LỜI NÓI ĐẦU
Để có thể hoàn thành được Đề tài “ Thực trạng giải quyết Khiếu nại, Tố
cáo về đất đai của ban Thanh tra nhà nước thuộc UBND Quận Tây Hồ, Hà Nội”
môn Phương pháp nghiên cứu khoa học tôi đã nhận được sự quan tâm và giúp
đỡ của rất nhiều người. Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến.
Trường Đại học Nội vụ, Khoa hành chính học đã tổ chức khóa học để
chúng tôi có thể nâng cao, bồi dưỡng và hoàn thiện tri thức của mình.
Xin bày tỏ sâu sắc và kính trọng đến TS. Bùi Thị Ánh Vân đã hướng dẫn
cách thực hiện một đề tài cho chúng tôi xin cảm ơn và tỏ lòng tri ân về sự tận
tâm, nhiệt tình hướng dẫn của cô để tôi có thể thực hiện đề tài trong suốt quá
trình giảng dạy.
Ngoài ra tôi còn phải cảm ơn đến Anh Nguyễn Thanh Huấn Chánh thanh
tra đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu, số liệu và hiểu hơn về Thực
trạng giải quyết Khiếu nại, Tố cáo tại UBND Quận Tây hồ.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong quá trình thực hiện đề tài nhưng với
những kiến thức và hiểu biết về thực tế còn nhiều hạn chế nên chắc chắn sẽ có
nhiều thiếu sót, rất mong nhận được lời góp ý của quý thầy cô, quý cơ quan để bài
tiểu luận của tôi được hoàn thiện và có thêm những kinh nghiệm quý báu nhất.
Xin kính chúc ban lãnh đạo, tập thể cán bộ, công chức UBND Quận Tây
hồ, quý thầy cô giáo trường Đại học Nội vụ Hà Nội lời chúc sức khỏe, thành
công và thịnh vượng trong cuộc sống cũng như trong công tác.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “ Thực trạng giải quyết Khiếu nại, Tố cáo về đất
đai của ban Thanh tra nhà nước thuộc UBND Quận Tây hồ, Hà nội” là đề tài do
tôi thực hiện và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác làm
sản phẩm của riêng mình. Mọi thông tin, kết quả nghiên cứu nêu trong đề tài là
hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng, Tôi xin chiụ trách
nhiệm hoàn toàn về tính chính xác và có sự khiếu nại, tố cáo về quyền tác giả.
Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2016
Khái niệm về thanh tra......................................................................5
1.2. Giới thiệu chung về UBND Quận Tây hồ...............................................7
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI CỦA BAN THANH TRA NHÀ NƯỚC.....................9
2.1. Thực trạng chung về vấn đề giải quyết Khiếu nại, Tố cáo......................9
2.2. Khiếu nại và giải quyết Khiếu nại về đất đai.........................................10
2.2.1 Khiếu nại về đất đai.............................................................................10
2.2.2. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại.......................................................10
2.2.3 Thủ tục giải quyết khiếu nại................................................................12
2.3. Tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai...................................................14
2.3.1 Tố cáo về đất đai..................................................................................14
2.3.2 Thẩm quyền giải quyết tố cáo..............................................................14
2.3.3 Thủ tục giải quyết tố cáo.....................................................................15
2.4 Vai trò của các cơ quan thanh tra trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo:. .16
2.5. Tình hình giải quyết khiếu nại, Tố cáo trong thời gian qua...................19
2.5.1. Công tác tiếp dân................................................................................19
2.5.2 Công tác giải quyết khiếu nại..............................................................19
2.5.3 Công tác giải quyết tố cáo...................................................................19
2.6. Kết quả giải quyết từ năm 2012 đến Quý III Năm 2014.......................20
2.7. Nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo về đất đai..............................25
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI
QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂY HỒ............33
3.1. Một số đánh giá về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai.....33
3.1.1. Những mặt được.................................................................................33
3.1.2. Những tồn tại trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai................33
3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại,
tố cáo về đất đai............................................................................................34
bất cập vì vậy tôi quyết định tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này để hiểu rõ về công
tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực Khiếu nại, Tố cáo.
1
3. Mục đích của đề tài :
Luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn để xác định vai trò của các cơ
quan thanh tra nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
Nêu lên được thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa
bàn quận của thanh tra Nhà nước quận Tây Hồ.
Đề xuất được những biện pháp khắc phục và phân tích nguyên nhân dẫn
đến tình trạng đó.
4. Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu về công tác giải quyết Khiếu nại, Tố cáo về đất đai
của ban Thanh tra nhà nước thuộc UBND Quận Tây hồ, Hà nội
Làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở pháp luật xác định vai trò của các cơ quan
thanh tra nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của cơ quan thanh tra trong giải
quyết khiếu nại, tố cáo đất đai
5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nêu lên vai trò của cơ quan thanh tra Nhà nước quận Tây hồ,
thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai giải pháp và kiến nghị.
6. Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê Nin đồng thời trên quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về nhà nước và pháp luật và yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân.
Vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học,
tổng kết thực tiễn, phương pháp lịch sử cụ thể.
khi có căn cứ cho rằng quyết định hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền
và lợi ích hợp pháp của mình” (khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại).
Từ khái niệm có thể thấy: khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ
chức chịu tác động trực tiếp của quyết định hành chính hay hành vi hành chính
hoặc là đề nghị của cán bộ, công chức chịu tác động trực tiếp của quyết định kỷ
luật đối với cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Như vậy, Khiếu nại là quyền, là hành vi của các chủ thể như cơ quan nhà
nước, tổ chức và cá nhân, còn hoạt động giải quyết khiếu nại là hoạt động mang
tính quyền lực nhà nước, chỉ được thực hiện bởi người có thẩm quyền trong cơ
quan hành chính nhà nước theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Quyền
khiếu nại của công dân xuất hiện trong mối liên hệ với quá trình thực hiện chức
năng quản lý nhà nước. Quá tình công dân thực hiện quyền khiếu nại chính là
quá trình cung cấp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền các tài liệu, chứng cứ
về sự vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân từ phía cơ quan và người
có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước
4
1.1.2. Khái niệm Tố cáo
Cùng với quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân đã được ghi nhận
trong Hiến pháp, Luật Tố cáo và nhiều văn bản pháp luật khác. Khái niệm tố cáo
có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ pháp lý, tố cáo
được hiểu: “là việc công dân theo thủ tục do Luật Tố cáo quy định báo cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất
cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi
ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”
(khoản 2, Điều 2 Luật Tố cáo). Như vậy, công dân dù bị ảnh hưởng trực tiếp hay
không bị ảnh hưởng bởi hành vi vi phạm pháp luật là đối tượng của việc tố cáo,
đều có quyền thực hiện việc tố cáo khi biết được có hành vi vi phạm pháp luật
xảy ra trong đời sống xã hội. Công dân có thể cung cấp các thông tin về hành vi
pháp, hành pháp và tư pháp. Các cơ quan nhà nước hoạt động theo nguyên tắc
tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân tập trung dân chủ; quyền lực nhà
nước là thống nhất, nhưng có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan thực hiện
chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp có sự phân cấp rành mạch giữa trung
ương và các cấp chính quyền địa phương; có kế hoạch pháp chế xã hội chủ
nghĩa; công khai dân chủ, bình đẳng giữa các dân tộc; bảo đảm sự tăng cường
lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước.
Như vậy, mỗi loại cơ quan đóng vai trò nhất định trong việc thực hiện
quyền lực nhà nước, đó là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tính độc lập
tương đối về chức năng của các cơ quan đó do sự phân công quyền lực quyết
định. Nhưng có sự phối hợp nhịp nhàng tạo nên sự thống nhất, đồng bộ trong
hoạt động các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức chỉ được làm những gì mà
pháp luật quy định. Tất cả những việc có lợi cho nhân dân thì nên làm, cần phải
làm, việc gì có hại cho dân thì không được làm, thậm chí cả khi pháp luật không
quy định.
Thực tế ở nước ta đã cho thấy, hoạt động của các cơ quan hành chính nhà
nước, cán bộ, công chức cơ bản là đúng pháp luật, phù hợp với nguyện vọng và
yêu cầu của nhân dân, đó là sự biểu hiện bản chất của Nhà nước kiểu mới, Nhà
nước của dân, do dân, vì dân. Nhà nước ta đang tiến đến quản lý xã hội bằng
6
pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Song không
phải lúc nào, khi nào và ở đâu cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức cũng chấp
hành nghiêm chỉnh pháp luật và tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Vì quan liêu, mất dân chủ, tham nhũng tiêu cực, cục bộ, bản vị, bè phái đã dẫn
đến việc ban hành những quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính
xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đó là nguyên nhân nảy sinh
các khiếu nại, tố cáo của công dân. Vấn đề đặt ra cần phải được tiếp tục xem xét
ở đây là cơ quan nhà nước nào có khả năng giải quyết một cách khách quan,
điều kiện đặc biệt thuận lợi thu hút các nguồn lực (bao gồm cả nguồn vốn tài
chính, nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ) để thúc đẩy nhanh sự phát triển
kinh tế - xã hội của Quận nói riêng và của Thủ đô Hà Nội nói chung.
8
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI CỦA BAN THANH TRA NHÀ NƯỚC
2.1. Thực trạng chung về vấn đề giải quyết Khiếu nại, Tố cáo.
Từ lâu tình hình khiếu nại, tố cáo luôn là vấn đề bức bách được UBND
quận Tây Hồ và tất cả người dân trên địa bàn hết sức quan tâm. Ngoài việc thực
hiện các văn bản pháp luật liên quan đến khiếu nại, tố cáo về đất đai của Trung
ương và Thành phố Hà Nội, UBND Quận Tây Hồ đã ra quyết định số
06/2008/QĐ-UBND ngày 28/10/2008 của UBND quận Tây Hồ, ban hành quy
định về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc quận Tây Hồ. Các
văn bản đó đã và đang được triển khai thực hiện, có tác động tích cực đến tình
hình khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Nhờ vậy, nhiều “điểm
nóng”, nhiều vụ việc phức tạp đã được giải quyết, góp phần ổn định tình hình an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của thành phố. Tuy nhiên, do nhiều nguyên
nhân, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân diễn ra không bình thường, số
lượng gia tăng, tính chất ngày càng phức tạp. Trong đó khiếu nại, tố cáo, tranh
chấp về đất đai chiếm số lượng lớn, khoảng 70 – 75% so với các tổng số vụ
khiếu nại, tố cáo chung.
Trong thời gian từ năm 2012 – Quý III 2014 có rất nhiều vụ việc khiếu nại
liên quan đến đất đai. Nhiều trường hợp khiếu nại có liên quan đến việc Nhà
nước thu hồi đất để thực hiện các dự án, khu công nghiệp,các công trình hạ tầng
như đòi được bồi thường đất ở, nâng giá bồi thường, tăng tiền hỗ trợ, bố trí tái
định cư, giải quyết việc làm; đòi lại đất cho mượn, cho thuê... Ngoài ra, có một
số khiếu nại liên quan đến việc thực hiện chính sách xã hội, kỷ luật của cán bộ,
tịch UBND cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương, Giám
đốc Sở và cấp tương đương của UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, thủ
trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính
phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính
phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính hành vi
hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp.
Ngoài ra, Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch
10
UBND cấp xã, thủ trưởng cơ quan chuyên môn cấp huyện đã giải quyết nhưng
còn khiếu nại, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại mà Chủ
tịch UBND cấp huyện đã giải quyết nhưng còn khiếu nại; giải quyết khiếu nại
mà Giám đốc Sở hoặc cấp tương đương thuộc UBND cấp tỉnh đã giải quyết
nhưng còn khiếu nại mà nội dung thuộc phạm vi quản lý nhà nước của UBND
cấp tỉnh.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc
Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ,
thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ đã giải quyết lần đầu
nhưng còn khiếu nại, giải quyết khiếu nại có nội dung thuộc quyền quản lý nhà
nước của Bộ, ngành mình mà Chủ tịch UBND cấp tỉnh, giám đốc Sở hoặc cấp
tương đương thuộc UBND cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại.
Tổng thanh tra có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà Thủ trưởng cơ
quan thuộc Chính phủ đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại; giúp Thủ
tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, UBND các cấp trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại,
thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền lãnh đạo công tác giải quyết khiếu
nại của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp; xử
lý các kiến nghị của Tổng thanh tra theo quy định.
Theo quy định của Điều 27, 28, 29 Luật Khiếu nại, hiện hành thì người
khiếu nại lần đầu phải khiếu nại với người ra quyết định hành chính hoặc cơ
quan có cán bộ, công chức có hành vi hành chính mà người khiếu nại có căn cứ
cho rằng quyết định hành chính đó, hành vi hành chính đó là trái pháp luật, xâm
phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày
hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 28 Luật Khiếu nại, mà khiếu nại không
được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần
đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm
quyền giải quyết tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy
định của pháp luật; đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn nói
trên có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày. Trường hợp người khiếu nại
12
không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án
nhân dân cấp tỉnh, trừ trường hợp luật có quy định khác. Trong thời hạn 30 ngày,
kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 33 Luật Khiếu nại,
mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải
quyết khiếu nại mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khởi kiện vụ án
hành chính tại Toà án; đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn nói
trên có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày.
Tuy nhiên, điểm a khoản 2 Điều 138 Luật Đất đai năm 2003 lại quy định:
Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai là quyết định giải quyết khiếu nại cuối
cùng và người khiếu nại có quyền khởi kiện ra toà. Đồng thời điểm b khoản 2
Luật Đất đai, khoản 3 Điều 6 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP cũng quy định:
trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất
đai do Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không
đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiệns tại Toà án
nhân dân.
mới mà nội dung cần phải có hướng dẫn chi tiết. Bên cạnh đó, cần sớm có
hướng dẫn cụ thể, chi tiết đối với các vấn đề đã được nêu trên.
Tóm lại: “việc phân biệt hai khái niệm khiếu nại và tố cáo sẽ góp phần
quan trọng trong việc xây dựng cơ chế, thiết chế thực hiện quyền công dân và
cũng là cơ sở để cá thể hóa trách nhiệm, từ đó xác định thẩm quyền và xây dựng
trình tự giải quyết khiếu nại và tố cáo ngày càng đơn giản, gọn nhẹ, nhanh
chóng, tiết kiệm và hợp lí hơn”. (Giáo trình Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố
cáo – Trường Đại học Luật Hà Nội. Nhà xuất bản Công an nhân dân Hà Nội
2006).
2.4 Vai trò của các cơ quan thanh tra trong việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo:
Theo quy định của pháp lệnh thanh tra năm 1990, các cơ quan Thanh tra
nhà nước bao gồm: Thanh tra nhà nước, Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc chính phủ (gọi chung là thanh tra bộ); Thanh tra tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương (gọi chung là thanh tra tỉnh); Thanh tra sở, Thanh tra huyện,
quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là thanh tra huyện). Các cơ quan
thanh tra nằm trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước. Các cơ quan thanh
tra nhà nước chịêu sự chỉ đạo trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời
16
chịêu sự chỉ đạo công tác, tổ chức nghiệp vụ của cơ quan thanh tra nhà nước cấp
trên.
Theo quy định của Luật khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2011 thì các cơ quan
thanh tra nhà nước có vai trò quan trọng trong giải quyết khiếu nại, tố cáo nói
chung và giải quyết khiếu nai, tố cáo về đất đai nói riêng, cụ thể là:
- Tham mưu giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp trong
giải quyết khiếu nại, tố cáo;
- Giải quyết khiếu nại theo uỷ quyền của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà
nước cùng cấp; Riêng Tổng Thanh tra nhà nước với tư cách là thành viên Chính
trực tiếp ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính tác động
trực tiếp đến đối tượng quản lý. Vì vậy các cơ quan thanh tra độc lập, khách
quan trong việc xem xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo.
- Các cơ quan thanh tra có chức năng thanh tra việc thực hiện chính sách,
pháp luật của những đối tượng thuộc quyền quản lý nhà nước của Thủ trưởng
cùng cấp; phong ngừa và đấu tranh tham nhũng, lạm quyền, làm sai sự thật. Vì
vậy nó được pháp luật trao cho những quyền hạn quan trọng để thực hiện nhiệm
vụ được giao. Do đó các cơ quan này có ưu thế nhất định trong việc xem xét,
giải quyết khiếu nại, tố cáo mà các cơ quan khác không có được.
- Là cơ quan có vị trí trong cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nên ngay
từ khi mới được thành lập các cơ quan thanh tra đã được giao các nhiệm vụ,
quyền hạn quan trọng trong xem xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật của các
cơ quan hành chính nàh nước, cán bộ công chức nàh nước. Chức năng nhiệm vụ
đó ngày càng được củng cố, hoàn thiện và quy định đầy đủ hơn trong các văn
bản pháp luật, đặc biệt là Luật thanh tra vừa được Quốc hội thông qua.
- Trong điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, với việc mở
rộng quyền tự chủ cho các tổ chức kinh tế, thực hiện việc phân cấp mạnh cho cơ
quan cấp dưới và chính quyền cơ sở thì tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm
tra, kiểm soát của các cơ quan nhà nước cấp trên đối với các cơ quan đơn vị cấp
dưới là yêu cấu tất yếu. Do đó vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nước trong
giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai rất nhiều, để đảm bảo quyền
lợi cho công dân và ngăn ngừa tình trạng lạm dụng quyền lực để chiếm đoạt hay
18
hành sách dân, cơ quan thanh tra cần phải nỗ lực và cố gắng hơn nữa để ngăn
ngừa hiện tượng đó xảy ra vì thế mà cơ quan thanh tra trở nên quan trọng trong
bộ máy hành chính, trong thanh tra, đấu tranh chống tham nhũng ngày càng
được củng cố, tăng cường hơn.
2.5. Tình hình giải quyết khiếu nại, Tố cáo trong thời gian qua
đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình với những vụ việc cụ thể được giải quyết
triệt để đó là:
2.6. Kết quả giải quyết từ năm 2012 đến Quý III Năm 2014
Năm 2012
*. Giải quyết khiếu nại:
- Tổng số đơn khiếu nại 215 đơn (có 6 đơn kỳ trước chuyển sang)
+ Thuộc thẩm quyền UBND quận là: 176 đơn
+ thuộc thẩm quyền UBND phường là: 39
- Toàn quận giải quyết xong đơn 210/215- Đạt tỷ lệ giải quyết về khiếu
nại là 96,6%
- Trong 210 vụ đã giải quyết có 189 vụ cần phân tích:
+ KN sai: 180
+ KN có đúng có sai: 5 vụ
+ KN đúng: 4 vụ
+ Những vụ thuộc thẩm quyền còn tồn: 4 (chuyển kỳ sau giải quyết)
* Giải quyết tố cáo
- Tổng số vụ tố cáo: 20
+ Thuộc thẩm quyền của UBND quận: 17 vụ
+ Thuộc thẩm quyền của UBND phường: 3 vụ
- Toàn quận đã giải quyết xong 20/20 vụ - Đạt tỷ lệ về khiếu nại, tố cáo là
100%. Trong 20 vụ đã giải quyết có:
+ Tố cáo sai: 15 vụ
+ Tố cáo có đúng, có sai: 3 vụ
+ Tố cáo đúng: 2 vụ
- quyết định xử lý tố cáo: 20
- quyết định xử lý tố cáo đã được thi hành: 20
20
- quyết định xử lý tố cáo chưa được thi hành: 0