùng” quá mức tối ưu sản phẩm tài chính
MBS, đánh mất tính hiệu quả của thị trường, và khi thị trường cho vay dưới chuẩn của
Mỹ sụp đổ, Fannie Mae và Fredie Mac hoàn toàn mất thanh khoản.
Vấn đề “người ủy thác” và “đại diện”. Nhà quản lý của các tổ chức tài chính là
người đại diện cho các cổ đông và nhà đầu tư để điều hành tổ chức đó. Do tính chất đặc
thù của ngành là đòi hỏi phải có sự am hiểu chuyên môn nên cổ đông và nhà đầu tư
thường phó thác cho người đại diện, khiến cho các hệ quả của thông tin bất đối xứng
càng dễ dàng có điều kiện xảy ra (Pilbeam, 2010).
2.2.4 Các nghiên cứu về thông tin bất đối xứng
Lý thuyết về thông tin bất đối xứng được đưa ra bởi Akerlof (1970). Từ nghiên
cứu của Akerlof, Spence (1973) và Stiglitz (1976) đề xuất một số giải pháp nhằm khắc

các biến đại diện thông dụng nhất cho kết quả hoạt động của công ty gồm có: Tỷ suất
sinh lời trên tổng tài sản (ROA); Tobin’Q: chỉ tiêu này được tính toán bởi (Gom- pers,
Ishii và Metrick, 2003; Brainard và Tobin 1968); Lợi nhuận cổ phiếu: thu nhập hỗn hợp
trong một năm (gồm cả cổ tức); Tỷ lệ đòn bẩy tài chính- là tổng nợ dài hạn chia tổng tài
sản. Vì hạn chế dữ liệu, các nghiên cứu về chủ đề này thường chỉ sử dụng chỉ tiêu đơn lẻ
7

để phản ánh kết quả hoạt động công ty, trong đó tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, lợi
nhuận trước thuế và khoản đóng góp vào ngân sách nhà nước là các thước đo thông
dụng nhất.
Trong nghiên cứu này của mình tác giả sẽ sử dụng chỉ số tỷ suất sinh lời trên tổng
tài sản (ROA) vì chỉ số này được rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước sử dụng
cũng như chỉ số này được công bố rộng rãi.
2.4. Tổng quan về mối quan hệ giữa thông tin bất đối xứng, quản trị công ty và
hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
2.4.1. Mối quan hệ giữa thông tin bất đối xứng và hiệu quả hoạt động ngân
hàng
Các nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ nhất định giữa hoạt động công bố thông
tin và hoạt động quản trị công ty. Các nghiên cứu tiêu biểu về mối quan hệ giữa thông
tin bất đối xứng và hiệu quả doanh nghiệp có thể kể đến như: Lowenstein (1996); Abdul
Rahman (2006); Abdul Rahman và Rizal Salim (2010). Các tác giả này đều lập luận
rằng việc công bố thông tin đầy đủ và minh bạch sẽ góp phần làm tăng hiệu quả quản trị
cũng như hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Hai nhân tố đại diện cho biến thông tin bất đối xứng là R&D và đòn bẩy tài chính
(leverage) cũng được nhiều nghiên cứu cho rằng có mối quan hệ với hiệu quả hoạt động
ngân hàng. Các nghiên cứu của Pandey, 2010; Andy, Chuck & Alison, 2002 khẳng
định có mối quan hệ hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động. Còn các nghiên
cứu của Sougiannis (1994); Canibano và Garcia-Ayuso (2000) lại khẳng định có mối
quan hệ giữa R&D và hiệu quả hoạt động.
Từ các nghiên cứu trên, tác giả có giả thuyết sau:

Healy và Palepu (2001) cung cấp những lý thuyết rộng hơn về cung cấp thông tin
tự nguyện. Họ liệt kê những động lực phía sau các quyết định công bố thông tin. Một
trong những động lực chính là việc tham gia vào các giao dịch trong thị trường vốn. Nói
chung, các nhà quản lý có thông tin đầy đủ hơn so với các nhà đầu tư, khi tham gia vào
thị trường vốn, các nhà quản lý có xu hướng cung cấp thông tin tự nguyện nhiều hơn
nhằm giảm vấn đề thông tin bất đối xứng, giảm chi phí tài chính bên ngoài, đồng thời
đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư.
Các nghiên cứu trước đó cũng tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa cung cấp
thông tin tự nguyện và vấn đề QTCT. Ví dụ, Eng và Mak (2003) kiểm định tác động của
cấu trúc sở hữu và thành phần HĐQT đối với hoạt động công bố thông tin tự nguyện.
Họ phát hiện ra rằng khi các nhà quản lý có mức sở hữu thấp và sở hữu của chính phủ ở
mức cao sẽ gắn liền với mức công bố thông tin tốt hơn. Họ cũng chứng minh số lượng
các thành viên bên ngoài càng nhiều thì hoạt động công bố thông tin càng giảm.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng hai chỉ số Leveragel và R&D là đại
diện của thông tin bất đối xứng. Vì vậy, tác giả đưa ra các giả thuyết nghiên cứu nhằm
qua đó đánh giá một cách gián tiếp sự ảnh hưởng của các yếu tố thuộc quản trị công ty
tới thông tin bất đối xứng như sau:
- H2.1: Có sự tác động của quy mô HĐQT tới chi phí R&D
- H2.2: Có sự tác động của số lượng thành viên là nữ giới trong HĐQT tới chi
phí R&D
- H2.3: Có sự tác động của trình độ học vấn của HĐQT tới chi phí R&D
- H2.4: Có sự tác động của kinh nghiệm làm việc của HĐQT tới chi phí R&D
- H2.5: Có sự tác động của số lượng thành viên độc lập trong HĐQT tới chi
phí R&D
- H2.6: Có sự tác động của yếu tố cổ đông lớn tới chi phí R&D
- H2.7: Có sự tác động của yếu tố sở hữu của nhà nước tới chi phí R&D
- H2.8: Có sự tác động của phần trăm sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tới
chi phí R&D
- H2.9: Có sự tác động của quy mô HĐQT tới đòn bẩy tài chính Leverage
- H2.10: Có sự tác động của số lượng thành viên là nữ giới trong HĐQT tới

trên thị trường chứng khóan Mỹ. Nghiên cứu đưa ra kết quả mối tương quan tỷ lệ
nghịch giữa các chỉ số phụ về quản trị công ty (kiểm toán, cấu trúc các hội đồng quản
trị, quyền cổ đông và sự bồi thường được cung cấp bởi Institutional Shareholder
Services và tình hình hoạt động của công ty.
CGI có mối tương quan tỷ lệ nghịch với tỷ lệ đòn bẩy tài chính, Tobin’s Q nhưng
có mối tương quan tỷ lệ thuận với quy mô công ty. Ngược lại, B, Jang Hasung, Kim
(2003) xem xét ảnh hưởng của quản trịc ông ty lên giá trị công ty ở Hàn Quốc. Kết quả
chỉ ra mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa chỉ số quản trị công ty và tỷ lệ giá trị thị trường trên
giá trị sổ sách và Tobin’s Q. Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Anderson. A và
Gupta. P (2009) so sánh giữa các quốc gia về quản trị công ty (được đo lường bởi
Corporate Governance Quotient) và tình hình hoạt động của công ty. Kết quả cho thấy
mối tương quan tỷ lệ thuận và tỷ lệ nghịch phụ thuộc vào cấu trúc tài chính của quốc gia
và hệ thống pháp lý.
2.4.3.2. Cách tiếp cận thông qua một số nhân tố của quản trị công ty tác động
đến hiệu quả hoạt động
Mối quan hệ giữa số lượng thành viên Hội đồng quản trị với hiệu quả hoạt
động của ngân hàng.
Có 2 trường phái khác nhau về mối quan hệ giữa quy mô của Hội đồng quản trị
(HĐQT) và hiệu suất công ty. Trường phái đầu tiên cho rằng quy mô của HĐQT càng
nhỏ thì đóng góp càng nhiều vào thành công của công ty (Lipton and Lorsch, 1992;
Jensen, 1993; Yermack, 1996). Trường phái thứ hai lại cho rằng HĐQT với quy mô lớn
hơn sẽ làm tăng hiệu suất công ty. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô HĐQT lớn sẽ
hỗ trợ và tư vấn quản lý công ty hiệu quả hơn do sự phức tạp của môi trường kinh doanh
và văn hóa công ty (Klein, 1998). Thêm vào đó, quy mô HĐQT lớn hơn sẽ quy tập
được nhiều thông tin hơn. Vì vậy, hiệu suất công ty sẽ được nâng cao với quy mô
HĐQT lớn hơn (Dalton and ctg, 1999).
Giả thuyết nghiên cứu:
H3.1: Có sự tác động của quy mô HĐQT tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Mối quan hệ giữa thành viên nữ thuộc hội đồng quản trị với hiệu quả hoạt
động của ngân hàng

hoạt động của ngân hàng
Có nhiều quan điểm cho rằng thành viên HĐQT với thâm niên làm việc cao sẽ có
nhiều kinh nghiệm trong quản lý hơn. Những kinh nghiệm này được cho là sẽ đóng góp
nâng cao hiệu suất công ty nhiều hơn. Tuy nhiên, thành viên lâu năm thường có xu
hướng quyết liệt và độc tài hơn. Những phẩm chất khác nhau của thành viên HĐQT sẽ
quyết định sự thành bại của công ty (Carlson và Karlsson, 1970). Thành viên HĐQT với
độ tuổi trung bình cao hơn sẽ phải đối mặt với nhiều áp lực hơn trong việc thay đổi môi
trường làm việc và điều này sẽ cản trở việc thực hiện các quyết định chiến lược (Child,
1975). Mặc dù có nhiều tranh cãi xung quanh mối quan hệ giữa kinh nghiệm của HĐQT
và hiệu suất công ty, theo lý thuyết về hạn chế nguồn lực, thành viên với nhiều kinh
nghiệm sẽ đối phó tốt hơn trong môi trường kinh doanh bằng cách làm việc theo nhóm
hiệu quả, đóng góp tích cực vào hiệu suất công ty (Wegge và cộng sự., 2008).
Giả thuyết nghiên cứu: H3.4: Có sự tác động của kinh nghiệm làm việc của
HĐQT tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Mối quan hệ giữa thành viên HĐQT độc lập với hiệu quả hoạt động của
ngân hàng
Sự độc lập của HĐQT lớn hơn được nhận thức như một cơ chế giám sát và giữ vai
trò quan trọng trong việc hạn chế và kiểm soát vấn đề đại diện. Kết quả nghiên cứu của
McKnight và Mira (2003) và Henry (2004) cũng cho thấy chi phí đại diện sẽ thấp hơn
nếu số lượng thành viên độc lập trong HĐQT cao hơn. Nghiên cứu Fama và Jensen
(1983) khám phá ra rằng các thành viên HĐQT bên trong do sở hữu nhiều thông tin hơn
thường cấu kết với các nhà quản trị để đưa ra những quyết định chống lại các cổ đông.
Do vậy, HĐQT với các thành viên bên ngoài sẽ làm tăng khả năng giám sát nên sẽ loại
bỏ được cơ bản vấn đề đại diện. Bhagat và Black (2002) sử dụng tỷ lệ các thành viên
độc lập trừ tỷ lệ các thành viên bên trong làm biến đại diện và kết quả cho thấy rằng
mức độ độc lập của HĐQT có tương quan dương có ý nghĩa đến hiệu quả trong ngắn
hạn.
11

Giả thuyết nghiên cứu: H3.5: Có sự tác động của số lượng thành viên độc lập

từ 2007 đến 2009 thì các nhà đầu tư nước ngoài thích đầu tư vào những công ty lớn, tỷ
lệ vốn hóa thị trường trên vốn chủ sở hữu cao và có tỷ lệ nợ thấp. Ngoài ra, Jeon và
cộng sự (2010) cho rằng các nhà đầu tư nước ngoài thích những công ty có lớn, ổn định,
có nhiều cơ hội đầu tư hơn. Hơn nữa, các nhà đầu tư nước ngoài thường có kinh nghiệm
quản trị, có khả năng điều hành, có quan hệ thị trường và đối tác lớn nên thường hỗ trợ
công ty hoạt động hiệu quả hơn.
Giả thuyết nghiên cứu: H3.8: Có sự tác động của phần trăm sở hữu của nhà
đầu tư nước ngoài tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng

12


2.5. Mô hình
nh nghiên cứu

CHƯƠNG 3: PHƯƠN
ƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Th
hiết kế nghiên cứu
3.1.1.. Phương
P
pháp nghiên cứu
Quá trìn
trình nghiên cứu tác giả sử
ử dụn
ụng phương pháp nghiên cứu
ứu đđịnh lượng với
sự hỗ trợ
ợ của
ủa phần mềm SPSS phiên bản

Tính đếến hết năm 2015 thì số lượn
ợng ngân hàng nghiên cứu làà 15 ngân hàng
(ngân hàng
g HabuBank
H
đã bị sáp nhập nêên số mẫu chỉ còn 15 ngânn hhàng từ số mẫu
16 ngân hàng
àng ban đầu) trên tổng số 28 nngân hàng, tức là chiếm khoả
hoảng 53,57% số
lượng ngânn hhàng của toàn hệ thống.
- Vềề qu
quy mô tổng tài sản, mẫu nghi
hiên cứu chiếm quy mô khoản
ảng 69,56% tổng
tài sản của
ủ cá
các ngân hàng
- Về quy
qu mô vốn điều lệ, mẫu nghiê
hiên cứu chiếm khoảng 63,15%
5% tổng vốn
điều lệ của cá
các ngân hàng
- Về sốố lượng các ngân hàng thươn
ương mại nhà nước: Đến cuốii nă
năm 2015, toàn
hệ thống còn
òn 4 ngân hàng thương mại nh
nhà nước. Trong số này, tác gi
giả tiến hành thu

trị công ty tới biến phụ thuộc là R&D.
- Phân tích hồi quy bội để kiểm định các giả thuyết H2.9, H2.10, H2.11,
H2.12, H2.13, H2.14, H2.15 và H2.16, đồng thời đánh giá mức độ ảnh hưởng của
các biến quản trị công ty tới biến phụ thuộc là Leverage.
- Phân tích hồi quy bội để kiểm định các giả thuyết H3.1, H3.2, H3.3, H3.4,
H3.5, H3.6, H3.7 và H3.8 đồng thời đánh giá mức độ ảnh hưởng của các biến quản
trị công ty và các biến kiểm soát tới biến phụ thuộc là hiệu quả hoạt động của các
ngân hàng thương mại cổ phần của Việt nam.
3.2.2. Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu sau khi được thu thập, tác giả tiến hành lọc dữ liệu, làm sạch dữ liệu,
mã hóa, nhập liệu và sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 18 để phân tích dữ liệu.
Tiếp theo, dữ liệu đã được làm sạch và nhập vào phần mềm. Nghiên cứu sẽ
đi vào:
(1) Phân tích mối quan hệ giữa: thứ nhất, các biến độc lập thuộc vấn đề
quản trị công ty và các biến phụ thuộc đại diện cho thông tin bất đối xứng. Thứ hai,
các biến quản trị công ty và biến kiểm soát với biến phụ thuộc là hiệu quả hoạt động
của ngân hàng được đo thông qua chỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA). Thứ ba,
các biến đại diện cho thông tin bất đối xứng và biến kiểm soát với biến phụ thuộc là
hiệu quả hoạt động của ngân hàng được đo thông qua chỉ số lợi nhuận trên tổng tài
sản (ROA)
(2) Phân tích mô hình hồi quy bội:
Để phân tích được tác động của các biến độc lập tới các biến phụ thuộc, tác
giả phân tích bốn mô hình hồi quy gồm:
Mô hình 1 xem xét sự ảnh hưởng của tất cả các biến nhân tố thuộc phạm trù
quản trị công ty tới biến phụ thuộc đại diện cho thông tin bất đối xứng là R&D.
Mô hình 2 xem xét sự ảnh hưởng của tất cả các biến nhân tố thuộc phạm trù
quản trị công ty tới biến phụ thuộc đại diện cho thông tin bất đối xứng là Leverage.
Mô hình 3 xem xét sự tác động của thông tin bất đối xứng và tất cả các biến
kiểm soát tác động tới biến chịu tác động là hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Mô hình 4 xem xét sự tác động của các nhân tố thuộc phạm trù quản trị công

nghiên cứu
- Về quy mô tổng tài sản, mẫu nghiên cứu chiếm quy mô khoảng 69,56% tổng
tài sản của các ngân hàng. Trong đó được chia thành 2 nhóm rõ rệt:
Thứ nhất là nhóm 3 ngân hàng lớn có quy mô tài sản chiếm hơn một nửa
(52,27%) trong tổng số các ngân hàng của mẫu và chiếm 36,36% trong toàn bộ hệ
thống, tất cả đều là các ngân hàng TMCP nhà nước.
Thứ hai là 12 ngân hàng còn lại có quy mô tài sản chỉ chiếm có chưa đến một
nửa (47,73%) giá trị tài sản trong tổng số mẫu nghiên cứu và chiếm 33,2% trong
toàn hệ thống. Đây đều là các ngân hàng được thành lập sau này và nhà nước
không có cổ phần tại các ngân hàng này.
- Về quy mô vốn điều lệ, mẫu nghiên cứu chiếm khoảng 63,15% tổng vốn
điều lệ của các ngân hàng. Cũng tương tự như quy mô tài sản, thống kê mô tả mẫu
về vốn điều lệ cũng tách các ngân hàng trong mẫu ra làm 2 nhóm:
Thứ nhất là nhóm các ngân hàng TMCP nhà nước với quy mô vốn điều lệ
chiếm gần một nửa (48,95%) trong tổng số vốn của các ngân hàng thuộc mẫu
nghiên cứu và chiếm 30,91% tổng số vốn điều lệ trong toàn hệ thống.
Thứ hai là nhóm 12 ngân hàng còn lại với số vốn chiếm hơn một nửa
(51,05%) trong tổng số vốn điều lệ của mẫu và chiếm 32,24% tổng số vốn điều lệ
của các ngân hàng trong toàn bộ hệ thống.
- Về tính chất sở hữu của các ngân hàng: Số lượng ngân hàng thương mại nhà
nước trong mẫu nghiên cứu chiếm 75% trên tổng mẫu. Các ngân hàng còn lại (12
ngân hàng) là ngân hàng thương mại cổ phần chiếm 50% trên tổng số 24 ngân hàng
thương mại cổ phần trên toàn hệ thống.
4.2.2. Thống kê mô tả biến độc lập là các yếu tố thuộc quản trị công ty và
kiểm định dạng phân phối của các thang đo biến độc lập
Kết quả thống kê mô tả các biến độc lập cho thấy, trong giai đoạn từ năm
2006 đến năm 2014:
- Số lượng thành viên HĐQT thay đổi nằm trong khoảng từ 4 đến 11 thành
viên, phần lớn nằm ở mức từ 4 đến 7 thành viên.
- Số lượng thành viên nữ trong HĐQT thay đổi nằm trong khoảng từ 0 đến 4

4.3.1. Kiểm định hệ số tương quan giữa các biến thuộc quản trị công ty và
biến đại diện cho thông tin bất đối xứng là biến R&D
Có 3 biến có giá trị tương quan giữa biến độc lập và phụ thuộc ở mức 99% và
có mối tương quan ngược chiều là biến: Số lượng thành viên HĐQT, Số lượng
thành viên HĐQT độc lập và biến phần trăm sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài.
Các biến độc lập còn lại không nhìn thấy mối tương quan với biến phụ thuộc.
4.3.2. Kiểm định hệ số tương quan giữa các biến thuộc quản trị công ty và
biến đại diện cho thông tin bất đối xứng là biến Leverage
Có 2 biến có quan hệ cùng chiều với biến Leverage ở mức 99% là biến: Trình
độ học vấn của thành viên HĐQT và biến Sở hữu nhà nước, có 1 biến có quan hệ
cùng chiều với biến Leverage ở mức 95% là biến Độ tuổi trung bình của các thành
viên HĐQT.
4.3.3. Kiểm định hệ số tương quan giữa các biến thuộc quản trị công ty và
biến kiểm soát với biến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Có 2 biến có mối tương quan với biến phụ thuộc là biến Số lượng thành viên
HĐQT và Số thành viên HĐQT độc lập và ở độ tin cậy là 95%, riêng biến kiểm
soát Năm nghiên cứu có mối tương quan ở mức là 99%. Có sự tương quan rất chặt
giữa biến độc lập là số năm hoạt động của ngân hàng với yếu tố sở hữu nhà nước
với giá trị tương quan ở mức 0.815**. Đây là một dấu hiệu của hiện tượng đa cộng
tuyến, vì vậy trong quá trình kiểm định kết quả hồi quy sau này, tác giả sẽ tiến hành
kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến trước nhằm loại bỏ những biến bị đa cộng tuyến
nếu có.
4.3.4. Kiểm định hệ số tương quan giữa các biến đại diện cho thông tin bất
đối xứng và biến kiểm soát với hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Cả 2 biến đại diện cho thông tin bất đối xứng và biến kiểm soát là Năm
16


nghiên cứu đều có mối tương quan ngược chiều với biến phụ thuộc và ở độ tin cậy
là 99%.

-.097
.081
.048
-.235***
-.026
-.119
-.243***

20,2%
5.443***

(Nguồn: nghiên cứu của tác giả)
Số thành viên HĐQT độc lập và Phần trăm sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
là có tác động tới biến phụ thuộc đại diện cho thông tin bất đối xứng là R&D với
giá trị Sig < 0,05.
Yếu tố mạnh nhất tác động tới thông tin bất đối xứng là yếu tố sở hữu của nhà
đầu tư nước ngoài, với hệ số Beta = -0.243, như vậy khi tỉ lệ sở hữu của nhà đầu tư
nước ngoài tăng lên 1 đơn vị lệch chuẩn thì yếu tố R&D sẽ giảm đi 0.243 đơn vị
lệch chuẩn và qua đó làm giảm tính bất đối xứng của thông tin. Thực tế thì nhà đầu
tư nước ngoài thường có yêu cầu rất cao về vấn đề minh bạch hóa thông tin khi rót
vốn đầu tư, mua cổ phiếu của các ngân hàng, nên khi tỉ lệ sở hữu của nhà đầu tư
nước ngoài tăng lên, đồng nghĩa với các yêu cầu về minh bạch hóa thông tin tăng
lên, qua đó làm giảm tính bất đối xứng của thông tin.
Yếu tố tiếp theo có ảnh hưởng tới thông tin bất đối xứng là số lượng thành
viên của HĐQT độc lập, với hệ số Beta = -0.235, tức là khi tăng số lượng thành
viên của HĐQT độc lập lên 1 đơn vị lệch chuẩn thì yếu tố R&D sẽ giảm đi tương
ứng là 0.235 đơn vị lệch chuẩn kéo theo làm giảm tính bất đối xứng của thông tin.
Điều này có thể được giải thích là khi số lượng thành viên HĐQT độc lập tăng lên,
mà các thành viên này thường là các chuyên gia, các nhà nghiên cứu hoặc các nhà
quản lý liên quan đến lĩnh vực ngân hàng, việc giám sát thông tin một cách minh

.609***
Tỉ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
-.184a
28.1%
R2 điều chỉnh
7.829***
F
N = 250 ; ap ≤ 0.1; *p ≤ 0.05; **p ≤ 0.01; ***p ≤
0.001
Tất cả hệ số tương quan đã được chuẩn hóa
(Nguồn: nghiên cứu của tác giả)
Yếu tố mạnh nhất tác động tới thông tin bất đối xứng là yếu tố sở hữu nhà
nước, với hệ số Beta chuẩn hóa = .609, điều này phản ánh khi yếu tố sở hữu nhà
nước tăng lên 1 đơn vị lệch chuẩn thì biến Leverage sẽ tăng lên 0.609 đơn vị
lệch chuẩn qua đó tăng tính bất đối xứng của thông tin. Sự tham gia của nhà
nước trong việc góp vốn vào các công ty nói chung và ngân hàng nói riêng đã
được nhiều chuyên gia chỉ ra là kém hiệu quả. Rất nhiều trường hợp, thành viên
HĐQT đại diện cho phần vốn góp của nhà nước tại các ngân hàng hoàn toàn
không có trình độ chuyên môn về ngân hàng, cộng thêm nhà nước lúc đó tuy
đóng vai trò là chủ sở hữu nhưng đồng thời vẫn đóng vai trò là cơ quan quản lý.
Vậy nên, các nhà quản trị sẽ có xu hướng ít chia sẻ thông tin cũng như ít chia sẻ
thông tin một cách chính xác hơn, từ đó kéo theo tính bất đối xứng của thông tin
trong các ngân hàng có sở hữu nhà nước tăng lên.
Yếu tố tiếp theo có ảnh hưởng tới thông tin bất đối xứng là số lượng thành
viên của HĐQT, với hệ số Beta = 0.223, tức là khi tăng số lượng thành viên của
HĐQT lên 1 đơn vị lệch chuẩn thì yếu tố Leverage sẽ tăng lên 0.223 đơn vị lệch
chuẩn, kéo theo là thông tin bất đối xứng trong ngân hàng sẽ tăng lên. Sự tác động
của Số lượng thành viên HĐQT độc lập lúc này lại ngược lại với bên trên khi làm
tăng tính bất đối xứng của thông tin trong ngân hàng. Điều này được giải thích là
khi số lượng thành viên HĐQT độc lập tăng lên, số thành viên này luôn được coi là

(Beta)

Mô hình 3b
(Beta)

-.592***
.141a

-.784***
.514***

0.283
28.609***

.206**
.052
-.092
.046
-.097
-.017
-0.444**
0.114
0.413
10.848***

Biến kiểm soát
Năm nghiên cứu
Quy mô tài sản của ngân hàng
Biến chính
Số lượng thành viên HĐQT

khẳng định khi số lượng thành viên HĐQT tăng lên đồng nghĩa với số người gánh
vác trọng trách sẽ tăng lên, các quyết định đưa ra được cân nhắc kỹ lưỡng hơn, nhìn
nhận ở nhiều góc độ khác nhau hơn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng cũng
được cải thiện hơn.
Nhưng hiệu quả hoạt động thu được qua việc sở hữu quy mô tài sản lớn và
một số lượng thành viên HĐQT đông đảo bị giảm đáng kể đối với các ngân hàng
có yếu tố sở hữu nhà nước, với hệ số Beta điều chỉnh = -0.444, khi yếu tố sở hữu
nhà nước tăng lên một đơn vị lệch chuẩn thì hiệu quả hoạt động của ngân hàng
giảm đi một lượng bằng 0.444 đơn vị lệch chuẩn. Ở mô hình 2, yếu tố sở hữu của
nhà nước được coi là một yếu tố làm tăng thêm tính bất đối xứng của thông tin qua
đó gián tiếp làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng, thì kết quả hồi quy ở mô
hình 3b lại phản ánh sự tác động bất lợi một cách trực tiếp của yếu tố sở hữu của
nhà nước đến hiệu quả ngân hàng. Yếu tố sở hữu nhà nước ở mô hình 3b thể hiện
một thực tế được các chuyên gia ngân hàng – tài chính đã chỉ ra trong việc điều
hành các ngân hàng có yếu tố sở hữu nhà nước đó là sự trì trệ, kém nhanh nhạy
trước những thay đổi của thị trường…kéo theo hệ quả tất yếu đó là hiệu quả hoạt
động của các ngân hàng có yếu tố sở hữu nhà nước bị giảm sút hơn so với các ngân
hàng có cùng quy mô tài sản nhưng thuộc sở hữu hoàn toàn của tư nhân.
4.4.4. Kết quả phân tích hồi quy theo mô hình thứ tư xác định mức độ tác
động của các biến đại diện thông tin bất đối xứng và các biến kiểm soát tới hiệu
quả hoạt động của ngân hàng
Tác giả tiến hành chạy liền lúc 2 mô hình gồm: mô hình thứ nhất chỉ có các
biến kiểm soát tác động tới biến phụ thuộc (được ký hiệu là mô hình 4a) và mô
hình thứ hai gồm các biến kiểm soát và biến độc lập là các biến đại diện cho
thông tin bất đối xứng tác động tới biến phụ thuộc là hiệu quả hoạt động của
ngân hàng (ký hiệu là 4b).
Hệ số R2 điều chỉnh của mô hình 4a là 29,6%, R2 điều chỉnh của mô hình 4b
là 0,441. Như vậy hai biến độc lập đại diện cho thông tin bất đối xứng cùng các
biến kiểm soát có ý nghĩa giải thích được 44,1% sự biến động của biến phụ thuộc,
riêng các biến đại diện cho thông tin bất đối xứng giải thích thêm được 14,5% sự

R điều chỉnh
0.296
0.441
F
20.636***
23.058***
N = 141 ; ap ≤ 0.1; *p ≤ 0.05; **p ≤ 0.01; ***p ≤ 0.001
Tất cả hệ số tương quan đã được chuẩn hóa
(Nguồn: nghiên cứu của tác giả)

Như vậy, khi năm nghiên cứu tăng một đơn vị lệch chuẩn sẽ làm cho hiệu quả
hoạt động của ngân hàng giảm đi 0,609 đơn vị lệch chuẩn (kết luận này chỉ đúng
trong thời gian nghiên cứu từ 2006 đến 2014).
Tiếp theo là biến Quy mô tài sản của ngân hàng với hệ số Beta chuẩn hóa =
0.240, tức là khi quy mô tài sản của ngân hàng tăng lên một đơn vị lệch chuẩn thì
hiệu quả hoạt động của ngân hàng tăng lên 0.240 đơn vị lệch chuẩn. Cơ chế tác
động của quy mô tài sản tới hiệu quả hoạt động đã được giải thích ở mô hình 3b.
Tiếp theo là biến R&D, với hệ số Beta chuẩn hóa = -0,294 . Tức là, khi R&D
tăng lên 1 đơn vị lệch chuẩn (kéo theo tính bất đối xứng của thông tin tăng lên) thì
hiệu quả hoạt động của ngân hàng sẽ giảm đi 0,294 đơn vị lệch chuẩn.
Cuối cùng là biến Leverage với hệ số Beta chuẩn hóa = -0,267. Tức là, khi
Leverage tăng lên 1 đơn vị lệch chuẩn (kéo theo tính bất đối xứng của thông tin
tăng lên) thì hiệu quả hoạt động của ngân hàng sẽ giảm đi 0,267 đơn vị lệch chuẩn.
Như vậy, nói chung khi thông tin bất đối xứng tăng lên thì hiệu quả hoạt động
của ngân hàng sẽ giảm đi, hay nói cách khác là mức độ bất đối xứng của thông tin
ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
4.4.5. Tổng hợp kết quả phân tích hồi qui của 4 mô hình
Từ các bảng kết quả hồi quy ở trên tác giả kết luận về các giả thuyết ở chương
2 như sau:
- Giả thuyết H1.1: Được chấp nhận với độ tin cậy 99,9%. Biến đại diện cho

đối xứng.
- Giảả th
thuyết H2.15: Được chấp nhậ
hận với độ tin cậy 99,9%. Yếu
ếu tố Sở hữu nhà
nước có tácc độ
động thuận chiều với thông
g tin
t bất đối xứng.
- Giảả th
thuyết H3.1: Được chấp nhận
ận với độ tin cậy 95%. Yếu tốố Số lượng thành
viên HĐQT
T ttác động cùng chiều tới hiệu
ệu quả hoạt động của ngân hàn
àng.
- Giảả th
thuyết H3.7: Được chấp nhận
hận với độ tin cậy 95%. Yếu
ếu tố
ố Sở hữu nhà
nước tác động
độn ngược chiều tới hiệu quảả hhoạt động của ngân hàng.
- Các g
giả thuyết còn lại, do Sig >0
>0,05, nên với độ tin cậy 95%
5% ta bác bỏ các
giả thuyết cò
òn lại.
Mô hìn

minh bạch và công khai hóa
óa thông tin, tăng cường vaii ttrò độc lập của
Ban kiểm soá
soát, tách bạch giữa quyền quảản lý và quyền sở hữu.
5.2 Khuyến
n nghị đối với Hội đồng quảản trị
Để tăng
ăng cường vai trò của mình, HĐQ
ĐQT cần thực hiện những việcc sau:
s
Thứ nhấất, đối với thành viên HĐQT
T ccần tăng cường năng lực và m
mức độ cẩn trọng
thông qua việệc đánh giá HĐQT. Cụ thể,, đ
để nâng cao mức độ cẩn trọng
ng của các thành
viên HĐQT,
T, nhằm cung cấp thông tin ch
cho cổ đông giám sát hiệu quảả hoạt động của
từng thành viê
viên HĐQT, HĐQT cần báo cáo ĐHCĐ hằng năm về nhữngg nội dung.
Thứ hai
ai, HĐQT cần tăng cường sự tham
t
gia của những thành viê
viên độc lập trong
HÐQT từ bên
ên ngoài để nâng cao tính minh
nh bạch, công khai trong quản
n ttrị công ty, giảm

(hàng quý) từ tất cả các bộ phận, đơn vị trong TCTD để báo cáo cho Ban kiểm soát
thông qua Kiểm toán nội bộ. Trên cơ sở đó, Ban kiểm soát/Kiểm toán nội bộ đánh giá
về mức độ nghiêm trọng của các tồn tại, sai phạm, rủi ro để tổng hợp các vấn đề cần báo
cáo cho HĐQT và Ngân hàng Nhà nước.
5.3 Khuyến nghị đối với sở hữu
Giảm sở hữu nhà nước trong ngân hàng nhằm tăng khả năng sinh lời điều này phù
hợp với chủ trương giảm dần vốn nhà nước. Tuy vậy phần vốn đại diện nhà nước vẫn
nên giữ cổ phần chi phối. Các cổ đông nhà nước nên tham gia nhiều hơn vào vấn đề
quản trị . Cổ đông này cần khắt khe hơn với HĐQT, đặc biệt là trong vấn đề đánh giá,
bổ nhiệm kiểm toán độc lập, yêu cầu cung cấp thông tin về lai lịch của những thành viên
HĐQT được đề cử, cũng như chất lượng báo cáo của HĐQT và BKS. Cần thể hiện
trách nhiệm của mình trong các cuộc họp đại hội cổ đông.
5.4 Khuyến nghị đối với thông tin bất đối xứng
Việc hạn chế và giảm thiểu ảnh hưởng của thông tin bất đối xứng, hệ thống tài
chính- ngân hàng của Việt Nam cần làm những việc như sau:
Nâng cao chất lượng thông tin công bố cho cổ đông và cộng đồng nhà đầu tư nói
chung.
Để hạn chế “tâm lý ỷ lại”, một mặt chính phủ cần đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc
hệ thống ngân hàng, tăng tính hiệu quả của thị trường bằng cách kiên quyết giải thể hoặc
sáp nhập các tổ chức tín dụng gây ra quá nhiều tổn thất cho xã hội, trên cơ sở phải để
cho người chủ các tổ chức này phải trả giá cho những gì họ đã gây ra cho nền kinh tế.
Hạn chế ảnh hưởng của “lựa chọn bất lợi” và “người ủy thác- đại diện” đối với
toàn hệ thống, cần tăng cường chức năng giám sát hệ thống tài chính, chú trọng nhiều
hơn vào các quy định bảo đảm an toàn vĩ mô nhằm quản lý tín dụng chặt chẽ hơn, ngăn
ngừa và giảm thiểu rủi ro của cả hệ thống.
Cần tăng cường minh bạch hóa thông tin tài chính
HĐQT cần xây dựng hệ thống báo cáo trong đó quy định rõ nội dung, thời gian
phù hợp nhiệm vụ định hướng và giám sát có liên quan đến lập và công bố.
23


quản trị trong các ngân hàng chiếm một tỉ lệ còn thấp, khoảng từ một đến hai thành viên.
Số lượng này thấp hơn so với thế giới. Theo nghiên cứu thế giới để đạt được hiệu quả
hoạt động cũng như tăng cường tính minh bạch thì số lượng nên từ 5 đến 10 người.
Chính vì vậy, tác giả kiến nghị tăng cường số lượng thành viên độc lập trong HĐQT.
Ngoài hai kiến nghị đã nêu trên, qua nghiên cứu của mình, tác giả cũng đề xuất
tăng cường quy mô của hội động quản trị. Khi tăng qui mô hội đồng quản trị sẽ tạo được
cơ hội cho các cổ đông nhỏ được tham gia vào các hoạt động điều hành chung, được
đóng góp năng lực và có tiếng nói trong việc đưa ra các quyết sách của ngân hàng, cũng
như đảm bảo được quyền lợi của mình.
5.8 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Nghiên cứu có một số hạn chế như sau. Thứ nhất, chưa đi sâu nghiên cứu vấn
đề quản trị công ty trong khối ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh và các
tổ chức tín dụng phi ngân hàng (HSBC, ANZ, Citibank, …). Thứ hai, chưa nghiên
cứu các biến khác cũng đại diện cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng như ROE.
Những hạn chế trên là những gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo như: mở rộng đối
tượng nghiên cứu là các ngân hàng có 100% vốn nước ngoài hoặc các tổ chức tín
dụng phi ngân hàng v.v…
24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status