MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI BỘ MÁY NHÀ
NƯỚC VÀ YÊU CẦU NĂNG LỰC CÁN BỘ
1.1.
Vị trí, vai trò, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức và hoạt động
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
7
7
1.1.1 Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống
chính trị nước ta
7
1.1.2 Nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo qui định của
Hiến pháp và pháp luật
10
1.1.3 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
12
26
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CỦA CÁN BỘ MẶT TRẬN
TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT
BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
30
Tổ chức bộ máy của cơ quan Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các cấp
30
2.1.1 Cơ cấu tổ chức cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam
30
2.1.
2.1.2
Cơ cấu tổ chức cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp tỉnh, cấp huyện
32
2.1.3 Cơ cấu tổ chức cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp xã
2.3.2 Giám sát hoạt động của Quốc Hội
39
2.3.3 Giám sát hoạt động của cơ quan Hành pháp
41
2.3.4 Giám sát hoạt động của cơ quan tư pháp
43
2.3.5 Tham gia và giám sát công tác đặc xá hàng năm
45
2.4.
Thực trạng chung về cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
hiện nay
46
2.4.1 Về chất lượng đào tạo
46
2.4.2 Về năng lực hoạt động
3.1.1 Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
của Đảng ta về vai trò cán bộ
56
3.1.2 Hoạt động giám sát của cán bộ Mặt trận phải góp phần bảo vệ
thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa
59
3.1.3 Hoạt động giám sát của cán bộ Mặt trận phải góp phần tích
cực vào việc xây dựng và củng cố nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa
60
3.1.
3.1.4 Hoạt động giám sát của cán bộ Mặt trận phải đảm bảo phát
huy quyền làm chủ của nhân dân
3.2.
61
Các giải pháp nâng cao năng lực cán bộ Mặt trận trong
hoạt động giám sát Bộ máy Nhà nước
61
3.2.7 Từng bước nâng cao văn hoá dân chủ cho nhân dân
85
PHẦN KẾT LUẬN
91
TÀI LIỆU THAM KHẢO
93
PHỤ LỤC
98
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ những ngày đầu xây dựng và củng cố chính quyền nhà nước,
Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến vấn đề công tác cán bộ và nhận
thức sâu sắc công tác cán bộ là một trong những công tác có ý nghĩa quyết định
tới việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị và các mục tiêu kinh tế mà Đảng và Nhà
nước đã đặt ra trong thời kỳ phát triển của Cách mạng, của đất nước.
Nhìn lại lịch sử dân tộc Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo cách
mạng Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tới việc nâng cao năng lực đội ngũ cán
bộ, công chức coi đó là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục liên quan đến vận
mệnh của Đảng, của chế độ.
Trong nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
trị bởi tính đặc trưng của tổ chức mình. Mục tiêu cao nhất về tổ chức và hoạt
động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân tộc để phát huy sức mạnh toàn dân tộc, chung sức, đồng lòng thực hiện
các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, cùng nhau xây
dựng một nước Việt Nam độc lập, hoà bình, thống nhất và giàu mạnh.
Để đạt được mục tiêu trên đây, một trong những vấn đề vừa cấp bách,
vừa có tính chiến lược trong nhiệm vụ xây dựng chính quyền của dân, do dân,
vì dân là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải thực hiện tốt vai trò giám sát đối
với hoạt động của bộ máy Nhà nước đã được khẳng định trong Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X:“Hoạt động của Đảng và Nhà nước phải
chịu sự giám sát của nhân dân” [9, tr.304], “Phát huy vai trò và tạo điều kiện
thuận lợi để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối,
chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện vai trò
giám sát và phản biện xã hội” [9, tr.305].
Một vấn đề quan trọng, có tính quyết định hiệu quả của công tác Mặt
trận tham gia quản lý Nhà nước, cụ thể là giám sát hoạt động của bộ máy Nhà
3
nước là năng lực của đội ngũ cán bộ Mặt trận. Hiện nay, đội ngũ cán bộ của
hệ thống tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tuy đã được tăng cường về số
lượng và chất lượng, nhưng vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế: Đội ngũ cán bộ còn
thiếu và chưa đồng bộ về cơ cấu, chất lượng,...; ở một số lĩnh vực công tác,
chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ của
hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm đáp ứng nhiệm vụ tham gia xây
dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tăng cường hiệu quả công tác quản lý của
Nhà nước là việc làm hết sức cần thiết cả về phương diện lý luận và thực tiễn.
Từ những vấn đề nói trên cho thấy cần nghiên cứu, làm rõ, đưa ra
những đánh giá khách quan và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực của
đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong hoạt động giám sát
hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu
Cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được đề cập trong luận văn này là
Cán bộ, công chức được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo quy định
của “Luật cán bộ, công chức” được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua, ngày 13/11/2008.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lên nin.
- Phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch sử.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp so sánh, thống kê.
- Phương pháp khảo sát và tổng kết thực tiễn.
6. Đóng góp của luận văn
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp lý, thực tiễn về vai trò, nhiệm vụ của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động giám sát bộ máy Nhà nước.
- Phân tích đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam hiện nay với nhiệm vụ giám sát bộ máy Nhà nước.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Mặt trận
trong hoạt động giám sát đối với bộ máy Nhà nước góp phần tăng cường hoạt
động của bộ máy Nhà nước trong thời kỳ mới.
6
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vai trò giám sát của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam đối với bộ máy Nhà nước và yêu cầu năng lực cán bộ.
- Chương 2: Thực trạng về năng lực của cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong hoạt động giám sát bộ máy Nhà nước.
chức và tên gọi khác nhau từ Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (18-111930), Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (11-1936), Mặt
trận thống nhất Dân chủ Đông Dương (3-1938), Mặt trận Thống nhất dân tộc
phản đế Đông Dương (11-1939), Việt Nam Độc lập đồng minh hội (19-51941), Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (29-5-1946), Mặt trận Liên Việt (7-
8
3-1951), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (10-9-1955), Mặt trận Dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam (20-12-1960), Liên minh các Lực lượng Dân tộc,
Dân chủ và Hoà bình Việt Nam (20-4-1968), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
(mới) (4-2-1977). Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một hình thức cụ thể của Mặt
trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, tổ chức có quá trình lịch sử ra đời và hoạt
động rất vẻ vang, không ngừng lớn mạnh, đã có những đóng góp to lớn vào
thắng lợi vĩ đại của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi
của cách mạng Việt Nam và trở thành một thành tố quan trọng trong hệ thống
chính trị của nước ta.
Khi Đảng chưa giành được chính quyền thì Mặt trận là liên minh chính
trị của công nông với các lực lượng dân tộc tiến bộ, trực tiếp tổ chức thực
hiện đường lối, chủ trương của Đảng, vận động đoàn kết nhân dân đấu tranh
chống thực dân và phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân; đồng thời
trong nhiều thời kỳ, Mặt trận còn thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ của
chính quyền ở vùng mới giải phóng. Sau khi giành được chính quyền, Mặt
trận cùng với Đảng, Nhà nước đều là công cụ để thực hiện và phát huy quyền
làm chủ của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chính sách
Mặt trận là chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là công tác rất quan
trọng trong toàn bộ công tác cách mạng”, “Trong cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Dân tộc thống
nhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng nước ta”.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ví trí của Mặt trận càng
được củng cố với chức năng chủ yếu xây dựng, tăng cường khối đại đoàn kết
toàn dân, góp phần tạo nên sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân;
Mặt trận mạnh hơn bởi vì Đảng là thành viên và cũng là hạt nhân lãnh đạo Mặt
trận, còn Nhà nước là thiết chế đảm bảo các điều kiện cho hoạt động của mọi
thành viên hệ thống chính trị (pháp luật, chính sách, tài chính...).
Sở dĩ giám sát trở thành một nhiệm vụ cơ bản của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam là vì những lý do sau:
Mặt trận là tổ chức quần chúng rộng lớn nhất, đại diện cho mọi tầng lớp
nhân dân. Chỉ có thông qua hoạt động giám sát, Mặt trận mới có thể giúp nhân
12
dân kiểm soát được việc sử dụng quyền lực đã uỷ quyền của mình cho các cơ
quan quyền lực. Thực hiện giám sát là Mặt trận đã thực hiện sự uỷ quyền của
mọi tầng lớp nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội. Nếu không thực hiện
tốt chức năng giám sát thì Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không thể hoàn thành
vai trò đại diện bảo vệ lợi ích cho mọi tầng lớp nhân dân.
Giám sát là nhu cầu tự thân của Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp
quyền Xã hội Chủ nghĩa ở nước ta. Bản thân hoạt động giám sát đã tạo ra sự
chế ước từ bên ngoài để Đảng cầm quyền và Nhà nước không thể tuỳ tiện trong
việc hoạch định đường lối và tổ chức thực thi các quyết sách. Giám sát góp
phần vào việc giáo dục đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên về đạo đức, lối
sống, ý thức và kỹ năng thực thi công vụ.
- Cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.
- Tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với
nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới.
1.1.3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam
Cùng với quá trình phát triển của cách mạng, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam có quá trình lịch sử ra đời và hoạt động rất vẻ vang. Trong quá trình hoạt
động, để nâng cao vị trí, vai trò, đóng góp tích cực vào những thành tựu
chung của đất nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã từng bước xây dựng hệ
là một bộ phận, một thành tố của hệ thống chính trị, còn là một tổ chức độc
lập có tư cách pháp nhân bên cạnh Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân,
do Đảng lãnh đạo.
Tùy theo yêu cầu của cách mạng đòi hỏi, đặc điểm, điều kiện thực tế
đất nước mà tổ chức bộ máy và cán bộ của hệ thống tổ chức mặt trận sẽ có sự
biến đổi, phát triển cho phù hợp. Ở nước ta hơn nửa thế kỷ qua, xét về tổ chức
bộ máy Mặt trận cũng đã có nhiều thay đổi. Từ Mặt trận có tính chất hiệu
triệu, kêu gọi ban đầu, đến hình thành tổ chức bộ máy là các Hội (Hội Cứu
quốc, Hội Việt minh…) đến Mặt trận có tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ và
14
các yếu tố, điều kiện hoạt động kèm theo, được qui định trong Luật, Điều lệ
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Từ năm 1955 trở về trước, do nhiều nguyên nhân khác nhau tổ chức bộ
máy Mặt trận còn chưa rõ ràng, ổn định. Tại Đại hội lần thứ nhất Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam (9-1955) đã quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và bầu ra Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (gọi chung là Ban
Mặt trận Trung ương). Ở các khu tự trị, thành, tỉnh thì lập Ban Mặt trận Khu
tự trị, tỉnh, thành. Ở cấp huyện, châu, thị xã không thành lập Ban Mặt trận mà
chỉ thành lập Đảng đoàn Mặt trận.
Ở giai đoạn này không có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp cơ
sở. Công tác Mặt trận ở cấp cơ sở chủ yếu được giao cho cấp ủy Đảng, các
đoàn thể nhân dân “Mỗi cấp ủy cần có một Ban phụ trách công tác mặt trận
và dân vận. Khi cần thiết, Ban này sẽ danh nghĩa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
để hiệu triệu” [53, tr.217-218]. Như vậy, hình thức Mặt trận khi cần cho cấp
cơ sở xã, đường phố lúc này là Hội nghị đại biểu các giới quần chúng do
chính cấp ủy đảng đứng ra tổ chức. Mỗi Đảng ủy xã, khu phố cử một đổng chí
đảng ủy viên có uy tín, trình độ phụ trách công tác Mặt trận. Nơi có vấn đề
phức tạp về tôn giáo, dân tộc có thể có thêm hình thức Ban Liên lạc Mặt trận,
Tổ quốc Việt Nam.
Tại Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một lần nữa vị trí, vai trò làm
cơ sở cho tổ chức bộ máy và cán bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lại được
khẳng định. Cùng với việc nhắc lại quy định trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam đã có các điều khoản cụ thể khẳng định trực tiếp hoặc gián tiếp về tổ
chức bộ máy và cán bộ của hệ thống tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, như
quy định về thành viên, nghĩa vụ và quyền của thành viên; nguyên tắc tổ
chức, hoạt động và cơ cấu; cơ quan lãnh đạo các cấp và quan hệ giữa Mặt trận
với các cơ quan Nhà nước, với nhân dân; kinh phí hoạt động, tài sản của Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc các cấp.
16
Tổ chức bộ máy của hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có 2 loại
hình cơ bản, chủ yếu nhất, bao gồm: hệ thống các tổ chức thành viên và hệ
thống Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp.
Do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp
tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội
và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc,
các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài…Chính vì tính chất,
đặc điểm nói trên nên khi nói tới Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là nói tới một tổ
chức tập hợp rộng rãi, bao gồm các thành viên. Có thể nói, đây là loại hình tổ
chức rất độc đáo, riêng có của thể chế chính trị Việt Nam và nhờ nó đã góp
phần tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tạo ra sức mạnh, động lực cho dân
tộc. Theo quy định của Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bao gồm: các tổ chức và cá nhân tự nguyện gia
nhập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên cơ sở tán thành Điều lệ Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp công
nhận. Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có quyền và nghĩa vụ khi
tham gia Mặt trận. Thành viên dù là tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp…trước hết bản thân nó là một tổ chức
định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác từ Trung ương đến cấp cơ sở.
1.2. HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT
NAM ĐỐI VỚI BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
1.2.1. Khái niệm, đặc trưng của hoạt động giám sát
Khái niệm "giám sát" hiện nay được dùng rất phổ biến trong các khoa
học như chính trị học, luật học, hành chính học... và trong nhiều văn bản Nghị
quyết của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước cũng như trong thực tiễn
đời sống, song nội hàm của nó còn có nhiều cách hiểu khác nhau:
Theo từ điển Luật học định nghĩa: "Giám sát là sự theo dõi, quan sát
hoạt động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sáng tác động
bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu
18
sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã
xác định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh".
Trong cuốn tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của
Đảng Cộng sản Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia, tr184) nêu khái niệm giám
sát như sau:
Giám sát là theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá
nhân, tổ chức cộng đồng người đối với cá nhân, tổ chức, cộng đồng
khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, trong việc thực
hiện Hiến pháp, pháp luật, đường lối, quan điểm của Đảng, chính
sách của Nhà nước, các quyền lợi, nghĩa vụ của công dân, của các
tổ chức chính trị - xã hội và kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu,
xử lý đối với cá nhân, tổ chức có những hành vi sai trái [45, tr.184].
Trong Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh chủ biên thì "Giám sát là
xem xét và đàn hạch".
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì: "Giám sát là theo
(bằng việc làm không phải bằng lời nói suông), sáng suốt (thấy cái hay cái dở)
và tích cực (giám sát và đề nghị)". Tuy nhiên, quyền giám sát của Mặt trận mới
chính thức được ghi nhận tại Điều 9 Hiến pháp năm 1992: "Mặt trận giám sát
hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà
nước". Nhân dân có quyền giám sát trực tiếp và có quyền gián tiếp giám sát cơ
quan nhà nước, cán bộ, công chức, đảng viên (thông qua Mặt trận và các đoàn
thể để thực hiện).
Sau Hiến pháp năm 1992, trong nhiều văn bản pháp luật, trong đó có
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nhà nước đã từng bước thể chế hoá quyền
giám sát của Mặt trận trên nhiều lĩnh vực như: giám sát việc thi hành pháp
luật về khiếu nại tố cáo của công dân; giám sát việc thi hành pháp luật về xử
phạt vi phạm hành chính, thi hành Luật đất đai, thi hành Luật thuế, thi hành
Luật nghĩa vụ quân sự, giám sát hoạt động tố tụng hình sự, dân sự, hành
chính, lao động; giám sát hoạt động của đại biểu dân cử trong việc thực hiện
20
trách nhiệm người đại biểu... Như vậy, xét về quyền giám sát của Mặt trận
trong việc thi hành chính sách, pháp luật của các cơ quan nhà nước là rất rộng
(cho đến tháng 10 năm 2009, đã có 54 văn bản quy phạm pháp luật liên quan
đến quyền giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân
dân). Đó là sự thể hiện đường lối, chính sách của Đảng về thực hiện dân chủ
Xã hội Chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trên thực tế, quyền
giám sát của Mặt trận đã đi vào cuộc sống, đã thu được những kết quả và kinh
nghiệm nhất định. Song có thể nói đây vẫn là khâu yếu nhất và còn nhiều lúng
túng mà Mặt trận cần phải tập trung nghiên cứu tháo gỡ.
- Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là hoạt động
giám sát nhân dân. Điều 12, Luật Mặt trận Tổi quốc Việt Nam ngày 12 tháng
6 năm 1999 nêu rõ:
"Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là giám sát mang
chống lãng phí và văn bản pháp luật có liên quan).
Hình thức, cơ chế giám sát cán bộ, công chức, Đảng viên ở khu dân cư
được cụ thể hoá ở Nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ và Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam (số 05, ngày 21/04/2006) ban hành bằng hình thức Quy
chế, trong đó, quy định rõ mục đích giám sát, nguyên tắc giám sát, đối tượng giám
sát, quyền trách nhiệm của chủ thể giám sát và đối tượng bị giám sát, nội dung
giám sát, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khi trả lời kiến nghị giám sát.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ, công chức còn được quy
định cụ thể trong Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn với hình
thức “lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt do Hội đồng nhân dân cấp
xã bầu”, đó là Chủ tịch Hội đồng Nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân
dân, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân, Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân do Ban
Thường trực Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã chủ trì tổ chức việc lấy phiếu
tín nhiệm. Giám sát cán bộ, công chức theo quy định của Luật phòng chống
tham nhũng; Luật thực hành tiệt kiệm, chống lãng phí.
Giám sát hoạt động của đại biểu dân cử:
Nội dung giám sát hoạt động của đại biểu dân cử, bao gồm: giám sát
tiêu chuẩn đại biểu và việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu dân cử. Hiện chưa