Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước tại hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi
cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi
phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.

NGUYỄN DIỆU HẰNG

QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG:
NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC TẠI HỒ THÁC BÀ,
TỈNH YÊN BÁI

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
(Phân bố lực lượng sản xuất và phân vùng kinh tế)
MÃ SỐ: 62340410

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Lê Hà Thanh
2. PGS. TS. Nguyễn Mậu Dũng

Hà Nội - 2017

Hà Nội, ngày

tháng

năm 2017


3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.................................................................... 8

4.3.3. Hành vi tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà72

4. Những đóng góp mới của luận án ................................................................... 8

4.3.4. Thuận lợi và khó khăn của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên nước
hồ Thác Bà ......................................................................................................... 79

5. Kết cấu của luận án ......................................................................................... 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ................................... 11
1.1. Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ............................................... 11
1.1.1. Tổng quan về các cách tiếp cận quản lý tài nguyên .................................... 11
1.1.2. Tổng quan về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng ................................ 12
1.1.3. Tổng quan các nghiên cứu quốc tế và trong nước về quản lý tài nguyên
nước có sự tham gia của cộng đồng .................................................................... 16
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước ... 24
1.2.1. Các lý thuyết nghiên cứu hành vi .............................................................. 24
1.2.2. Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia
quản lý tài nguyên nước...................................................................................... 27
1.3. Khái quát những vấn đề chưa được nghiên cứu ....................................... 29
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU ................... 31
2.1.Lý thuyết quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ................................ 31
2.2. Lý thuyết hành vi dự kiến ............................................................................. 34
2.3. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................... 37
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................... 41
3.1. Khung nghiên cứu ......................................................................................... 41
3.2. Mô hình và các biến nghiên cứu ................................................................... 42
3.3. Thu thập số liệu ............................................................................................. 45


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH

CBM

Quản lý dựa vào cộng đồng

Hình 1: Tổng giá trị kinh tế của nước........................................................................... 2
Hình 1.1: Thang đo 8 cấp độ tham gia của cộng đồng ................................................ 15

IWRM

Quản lý tổng hợp tài nguyên nước

Hình 2.1: Thang đo 5 cấp độ tham gia của cộng đồng ................................................ 33
Hình 2.2: Lý thuyết hành vi dự kiến........................................................................... 35

GWP

Mạng lưới Công tác vì nước Toàn cầu

NGO

Tổ chức phi chính phủ

Hình 3.1: Khung nghiên cứu ...................................................................................... 42
Hình 4.1: Số hộ gia đình được điều tra phân chia theo mục đích sử dụng nước .......... 63
Hình 4.2: Tỷ lệ người trả lời phân theo dân tộc .......................................................... 64

UNESCO

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc

Bà .............................................................................................................................. 75
Hình 4.9: Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước dưới hình thức

WWAP

Chương trình Đánh giá nước Thế giới của Liên Hợp Quốc

phát biểu ý kiến trong các cuộc họp ........................................................................... 76

hồ Thác Bà ................................................................................................................ 71
Hình 4.6: Tỷ lệ % các hộ tuân thủ chính sách về tài nguyên nước tại hồ Thác Bà ...... 73

Hình 4.10: Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước dưới hình thức
chủ động đề xuất ý kiến với cơ quan quản lý ............................................................. 76
Hình 4.11: Mức độ hài lòng về sự tham gia quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà ...... 78
Hình 4.12: Thống kê mô tả các biến nhận thức về giá trị............................................ 82
Hình 4.13: Thống kê mô tả biến chuẩn mực chủ quan ................................................ 84


1

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Giả thuyết về hành vi và cấp độ tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng.... 38
Bảng 2.2: Giả thuyết về các nhân tố tác động vào dự kiến hành vi tham gia .............. 40

MỞ ĐẦU

cấp cho con người. Giá trị này được chia thành ba nhóm: giá trị sử dụng trực tiếp
(direct use value), giá trị sử dụng gián tiếp (indirect use value) và giá trị tùy chọn

Bảng 4.10: Thống kê mô tả biến nhận thức kiểm soát hành vi.................................... 85
Bảng 4.11: Ma trận xoay nhân tố với các phát biểu về giá trị ..................................... 87

(option value). Giá trị sử dụng trực tiếp bao gồm những hàng hóa, dịch vụ do môi
trường cung cấp và con người có thể tiêu dùng một cách trực tiếp. Giá trị sử dụng gián

Bảng 4.12: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là dự kiến hành vi tuân thủ
quy định, chính sách của nhà nước............................................................................. 88

(use value) và giá trị phi sử dụng (non-use value).
Giá trị sử dụng là những hàng hóa, dịch vụ sinh thái mà yếu tố môi trường cung

tiếp là những giá trị, lợi ích từ các dịch vụ sinh thái, chức năng sinh thái. Giá trị tùy

Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là dự kiến hành vi phát biểu ý

chọn là những giá trị sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp chưa được sử dụng ở hiện tại mà
được con người quyết định để lại tiêu dùng trong tương lai. Giá trị phi sử dụng là

kiến trong các cuộc họp dân ....................................................................................... 90
Bảng4.14: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là dự kiến hành vi chủ động đề

những giá trị bản chất, nội tại của yếu tố môi trường, bao gồm giá trị tồn tại (existence
value) và giá trị lưu truyền (bequest value). Giá trị tồn tại là sự hài lòng, thỏa mãn của

xuất ý kiến với cơ quan quản lý nhà nước .................................................................. 92
Bảng 4.15: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là dự kiến hành vi đóng góp

đánh đổi cần thiết để cân đối giữa cung và cầu về nước. Mỗi nhóm có những hoạt
động, yêu cầu riêng, kết hợp với nhau tạo thành quản lý tài nguyên nước. Quản lý tài
nguyên nước đòi hỏi phải áp dụng tổng hợp nhiều công cụ khác nhau như công cụ
pháp lý, công cụ kinh tế, công cụ kỹ thuật… (WWAP, 2012).

Tổng giá trị
kinh tế
Giá trị sử
dụng

Giá trị phi
sử dụng

Mạng lưới Công tác vì nước Toàn cầu (GWP) cho rằng quản lý tài nguyên nước
là một nhiệm vụ phức tạp, liên quan đến nhiều hoạt động của nhiều nhóm đối tượng
khác nhau. Theo đó, quản lý tài nguyên nước gồm các thành tố sau:

Giá trị sử dụng
trực tiếp:
- Sản xuất nông
nghiệp
- Nuôi trồng, đánh
bắt thủy sản
- Sản xuất công
nghiệp
- Sản xuất lâm
nghiệp
- Năng lượng
- Du lịch
...

Quy hoạch lưu vực sông: Xây dựng và thường xuyên cập nhật Quy hoạch lưu
vực sông, trong đó phải thể hiện được quan điểm của các nhóm liên quan khác
nhau về ưu tiên phát triển và quản lý lưu vực.
Sự tham gia của các nhóm có liên quan: Sự tham gia của các nhóm liên quan vào
quá trình quản lý là cơ sở để ra quyết định sao cho lợi ích của toàn xã hội và vấn

Hình 1: Tổng giá trị kinh tế của nước

-

công cụ kinh tế phù hợp để hạn chế ô nhiễm và giảm thiểu tối đa tác động tiêu
cực về mặt môi trường và xã hội.

Nguồn: dựa vào Rolfe (2008)
Một nguồn nước có thểđược chia sẻ cho cộng đồng với các mục đích sử dụng
khác nhau.Các mục đích sử dụng này có thể mâu thuẫn với nhau, gây ra tranh chấp
giữa những người sử dụng nước. Theo Hardin (1968), xét từ góc độ kinh tế, tài nguyên
nước là một trong số các “tài sản chung”, thường gặp phải “bi kịch tài sản chung”
(tragedy of the commons) khi các cá nhân hành động với động cơ tối đa hóa lợi ích
bản thân, dẫn tới khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên chung. Như vậy, hành vi vì lợi
ích bản thân của các thành viên trong cộng đồng sử dụng nước khiến cho tài nguyên
nước bị khai thác, sử dụng không hiệu quả. Quản lý tài nguyên nước đứng trước thách
thức phải giải quyết được tình trạng này.
Xét từ góc độ quản lý, vì nước có thể di chuyển theo cả không gian và thời gian
theo chu trình thủy văn nên “quản lý tài nguyên nước” là một khái niệm bao hàm rất
nhiều hoạt động thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau. Theo Chương trình đánh giá
nước thế giới (WWAP) thuộc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp
Quốc (UNESCO), xét trên nghĩa rộng, quản lý tài nguyên nước có thể chia thành ba

đề môi trường được đưa vào cân nhắc trong quá trình sử dụng nguồn nước.


Nước ngọt là một nguồn tài nguyên có hạn, dễ bị tổn thương. Nó rất cần thiết

• Người sử dụng nước, nhóm người sử dụng nước;
• Các tổ chức nghề nghiệp.

-

cho sự sống, phát triển và môi trường.
Phát triển cũng như quản lý tài nguyên nước phải dựa trên cơ sở sự tham gia

-

của các bên có liên quan, gồm người sử dụng, người lập kế hoạch, người ra
quyết định chính sách ở mọi cấp độ.
Trong nhiệm vụ cung cấp, quản lý, đảm bảo an ninh về nước, vai trò trung tâm
thuộc về phụ nữ.
Khi xét từ nhu cầu cạnh tranh sử dụng, phải coi nước là hàng hóa có giá trị kinh tế.
Quản lý tài nguyên nước trong bối cảnh hiện nay đang phải đối mặt với nhiều

vấn đề phức tạp. Trách nhiệm của quản lý tài nguyên nước là đảm bảo đáp ứng được
nhu cầu sử dụng nước trong điều kiện nguồn cung không chắc chắn và thường xuyên
biến động, cân đối được các giá trị sinh thái, kinh tế và xã hội của tài nguyên nước,
giải quyết được những rủi ro ngày càng tăng và thích ứng được với những sự kiện,
những xu hướng mới sẽ diễn ra. Với yêu cầu như vậy, cách quản lý tài nguyên
nướctheo hướng tiếp cận đơn ngành, thiếu sự kết nối là không còn phù hợp. GWP đã
đưa ra cách tiếp cận quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM). Theo đó, “quản lý
tổng hợp tài nguyên nước là một quá trình đẩy mạnh phối hợp phát triển và quản lý tài
nguyên nước, đất và các tài nguyên liên quan, sao cho tối đa hoá các lợi ích kinh tế và
phúc lợi xã hội một cách công bằng mà không phương hại đến tính bền vững của các

Thác Bà tại địa phương bắt đầu nảy sinh. Việc Công ty cổ phần thủy điện Thác Bà

Việt Nam là quốc gia có tài nguyên nước tương đối phong phú.Tính về nước
mặt, chúng ta có 108 lưu vực sông phân bố trên cả nước với 3.450 sông suối có chiều

khai thác nước hồ để phát điện đã làm ảnh hưởng lớn đến đời sống dân cư vùng hồ.
Các phương tiện giao thông, vận tải trên hồ gặp khó khăn; nguồn lợi thủy sản bị xâm

dài trên 10km. Tổng lượng dòng chảy là khoảng 830 đến 840 tỷ m3 một năm, trong đó
có 310-315 tỷ m3 được sinh ra trong lãnh thổ, chủ yếu thuộc lưu vực các sông Hồng –

phạm, kéo theo việc nuôi trồng thủy sản gặp khó khăn; môi trường vùng hồ bị ảnh
hưởng do nước rút, nhiều hoạt động du lịch phải đình hoãn. Một nhóm dân cư sử dụng
hồ làm nơi chứa rác thải, gây ô nhiễm nước, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến du lịch,
sản xuất…

Thái Bình, sông Đồng Nai, sông Cả, sông Ba, sông Vu Gia – Thu Bồn (Cục Quản lý
Tài nguyên nước, 2015b). Hệ thống hồ chứa nước cũng được xây dựng với mục đích
trữ nước, điều tiết dòng chảy, phòng chống và giảm lũ. Theo Cục Quản lý Tài nguyên
nước (2015b), Việt Nam có trên 2.100 hồ thủy điện, thủy lợi đang hoạt động, trong đó
có 800 hồ thủy điện với 59 hồ đang hoạt động, 231 hồ đang trong quá trình xây dựng,
còn lại đang trong quy hoạch.

Như vậy, đây là một nguồn nước đang được chia sẻ cho nhiều người sử dụng
với các mục đích khác nhau. Mâu thuẫn giữa giữa những người sử dụng có khả năng
xảy ra khi các mục đích sử dụng có tính cạnh tranh lẫn nhau. Chính sách quản lý tài

Tài nguyên nước đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển của Việt

nguyên nước cần được xây dựng nhằm hướng tới việc giải quyết các mâu thuẫn này.

của các ngành sản xuất tăng. Dân số tăng cùng với mong muốn có chất lượng cuộc
sống tốt hơn đòi hỏi nước phải gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Vì vậy, ở Việt

quản lý tài nguyên nước bằng cách tiếp cận hành vi. Thông qua mô hình nghiên cứu
hành vi, luận án phân tích các nhân tố tác động đến hành vi của cộng đồng trong việc
tham gia quản lý tài nguyên nước và đưa ra một số khuyến nghị về chính sách. Địa bàn
được lựa chọn để thực hiện luận án là vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái bởiđây là địa

Nam, cũng như nhiều nước khác, một nguồn nước như hồ chứa nước, con sông… phải
chia cho nhiều người cùng sử dụng cho các mục đích khác nhau. Do đó mâu thuẫn,
tranh chấp trong sử dụng nước đang ngày càng phổ biến.
Hồ Thác Bà là một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam, là nguồn
cung cấp nước cho Nhà máy thủy điện Thác Bà (nhà máy thủy điện đầu tiên của Việt
Nam, hiện là Công ty cổ phần thủy điện Thác Bà) thuộc tỉnh Yên Bái. Hồ Thác Bà
được hình thành khi công trình đập thủy điện Thác Bà được xây dựng xong năm 1970
làm nghẽn dòng sông Chảy. Hồ Thác Bà là điển hình của một nguồn nước đang đươc
chia sẻ cho nhiều người cùng sử dụng với những mục đích khác nhau. Ngoài vai trò
cấp điện, điều tiết lũ cho hạ lưu, đối với người dân địa phương, hồ Thác Bà cung cấp
nước sạch, hỗ trợ sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, giao thông, du lịch…
Trong thời gian gần đây, mâu thuẫn giữa những người sử dụng tài nguyên nước hồ

điểm lý tưởng thực hiện nghiên cứu thực nghiệm khi trong khu vực có nhiều đối tượng
sử dụng nước với các mục tiêu khác nhau.

2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng thể của luận án là đánh giá sự tham gia quản lý tài
nguyên nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái, xác định các nhân tố ảnh
hưởng đến hành vi tham gia của cộng đồng nhằm đề xuất một số giải pháp tăng cường
sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước.
Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:

quản lý tài nguyên nước của cộng đồng là mục đích sử dụng nước: hộ gia đình là thành
viên cộng đồng có mục đích sử dụng chính một nguồn nước khác nhau thì cũng có dự
kiến tham gia quản lý tài nguyên nước khác nhau. Cụ thể, các hộ gia đình sử dụng
nước hồ Thác Bà làm nước sinh hoạt qua hệ thống nước máy có mong muốn tham gia
quản lý mạnh mẽ hơn, còn các hộ khai thác thủy sản ít có dự định tham gia quản lý.
Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định lại một điểm chung giữa các nghiên cứu trước
đây là tác động của các biến kinh tế - xã hội là không thống nhất, do đó luôn cần được
đưa vào nghiên cứu trong từng bối cảnh cụ thể.
Về mặt thực tiễn, với nghiên cứu được tiến hành tại một địa bàn cụ thể là vùng
hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái, luận án đã xác định, phân tích mức độ và hành vi tham gia
quản lý tài nguyên nước của cộng đồng vào các khía cạnh của quản lý tài nguyên nước
do Mạng lưới Công tác vì nước Toàn cầu (GWP) đưa ra. Theo đó, sự tham gia của

thập trong giai đoạn 2010 – 2015.

cộng đồng vùng hồ Thác Bà chính là một khía cạnh trong quản lý, thể hiện ở nấc thang
thứ nhất của sự tham gia là “được thông báo” với hành vi tuân thủ chính sách và tham

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là hành vi tham gia

dự các cuộc họp người dân trong nội dung áp dụng công cụ kinh tế và phân bổ tài

quản lý tài nguyên nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái và các nhân tố
tác động đến hành vi tham gia của họ. Nghiên cứu này tập trung vào xem xét hành vi

nguyên nước. Nấc thang tham gia thứ hai của cộng đồngvùng hồ Thác Bà là “được
tham vấn” với hành vi đóng góp ý kiến cho cơ quan quản lý nhà nước về các vấn đề

tham gia quản lý của các thành viên trong cộng đồng là các hộ gia đình.
viên cộng đồng sử dụng nước từ nguồn nước hồ Thác Bà cho các mục đích khác nhau.

cộng đồng.


10

Chương 2: Cơ sở lý luận và giả thuyết nghiên cứu. Chương 2 luận giải lý do
lựa chọn và trình bày các khung lý thuyết được sử dụng trong luận án: các khía cạnh
quản lý tài nguyên nước, cấp độ và hành vi tham gia của cộng đồng vào quản lý tài
nguyên nước, các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng và lý thuyết hành
vi dự kiến. Đồng thời, các giả thuyết nghiên cứu cũng được đưa ra.
Chương 3:Phương pháp nghiên cứu. Chương này mô tả chi tiết về phương
pháp nghiên cứu trong luận án, gồm khung nghiên cứu, mô hình và các biến nghiên
cứu, nguồn dữ liệu, cách thức thu thập và xử lý dữ liệu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Bên cạnh tổng quan về địa bàn nghiên cứu là
vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái, chương 4 phân tích hiện trạng tham gia quản lý tài

11

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Quản lý tài nguyên nướcdựa vào cộng đồng
1.1.1. Tổng quan về các cách tiếp cận quản lý tài nguyên
Đã có rất nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về quản lý tài nguyên.
Các nghiên cứu chia thành hai cách tiếp cận cơ bản. Nhóm thứ nhất tiếp cận dưới góc
độ kinh tế học: xem xét tài nguyên thiên nhiên bằng khung lý thuyết kinh tế. Nhóm thứ
hai tiếp cận dưới góc độ tài nguyên là một tài sản chung và đề xuất cách quản lý tài sản
chung đó.

nguyên nước của cộng đồngvà xác định các nhân tố tác động lên hành vi tham gia
quản lý tại địa bàn nghiên cứu dựa trên dữ liệu điều tra.


thông tin. Một số quy định liên quan của Nhà nước có thể không có tác dụng do đôi
khi chúng không được xây dựng dựa trên hoàn cảnh, tập quán của địa phương; trái lại,


12

13

trong nhiều trường hợp, các quy định quản lý của cộng đồng tỏ ra có hiệu quả và bền

năm 1990, trong lĩnh vực quản lý tài nguyên, mô hình quản lý nhà nước hay tư nhân

vững hơn. Vì vậy, có thể xây dựng giải pháp quản lý dựa vào cộng đồng.

đều chứng tỏ không hiệu quả và tạo ra nhiều tác động xã hội. Vì thế, mô hình quản lý
dựa vào cộng đồng đã được đưa vào áp dụng, trước hết trong lĩnh vực quản lý rừng ở

1.1.2. Tổng quan về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng
Cộng đồng
Theo Checkoway (1995), cộng đồng được hiểu là một nhóm người trong xã hội
cùng đưa ra sáng kiến và hành động chung. Có thể hiểu theo nghĩa hẹp như định nghĩa
của Conner (2007): “Cộng đồng là các nhóm dân cư có cùng sở thích, có chung lợi ích
và mối quan tâm”. Theo quan điểm chung ở Việt Nam, cộng đồng là một tập hợp các
công dân cư trú trong một khu vực địa lý nhất định, hợp tác với nhau vì những lợi ích

các vùng cao, biên giới – nơi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Phương thức quản lý
này được dựa trên mô hình quản lý truyền thống đã được áp dụng ở vùng núi của
nhiều nước trên thế giới, khi mọi người dân địa phương hợp tác với nhau và cùng quản
lý nguồn lực và chia sẻ lợi ích. Cách tiếp cận này cho phép sử dụng nguồn lực một
cách bền vững.Sau đó, mô hình quản lý dựa vào cộng đồng được mở rộng cho tài

quản lý một số lĩnh vực nhất định cho cộng đồng. Nhờ vậy, gánh nặng quản lý của
chính quyền địa phương được giảm bớt.
- Về kinh tế, CBM giúp khai thác và sử dụng bền vững hơn, hiệu quả hơn các
loại tài nguyên cũng như các nguồn lực phát triển khác.

Như vậy, có thể định nghĩa cộng đồng là một nhóm người cùng sống trong một

- Về xã hội, khi có CBM, nhận thức của người dân về vai trò, trách nhiệm của

khu vực địa lý, có những lợi ích chung và trong cộng đồng, mọi người đưa ra quyết
định chung và hành động vì những lợi ích chung đó.

bản thân được nâng cao, đoàn kết dân tộc được củng cố, việc tuyên truyền, thực hiện
các quy định pháp luật trong cộng đồng được thuận lợi hơn.

Quản lý dựa vào cộng đồng

Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng

Trên thế giới, vào khoảng cuối những năm 1960, trong phần giới thiệu của Báo
cáo Đánh giá các dự án cấp nước nông thôn, lần đầu tiên thuật ngữ “có liên quan đến
cộng đồng” được sử dụng. Đến năm 1969, khái niệm quản lý dựa vào cộng đồng được
đưa ra trong nghiên cứu về Cải thiện y tế thôn bản tại Đài Loan của Chang (1969). Kể

Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là một ứng dụng thực tiễn của CBM, đề
cập đến sự tham gia của các cộng đồng có lợi ích liên quan trong quản lý tài nguyên

từ đó, các nhà nghiên cứu và khoa học trên thế giới bắt đầu quan tâm đến việc phân
tích và ứng dụng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng trong các lĩnh vực mà quản lý
nhà nước không phát huy được vai trò một cách hiệu quả. Ở Việt Nam, từ giữa những


Chính phủ hỗ trợ; người dân chủ trì, kiểm soát hoạt động quản lý

cộng đồng, theo Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh (2006), nguyên tắc cốt lõi là

Trao quyền cho các nhóm dân cư

có “sự tham gia của cộng đồng trong việc lập kế hoạch, vận hành, duy trì các hệ thống
cấp nước mà cộng đồng được hưởng lợi”. Như vậy quản lý dựa vào cộng đồng đòi hỏi

Phối hợp giữa các nhóm dân cư và chính phủ

phải có sự tham gia của cộng đồng.

Chính phủ đáp ứng các yêu cầu do người dân đề xuất

Sự tham gia của cộng đồng

Chính phủ tham vấn các nhóm dân cư

8 cấp độ tiếp cận từ thấp đến cao thể hiện
sự tham gia của cộng đồng

quản lý, từ khâu bàn bạc ban đầu tới việc lên kế hoạch thực hiện, triển khai các hoạt
động và nhận xét, đánh giá sau khi thực hiện”. Với quản lý tài nguyên nước dựa vào

Tham gia là quyền cơ bản của người dân.Ngày nay, tham gia được hiểu là cách
thức mọi người (cộng đồng) có ảnh hưởng và có vai trò kiểm soát trong quá trình phát
triển, đặc biệt là vai trò ra quyết định và sử dụng nguồn lực. Có nhiều lý do khác nhau
để thúc đẩy cộng đồng tham gia, như để giảm chi phí (cộng đồng được yêu cầu đóng

(2) Tham gia lãnh đạo: những người lãnh đạo của cộng đồng có thể thu hút quá
trình tham gia của cộng đồng bằng cách nói lên những gì mà người dân mong muốn, tổ
chức các hoạt động, huy động mọi người cho các công việc cụ thể.


16

17

(3) Cung cấp các nguồn lực: cộng đồng có thể tham gia vào các hoạt động như

xong nhà máy và hệ thống đường ống thì người dân Sikaladi không cho phép nhà máy

cung cấp nhân lực, vật chất, các nguồn tài chính và công tác tổ chức hoạt động quản lý

sử dụng nguồn nước. Chính quyền địa phương đã thất bại trong việc thuyết phục người
dân Sikaladi cho phép người dân Simabur chia sẻ việc sử dụng nguồn nước. Hai cộng

tại địa phương.
(4) Quản lý và bảo dưỡng: cộng đồng có thể tham gia bằng cách chịu hoàn toàn
trách nhiệm quản lý, bảo dưỡng tài sản họ tham gia quản lý.
(5) Kiểm tra và đánh giá: trong suốt quá trình ra quyết định và triển khai thực
hiện quản lý, cộng đồng có thể xem xét và đánh giá những gì đang tiến hành, nhờ đó
có thể phát hiện những vấn đề nảy sinh và khắc phục kịp thời.

1.1.3. Tổng quan các nghiên cứu quốc tế và trong nước về quản lý tài nguyên
nướccó sự tham gia của cộng đồng
1.1.3.1. Nghiên cứu quốc tế

đồng Sikaladi và Simabur có những tập quán khác nhau, và chính quyền địa phương

nước ngầm, nước đóng chai… vì nước máy chỉ đáp ứng nhu cầu chủ yếu cho người
dân khu vực đô thị. Do đó, công ty cấp nước địa phương phải đầu tư để mở rộng mạng
lưới nước máy phục vụ người dân. Nghiên cứu cho thấy ở Baruah Burik, dự án cấp
nước máy đã thành công với sự tham gia của cộng đồng. Công ty cấp nước cung cấp
cơ sở hạ tầng trang thiết bị, người dân đóng góp công lao động, nhờ vậy nước máy đã
được cấp cho tất cả các hộ gia đình ở địa phương. Đó là kết quả của việc chính quyền
địa phương hiểu rõ nhu cầu của người dân và một cộng đồng mạnh. Cộng đồng mạnh

cầu của họ không được đáp ứng. Còn phía NGO lại không hài lòng vì không có sự hợp
tác của cộng đồng. Từ đó, các tác giả cho rằng điều quan trọng nhất là cần có sự tham
gia của cộng đồng ngay từ khi hình thành dự án. Cách tiếp cận ban đầu của dự án là áp
đặt từ trên xuống đã không giúp cộng đồng tham gia vào thiết kế dự án, không nhận
được thông tin chính thức về dự án, và cũng không được tham vấn về những vấn đề
chính có thể phát sinh khi thực hiện dự án. Tóm lại, theo các tác giả nghiên cứu, trước
khi hình thành dự án, bắt buộc phải thực hiện phân tích văn hóa – xã hội thông qua
nghiên cứu lịch sử địa phương, tiến hành phỏng vấn người dân và quan sát hành vi của
họ. Sau đó, ở giai đoạn thiết kế dự án, nhà quản lý mới biết được bối cảnh văn hóa, xã
hội của dự án, những nhân tố nào có thể tác động đến dự án và làm thế nào để giải
quyết chúng.

một phần nhờ trình độ học vấn ở mức khá, hầu hết người dân đều tốt nghiệp phổ

Có thể xem xét một nghiên cứu khác ở một quốc gia có lịch sử nền kinh tế kế

thông. Họ hiểu sự cần thiết của việc duy trì việc cấp nước sạch, và thông qua quá trình
tham vấn cộng đồng để đạt được đồng thuận, họ tự thiết lập được một hệ thống quản lý

hoạch hóa tập trung tương tự như Việt Nam. Teodosiu và cộng sự (2013) đánh giá sự
tham gia của cộng đồng vào quy hoạch tài nguyên nướcở Romania. Sau những cơn lũ


lại thấp vì các bên ít quan tâm đến vấn đề.
Các tác giả kết luận rằng việc cho những thành viên “mới” với lợi ích, năng lực,
kinh nghiệm, hành động khác nhau tham gia vào quá trình quản lý tài nguyên nước
gặp phải rào cản khá lớn. Rào cản đến từ những chủ thể ra quyết định “truyền thống”
như cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước, chính quyền địa phương và các
công ty cấp nước. Hành vi “quyền lực” trong quá trình tham gia ra quyết định là đặc
trưng văn hóa tổ chức của các cơ quan vốn theo hệ thống thứ bậc – di sản của nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung. Thêm nữa, Romania không có nhiều kinh nghiệm trong việc
đưa cộng đồng tham gia vào quản lý. Vì vậy, cộng đồng không hào hứng, không chủ
động tham gia. Đây cũng là một đặc điểm của một quốc gia đang trong giai đoạn
chuyển đổi cả về kinh tế, xã hội và thể chế như Romania. Các tác giả khuyến nghị khi
có sự tham gia của cộng đồng từ giai đoạn đầu của quá trình ra quyết định thì sự tham
gia của cộng đồng sẽ đạt được thành công và thiếu kinh nghiệm không còn là thách
thức đáng ngại.

1.1.3.2.Nghiên cứu ở Việt Nam
Các nghiên cứu ở Việt Nam về quản lý tài nguyên nướccó sự tham gia của cộng
đồng cũng rất đa dạng, chủ yếu tập trung vào hoạt động cấp nước.Ngoài ra có các
nghiên cứu về tài nguyên nước ở các lưu vực sông, hồ chứa, tập trung vào tìm hiểu
mức độ tham gia của cộng đồng trong quản lý và những khó khăn, thách thức mà họ
gặp phải trong quá trình tham gia.
Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh (2006) đã tổng quan quản lý tài
nguyên nước có sự tham gia của cộng đồng với hai kiểu mô hình: mô hình truyền
thống bản địa của các dân tộc thiểu số và mô hình cấp nước sinh hoạt/thủy lợi ở một số
vùng nông thôn. Các tác giả kết luận rằng sự tham gia của cộng đồng trong các mô
hình quản lý tài nguyên nước mới ở mức độ trung bình. Các cách thức tham gia phổ
biến gồm:

• Cử người đại diện cho cộng đồng trong các vấn đề liên quan đến quản lý tài
nguyên nước

quả là diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thiếu nước tưới. Dòng chảy bùn cát bị hạn
chế do hồ thủy điện không có cống xả đáy làm ảnh hưởng đến địa hình lòng sông và


20

21

hoạt động khai thác cát, sỏi của người dân. Khi tích nước và xả nước, các hồ chứa

trình thủy điện được đánh giá là cao nhất Việt Nam. Sự tồn tại của các hồ đập này

cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng nước vùng hạ lưu, gây tác động tiêu cực đến chất
lượng nước sinh hoạt của người dân đang sử dụng nước từ nhà máy cấp nước Huế.Đặc

cũng gây nhiều tranh cãi vì ngoài mục tiêu chính là phát điện, chúng ít có vai trò khác,

biệt, khi lượng nước vùng hạ lưu thay đổi, độ mặn cũng thay đổi theo làm các loài sinh
vật nước ngọt bị đe dọa, gây suy thoái tài nguyên sinh học và ảnh hưởng tiêu cực đến
sinh kế người dân vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Từ những mâu thuẫn trên
trong quá trình quản lý tài nguyên nước hồ chứa, các tác giả đã khảo sát nhiều đối
tượng khác nhau gồm người dân hạ lưu các sông Bồ, sông Hương, người dân vùng
đầm phá Tam Giang – Cầu Hai và các nhà khoa học, nhà quản lý để tìm hiểu cụ thể

kế hoạch vận hành ít được chú trọng và do đó gây tác động tiêu cực cho người dân địa
phương: thu hẹp sinh kế của họ và khiến cuộc sống của họ gặp nhiều rủi ro. Thông qua
phỏng vấn, trao đổi với cộng đồng và nhà quản lý địa phương ở lưu vực có thủy điện,
tác giả nghiên cứu nhận thấy sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước
ở các hồ đập thủy điện còn gặp trở ngại. Cụ thể như sau:



lực, thu thập dữ liệu, ghi nhận sự kiện, tổng hợp, xử lý thông tin phục vụ công
tác quản lý, kỹ năng đối thoại, thương lượng.

-

quan đến đời sống của mình. Người dân không được tham gia vào khâu quy hoạch và

Từ đó, tác giả nghiên cứu đưa ra các giải pháp sau:

Từ đó, các tác giả kết luận sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên

(i) Chưa có cơ chế phù hợp nhằm huy động khả năng của cộng đồng để họ hỗ
trợ giám sát bảo vệ nguồn nước, ngăn chặn các hành vi tiêu cực làm ô nhiễm, suy thoái
tài nguyên nước;

-

-

Chính quyền, các tổ chức xã hội xây dựng và ấn hành tài liệu dưới dạng cẩm

-

Chính quyền, Ủy ban lưu vực sông tổ chức cho các bên liên quan gặp gỡ, thảo

nang hướng dẫn tham vấn, giám sát cộng đồng.
luận và thống nhất hoạt động giám sát thực hiện quy trình xây dựng, vận hành
hồ đập thủy điện


Chính quyền, các tổ chức xã hội, Ủy ban lưu vực sông và đại diện cộng đồng
xây dựng quy trình xác định các bên liên quan và trao đổi thông tin để phục vụ
thương lượng khi có tranh chấp.


22

23

1.1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài
nguyên nước

quan, đặc biệt hệ thống các cơ quan cấp cơ sở trực tiếp tiếp xúc với người dân cần thực

Từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể thấy để cộng đồng tham gia hiệu
quả vào quản lý tài nguyên nước, cần có những điều kiện sau:

• Hoàn thiện khung pháp lý về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài
nguyên nước
Việc xây dựng khung pháp lý về quản lý tài nguyên nói chung dựa vào cộng
đồng là bước tiến để tạo cơ sở pháp lý cho người dân tham gia hoạt động quản lý. Ở
các nước đang phát triển, vai trò quản lý tài nguyên thiên nhiên chủ yếu thuộc về nhà
nước. Trong nhiều trường hợp, các chính sách của nhà nước đã loại trừ các tổ chức địa
phương, tách các cộng đồng khỏi những nguồn tài nguyên thiên nhiên rất quan trọng
đối với sinh kế của họ. Các khung chính sách trong đó có việc quản lý tài nguyên thiên

sự được đổi mới theo hướng tích cực, cởi mở.

• Hiểu rõ đặc tính của cộng đồng
Đặc tính của cộng đồng có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý và phát triển

tài nguyên nước, họ sẽ có động lực mạnh mẽ để bảo vệ nguồn nước và sử dụng nước
một cách bền vững.

• Thay đổi phong cách làm việc của chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương có ảnh hưởng rất lớn trong việc huy động sự tham gia,
đóng góp của các cộng đồng dân cư vào hoạt động quản lý tài nguyên, trong đó có tài
nguyên nước. Tuy nhiên, ở nhiều nơi, cơ quan nhà nước vẫn giữ vai trò trung tâm
trong quá trình ra quyết định “truyền thống”. Các cơ quan nhà nước cần thay đổi theo
hướng đi theo chu trình mở với sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội như các
tổ chức phi chính phủ, các cơ quan nghiên cứu, cộng đồng dân cư… thông qua các
kênh thông tin, diễn đàn thường xuyên hoạt động. Trong quá trình khuyến khích phát
triển tổ chức cộng đồng, vai trò và chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan hữu

thiết thực khi vấn đề quản lý tài nguyên nước được cải thiện. Từ việc cung cấp kiến
thức, hiểu biết cho cộng đồng đến chỗ họ hiểu được trách nhiệm quản lý tài nguyên
nước nơi mình sinh sống là một quá trình dài, đòi hỏi phải tăng cường công tác nâng
cao nhận thức của cộng đồng, và phải được tiến hành càng sớm càng tốt, trước khi đưa
họ tham gia vào quá trình quản lý. Ngoài ra, cần công khai, minh bạch các thông tin
như cộng đồng tham gia dưới hình thức nào, vào hoạt động gì; họ có thể được hưởng
lợi và chịu những chi phí gì v.v. Cộng đồng chỉ có thể tham gia quá trình quản lý tài
nguyên nước khi đó là một cộng đồng am hiểu các vấn đề pháp luật và nhận thức được
đầy đủ rằng quản lý tài nguyên nước cũng là bảo vệ nguồn lợi ích của chính họ.

• Tận dụng, thích ứng với tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục địa phương
Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới
và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Phong tục tập quán là những thói
quen đã được mọi người tuân thủ tại địa phương như một phần luật pháp của địa
phương. Phong tục tập quán gồm những quy tắc hành xử chung của cộng đồng, phản
ánh quan điểm, kỳ vọng của toàn thể thành viên trong một cộng đồng qua nhiều thế
hội. Khi sống trong cộng đồng, hành vi của các cá nhân thường bị chi phối bởi tín


(Transtheoretical Model – TTM hay Stages of Change Model – SOC).

• Có người đại diện cộng đồng
Cộng đồng cần có người đại diện cho mình tham gia quản lý, và người đại diện
phải xác định rõ nhiệm vụ cầu nối giữa cơ quan quản lý với cộng đồng. Thông qua
người đại diện, cộng đồng có thể liên hệ với các cơ quan địa phương liên quan đến các
vấn đề quản lý. Khi cộng đồng gặp các khó khăn, người đại diện có thể đối thoại với
chính quyền địa phương để được cải thiện tình hình.
Người đại diện cộng đồng và chính quyền địa phương có thể thiết kế và thực hiện

Sutton (2001) chia các lý thuyết hành vi xã hội thành hai nhóm: nhóm mô hình
hành vi theo giai đoạn (stages model) và nhóm mô hình nhận thức xã hội (social
cognition models). Các lý thuyết thuộc nhóm mô hình hành vi theo giai đoạn giả định
rằng hành vi thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau theo trình tự. TTM thuộc nhóm
này. Còn các lý thuyết hành vi nhận thức xã hội thì tiếp cận theo hướng xác định các
biến số về nhận thức và thái độ ảnh hưởng đến hành vi thông qua mô hình toán học để
dự đoán hành vi. Giá trị của hàm số dự định hành vi phụ thuộc các biến số ảnh hưởng
tính toán cho mỗi cá nhân cho thấy khả năng thực hiện hành vi của cá nhân đó là cao

các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức cho cộng đồng ngay cả khi người dân

hay thấp. Lý thuyết TRA và TPB nói trên thuộc nhóm mô hình nhận thức xã hội.

không trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý môi trường, thực hiện chức năng giám sát,
điều khiển hành vi của người dân, huy động cộng đồng v.v. Chính quyền, nhà quản lý,
người đại diện và cả các nhà khoa học có thể hợp tác với nhau để tuyên truyền, phổ biến
vai trò và ý nghĩa của nguồn tài nguyên đối với đời sống của cộng đồng, làm cho cộng

Prochaska và DiClemente (trích dẫn trong Tlou, 2009, tr.12) đưa ra mô hình các

từng giai đoạn, đặc biệt trong lĩnh vực được ứng dụng rộng rãi là y tế công cộng. Tuy
nhiên TTM cũng có một số nhược điểm. Thứ nhất là thực tế khó có thể phân biệt được
riêng rẽ các giai đoạn trong quá trình thay đổi hành vi của cá nhân. Thứ hai là các


26

thang đo xem xét sự thay đổi chưa được chuẩn hóa, dẫn đến khó thu thập và xử lý dữ
liệu (Sutton, 2001).
Lý thuyết hành vi hợp lý TRA (Ajzen và Fishbein, trích trong Sutton, 2001,
tr.4) được đưa ra nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa thái độ của một cá nhân và hành vi
của người đó. TRA giải thích mối quan hệ giữa niềm tin, thái độ, dự định và hành vi.
Theo TRA, nhân tố quyết định chính xác nhất khả năng thực hiện một hành vi là dự định
sẽ thực hiện hành vi đó. Những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến dự định thực hiện hành
vi của một cá nhân là thái độ về hành vi sẽ thực hiện và chuẩn mực chủ quan liên quan
đến hành vi. Thái độ được chi phối bởi niềm tin của một người về kết quả hoặc tính chất
của hành vi. Chuẩn mực chủ quan là kỳ vọng của những người có ảnh hưởng quan trọng
đến cá nhân dự định thực hiện hành vi. Mức độ ảnh hưởng của hai nhân tố này là khác
nhau theo từng hành vi và từng nhóm người cụ thể (Sutton, 2001).
Tuy nhiên, rất nhiều hành vi không chỉ đơn giản muốn là thực hiện được mà
chúng đòi hỏi cá nhân phải có kỹ năng, cơ hội, nguồn lực, sự phối hợp mới có thể thực

27

Tài nguyên nước là “tài sản chung”, có tính chia sẻ lợi ích giữa nhiều người sử
dụng. Hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước là hành vi xã hội, bị ảnh hưởng bởi
nhận thức xã hội của mỗi cá nhân. Vì vậy, để nghiên cứu hành vi tham gia quản lý tài
nguyên nước, viêc sử dụng các lý thuyết nhận thức xã hội (TRA hoặc TPB) là phù hợp
và khá phổ biến.


TRA và TBP không hàm ý rằng các cá nhân luôn luôn cân nhắc cẩn thận và ra được
quyết định tốt nhất. Con người có thể không biết hết tất cả các lựa chọn hành vi họ có
thể có và hậu quả của hành vi mà họ sẽ thực hiện. Họ có thể có niềm tin không chính
xác về kết quả của hành vi. Họ có thể ra quyết định rất nhanh chỉ dựa vào một số nhân
tố nổi bật nhất. Khi ra quyết định, cá nhân không nhất thiết phải đánh giá cái được, cái
mất cụ thể trừ khi có tác động thay đổi, mà họ chỉ hành động dựa trên ý định đã từng
có từ lâu trong quá khứ. Vì vậy, mô hình nhận thức xã hội cũng có hạn chế nhất định
(Sutton, 2001).

trọng lên thái độ, hành vi của con người. De Groot và Steg (2008) đã giải thích như
sau: Thứ nhất, giá trị phản ánh niềm tin và mong muốn đạt được một trạng thái nhất
đinh. Thứ hai, giá trị là khái niệm trừu tượng, không đơn thuần chỉ một tình huống,
một trạng thái cụ thể. Thứ ba, giá trị đóng vai trò làm nguyên tắc dẫn đường cho một
người lựa chọn hoặc đánh giá một hành vi, một con người hoặc một sự kiện là tốt hay
xấu, quan trọng hay không quan trọng v.v. Thứ tư, các giá trị được sắp xếp thành một
hệ thống có thứ tự trên dưới. Có nghĩa là khi một người phải đối mặt với một tình
huống nhất định, nơi các giá trị của anh ta phải cạnh tranh, thậm chí mâu thuẫn lẫn
nhau thì anh ta sẽ ra quyết định dựa trên giá trị nào được anh ta đánh giá cao nhất.Giá
trị đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định, đồng thời giải thích được sự tương
đồng và khác biệt giữa các nhóm đối tượng khác nhau về các đặc điểm kinh tế - xã hội.
Cụ thể với tài nguyên nước, kết quả nghiên cứu của Russenberger và cộng sự (2012)
cho thấy người nào coi trọng giá trị phục vụ sản xuất nông nghiệp và cung cấp nước
sạch của tài nguyên nước sẽ ủng hộ các chính sách sử dụng nước cho mục đích kinh tế,
còn người nào coi trọng giá trị môi trường mà tài nguyên nước mang lại thì ủng hộ
chính sách bảo tồn. Với quan điểm như vậy, cộng đồng sử dụng nước cho mục tiêu sản
xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt sẽ sẵn lòng tham gia quản lý tài nguyên nước


28


các vấn đề liên quan đến các yếu tố tài nguyên – môi trường, cũng như giải thích sự

động tương tác xã hội sẽ làm tăng mối gắn kết giữa các công dân với nhau, tăng cường
sức mạnh liên kết của cộng đồng. Như vậy, nếu muốn cộng đồng tham gia tích cực vào

khác biệt bằng các đặc điểm nhân khẩu học. Van Liere và Dunlap (1980) nhận thấy
cộng đồng trẻ tuổi, trình độ học vấn cao có nhận thức tốt về môi trường. Họ cũng thấy

quản lý tài nguyên – môi trường thì phải làm cho họ nhận thấy được mối quan hệ giữa
các hoạt động bảo vệ tài nguyên – môi trường và cộng đồng. Nghiên cứu của Sakurai và
cộng sự (2015) ở Nhật cho thấy các cá nhân mới gia nhập cộng đồng rất muốn tương tác
với các thành viên cũ, nhưng họ không biết làm thế nào để có mối quan hệ xã hội tốt
nhất với những người xung quanh. Các nghiên cứu khác cũng đưa ra nhận định rằng các
hành vi tham gia quản lý tài nguyên – môi trường tích cực có quan hệ với việc cải thiện

có mối tương quan giữa nhận thức về môi trường với các biến như quyền tài sản cá
nhân, nền kinh tế theo định hướng thị trường, tăng trưởng kinh tế. Các tác giả đi đến
kết luận để giải thích sự khác biệt về các vấn đề môi trường, cần phân tích các biến
kinh tế - xã hội. Sharp và Adua (2009) kết luận có mối quan hệ chặt chẽ giữa nơi sinh
sống và nhận thức về môi trường. Nghiên cứu của Zuo và cộng sự (2011) cho thấy

chất lượng môi trường, góp phần xây dựng và thắt chặt quan hệ xã hội, nâng cao năng

cộng đồng ở đô thị với thu nhập cao hơn, học vấn cao hơn, có điều kiện tiếp cận thông
tin hơn, sinh kế ít phụ thuộc vào môi trường hơn thì có xu hướng coi trọng các giá trị

lực cộng đồng và hình thành nên trách nhiệm tập thể đối với môi trường. Ví dụ, Ferraro
và cộng sự (2011) nhận thấy việc cá nhân càng coi trọng chuẩn mực xã hội của cộng

liên quan đến môi trường mà yếu tố tài nguyên mang lại hơn. Hamid (1996) nhận thấy

tố chia sẻ trách nhiệm đóng vai trò quan trọng.Ngoài ra, người phương Đông thường

nước liên quan đến cả đặc điểm kinh tế - xã hội của từng cá nhân trong cộng đồng.
Như vậy, tìm hiểu những nhân tố chi phối đến dự định thực hiện một hành vi

1.3.

Khái quát những vấn đề chưa được nghiên cứu
Tổng quan các nghiên cứu trước đây cho thấy còn tồn tại những vấn đề đang bỏ

ngỏ như sau:


30

31

Thứ nhất, các nghiên cứu đã có thường tập trung vào một hoạt động quản lý tài

2.

nguyên nước nhất định như cấp nước, phân bổ nước, quy hoạch tài nguyên nước, xử lý
ô nhiễm…Rất ít nghiên cứu xem xét sự tham gia của cộng đồng vào tất cả các khía

2.1.

cạnh trong quản lý tài nguyên nước. Thực tế, sự tham gia của chính một cộng đồng
vào các hoạt động quản lý khác nhau cũng khác nhau về hành vi, mức độ. Trong bối
cảnh Việt Nam, cần thiết phải đánh giá cụ thể hành vi, mức độ tham gia của cộng đồng
trong mỗi hoạt động quản lý, tìm ra những hạn chế. Đây là cơ sở để hoàn thiện hơn các

Thứ ba, lý thuyết hành vi là một cách tiếp cận phổ biến trên thế giới trong lĩnh
vực quản lý tài nguyên – môi trường, nhưng ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào sử
dụng. Ưu thế của việc áp dụng lý thuyết này là có thể tận dụng các nghiên cứu trước ở
nước ngoài để xác định các biến nhận thức xã hội chi phối hành vi của cộng đồng. Từ
đó có thể phân tích để hiểu được các đặc tính riêng của người Việt Nam trong bối cảnh
quản lý tài nguyên – môi trường và đưa ra khuyến nghị chính sách phù hợp, thúc đẩy
vai trò của cộng đồng trong quản lý tài nguyên – môi trường.
Luận án này được thực hiện sẽ góp phần lấp vào những khoảng trống nghiên
cứu nói trên. Thông qua nghiên cứu định tính và định lượng, luận án xem xét, đánh giá
hành vi, mức độ tham gia của cộng đồng trong toàn bộ các khía cạnh của quản lý tài
nguyên nước; đồng thời xác định động cơ, nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của họ.

Nội dung quản lý tài nguyên nướcdựa vào cộng đồng
Theo Trần Thanh Lâm (2004), nội dung quản lý môi trường dựa vào cộng đồng
bao gồm: Thứ nhất, cộng đồng xác định những vấn đề môi trường cần được ưu tiên để
phục vụ cho sự phát triển của cộng đồng và tìm cách giải quyết chúng. Thứ hai, cộng
đồng xây dựng các chương trình, kế hoạch thực hiện. Thứ ba, cộng đồng thực hiện
chương trình, kế hoạch đã đề ra với sự hỗ trợ, hợp tác của các nhóm liên quan khác
như chính phủ, nhà tài trợ, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ… Thứ tư, khi kết
thúc, cộng đồng và các bên liên quan đánh giá lại tổng thể chương trình, kế hoạch đã
thực hiện. Thứ năm, cộng đồng tiếp tục xác định ưu tiên mới. Đây là quy trình lặp đi
lặp lại theo hình xoáy ốc đi lên cao thể hiện sự gia tăng về trình độ, kỹ năng của cộng
đồng. Khi cộng đồng thực hiện được đầy đủ các nội dung quản lý như vậy, sự tham gia
của cộng đồng lên đến mức cao nhất: cộng đồng không chỉ bàn bạc mà còn thực hiện
và kiểm tra.
Trong bối cảnh Việt Nam, cộng đồng chưa tham gia vào quản lý tài nguyên môi trường với đầy đủ tất cả các nội dung như trên. Vì vậy, để đánh giá sự tham gia
của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước, cần phân tích hiện trạng công tác quản lý
tài nguyên nước: cộng đồng đã tham gia vào những khía cạnh nào, với mỗi khía cạnh,
cộng đồng tham gia ở mức độ nào và hình thức, hành vi tham gia của họ là gì. Với nội
dung quản lý tài nguyên nước, luận án sử dụng quan điểm của GWP (2010) về các

-

để đảm bảo phát triển bền vững.
Quản lý thông tin: thu thập dữ liệu phục vụ quá trình ra quyết định.

33

• Cử người đại diện cho cộng đồng trong các vấn đề liên quan đến quản lý tài
nguyên nước
• Đóng góp công lao động, tiền, nguyên vật liệu… phục vụ xây dựng, vận
hành, duy trì và bảo dưỡng, bảo vệ công trình nước ở địa phương.
• Đóng phí sử dụng nước.
Trong nghiên cứu này, các hành vi và cấp độ nói trên là cơ sở để xem xét hiện
trạng sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước tại vùng hồ Thác Bà,
tỉnh Yên Bái.

Về mức độ và hành vi tham gia, nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận của
Dower (2004) và dựa trên nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam của Nguyễn Việt Dũng
và Nguyễn Danh Tĩnh (2006). Theo Dower (2004), quản lý dựa vào cộng đồng có 5
cấp độ:
(1) Thông báo: Nhà nước chủ động hoàn toàn ra quyết định, thông báo và
hướng dẫn cộng đồng tham gia quản lý.
(2) Tham vấn: Cộng đồng cung cấp thông tin cho nhà nước. Nhà nước sử dụng
thông tin này làm đầu vào tham khảo, từ đó đưa ra quyết định; sau đó thông báo, hướng dẫn
cộng đồng tham gia quản lý.
(3) Cùng thực hiện: Cộng đồng được mời tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến
để đưa ra quyết định. Đồng thời họ cũng tham gia quản lý.
(4) Đối tác: Nhà nước và cộng đồng hợp tác với nhau để quản lý.
(5) Chủ trì: Cộng đồng được trao quyền quản lý, Nhà nước chỉ thực thi kiểm soát.
Như đã trình bày ở trên, cộng đồng có thể tham gia quản lý dưới các hình thức

35

giao tiếp công chúng tốt để tránh xung đột thường xảy ra trong quá trình tham gia, đảm

không chính xác. Trong khi đó, hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước là hành vi xã
hội nên nó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nhận thức, quan điểm, giá trị xã hội. Vì vậy,

bảo sự đồng thuận trong cộng đồng.
- Sự thích ứng với phong tục tập quán, tín ngưỡng địa phương: Do phong tục tập

việc sử dụng các mô hình nhận thức xã hội là phù hợp hơn.Vì TPB rộng hơn TRA và
được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu trước đó nên nghiên cứu này sẽ lựa chọn

quán, tín ngưỡng địa phương thường phản ánh nguyện vọng của người dân qua nhiều
thế hệ đúc kết lại và có sự điều chỉnh trong cuộc sống hiện tại nên các thành viên cộng
đồng rất tin tưởng vào tính công bằng, chính xác của chúng, nhất là khi những phong
tục, tập quán được ghi lại thành hương ước, quy ước. Để điều chỉnh tốt mối quan hệ

TPB làm lý thuyết cơ sở để tìm hiểu các nhân tố tác động lên hành vi tham gia quản lý
tài nguyên nước của cộng đồng.

với cộng đồng cũng như trong cộng đồng, cần có sự kết hợp hài hòa, hỗ trợ, bổ sung
giữa các quy phạm pháp luật và phong tục, tập quán.

vi hợp lý (TRA). TPB cho rằng hành vi của con người được quyết định bởi ý chí, suy
nghĩ của họ. Một người càng có ý định mạnh mẽ để thực hiện một hành vi thì khả năng

Nhóm nhân tố bên ngoài cộng đồng
- Khung pháp lý về sự tham gia của cộng đồng: Trong bối cảnh vai trò quản lý tài
nguyên – môi trường nói chung chủ yếu thuộc về nhà nước, cộng đồng chỉ có thể tham


quan về hành vi càng tích cực, nhận thức kiểm soát hành vi càng lớn thì một cá nhân

mở, tin tưởng và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình quản lý.
Để tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước, cần
nghiên cứu ảnh hưởng cụ thể của các nhân tố nói trên để có cơ sở đề xuất giải pháp.
Luận án lựa chọn cách tiếp cận nghiên cứu hành vi xã hội của các cá nhân trong cộng
đồng khi tham gia quản lý tài nguyên nước; và mỗi hành vi tham gia đều được phân
tích tác động của các nhân tố bằng lý thuyết hành vi, đồng thời bổ sung thêm các biến
phản ánh các nhân tố mà lý thuyết hành vi chưa đề cập đến.

2.2. Lý thuyết hành vi dự kiến
Phần tổng quan nghiên cứu đã trình bày về các lý thuyết nghiên cứu hành vi
phổ biến. Tuy nhiên, TTM là mô hình chia quá trình dự định và thực hiện hành vi
thành nhiều giai đoạn có thể giao thoa với nhau hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần, gây khó
khăn cho thiết kế nghiên cứu. Đồng thời, các thang đo cho các giai đoạn lại chưa được
chuẩn hóa và kiểm định nên việc giải thích và kiểm định kết quả nghiên cứu có thể

Thái độ

Chuẩn mực chủ
quan

Hành vi

Dự định

Nhận thức kiểm
soát hành vi



cứu của Cabaniss (2014) về hành vi tham gia chương trình quản lý chất thải độc hại
của cộng đồng ở Mỹ cũng có kết quả tương tự với tác động thuận chiều của 3 biến

hành vi của anh ta, đây chính là niềm tin về chuẩn mực xã hội. Và anh ta sẽ có xu

TPB lên cả dự định và hành vi tham gia. Ở Việt Nam, lý thuyết hành vi dự kiến được

hướng muốn đáp ứng kỳ vọng của những người mà anh ta đánh giá là quan trọng, tức
là anh ta “mong muốn được thực hiện theo”. Nhận thức kiểm soát hành vi có cơ sở là

áp dụng trong một số nghiên cứu như ý định sử dụng hệ thống tàu điện ngầm metro ở
thành phố Hồ Chí Minh (Đặng Thị Ngọc Dung, 2012), ý định vay vốn của các hộ cá

một loạt các niềm tin về sự kiểm soát (control beliefs) và tầm ảnh hưởng của niềm tin
đó. Niềm tin về sự kiểm soát được phản ánh qua việc họ nghĩ có những nhân tố nào sẽ

thể (Phạm Hồng Mạnh và Đồng Trung Chính, 2013), nhân tố ảnh hưởng đến sự quan
tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh

tác động tiêu cực hoặc tích cực lên một hành vi nhất định. Tầm ảnh hưởng của niềm
tin về sự kiểm soát là đánh giá chủ quan của cá nhân tác động của các nhân tố tiêu cực

Nghệ An (Nguyễn Xuân Cường và cộng sự, 2014). Nguyễn Diệu Hằng và cộng sự
(2016) đã sử dụng lý thuyết hành vi dự kiến để nghiên cứu hành vi sử dụng nước, gồm

hoặc tích cực lên hành vi của họ.

tiết kiệm nước và bảo vệ nguồn nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái.
Kết quả cho thấy có hai nhân tố TPB cùng ảnh hưởng đến hành vi bảo vệ tài nguyên

thành viên trong cộng đồng đều đã tham gia quản lý tài nguyên nước ở mức độ tối
thiểu. Nhưng thực tế là có những cá nhân chưa hề tham gia bất cứ hình thức nào. Do
vậy, nghiên cứu này bổ sung thêm hành vi “tuân thủ chính sách quản lý tài nguyên
nước” và xếp vào cấp độ tham gia quản lý “được thông báo”, tức là nhà nước ra quyết
định chính sách quản lý bằng các quy định và thông báo cho cộng đồng để cộng đồng
biết và tuân thủ. Theo đó, trả phí sử dụng nước cũng là một hình thức phản ánh “tuân

TPB được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau, phổ biến là y tế

thủ chính sách”. Cấp độ thông báo còn bao gồm hành vi tham gia các buổi họp người

cộng đồng.TPB được áp dụng cũng tương đối phổ biến để tìm hiểu quan điểm, thái độ,
động cơ, dự định của cộng đồng trong các vấn đề liên quan đến tài nguyên - môi

dân vì ít nhất khi tham gia các buổi họp, mỗi người có cơ hội được tiếp cận với thông
tin về chính sách quản lý tài nguyên nước hiện tại. Hành vi “đóng góp ý kiến” của

trường trong đó có tài nguyên nước. Mô hình hồi quy TPB của Tonglet và cộng sự

cộng đồng cho thấy cộng đồng được hỏi ý kiến và có thông tin phản hồi lại với quá


38

39

trình ra quyết định quản lý. Tức là cộng đồng tham gia quản lý ở cấp độ “được tham

kê các giá trị mà tài nguyên nước mang lại cho cá nhân bằng các phát biểu phản ánh cả


nước hồ Thác Bà

Được thông báo

Tham gia các buổi họp người dân
Đóng góp ý kiến trong các buổi họp lấy ý
kiến và đóng góp ý kiến qua các kênh
khác
Đóng góp công sức, tài chính để góp phần
bảo vệ tài nguyên nước
Cử đại diện cùng tham gia quản lý hồ
Thác Bà

Được tham vấn

nguyên nước tại địa bàn nghiên cứu và phù hợp với bối cảnh Việt Nam, nghiên cứu
này đưa ra các phát biểu về nhận thức về giá trị của tài nguyên nước để đưa vào điều
tra. Các nghiên cứu trước không chỉ rõ chiều tác động của nhận thức về từng giá trị lên
hành vi liên quan đến tài nguyên – môi trường mà điều này tùy thuộc vào từng giá trị,
từng hành vi và từng cộng đồng dân cư. Như vậy giả thuyết ở đây là: Nhận thức của
cộng đồng về giá trị của tài nguyên nước là biến số có ý nghĩa, có tác động lên dự
kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước.
Cuối cùng, các biến kinh tế - xã hội có tác động lên dự kiến hành vi. Tác động
của các biến này cũng khác nhau tùy vào từng nghiên cứu. Luận án này giả định các
biến được đưa vào xem xét và tác động của nó như sau:

- Mục đích sử dụng nước: các thành viên cộng đồng sử dụng nước cho các
mục đích khác nhau (sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp…) có dự định tham
Cùng thực hiện


thấy hộ gia đình có trình độ học vấn cao tham gia nhiều vào quản lý tài nguyên nước.

Giá trị mà mỗi cá nhân cho rằng tài nguyên nước mang lại cho họ cũng chi phối

Nên nghiên cứu này giả định trình độ học vấn có tác động thuận chiều lên dự kiến
hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước.

đến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước. Russenberger và cộng sự (2012) đã liệt

dân tộc có tác động lên dự kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước.

- Trình độ học vấn: Nghiên cứu của Sheikh và cộng sự (2014) ở Malaysia cho


40

41

- Quy mô hộ gia đình: Quy mô hộ gia đình khác nhau dẫn tới nhu cầu sử dụng
nước khác nhau, vì vậy có thể kỳ vọng biến này có tác động lên dự kiến hành vi tham
gia quản lý tài nguyên nước.
- Thu nhập: Thu nhập phản ánh mức sống của thành viên cộng đồng. Chiều
tác động của nhân tố này lên dự kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước là
không rõ ràng, ví dụ có người có thu nhập cao sẽ mong muốn tham gia nhiều hơn vào
quá trình quản lý, do vậy thu nhập cao dẫn đến dự định tham gia mạnh hơn. Ngược lại,
có thể lập luận rằng vì sinh kế của người có thu nhập thấp phụ thuộc tài nguyên nước,
và sinh kế của họ sẽ bị ảnh hưởng khi tài nguyên nước bị quản lý kém hiệu quả, vì vậy
người đó sẽ có dự định tham gia nhiều hơn vào quản lý tài nguyên nước. Do vậy trong
nghiên cứu này giả định thu nhập là biến có tác động lên dự kiến hành vi tham gia
quản lý tài nguyên nước.


(2012)

Mục đích sử dụng nước

Tùy từng mục đích

Tuổi

Cùng chiều

Dân tộc

Tùy từng dân tộc

Trình độ học vấn

Cùng chiều

Sheikh và cộng sự (2014)

Hamid (1996), Sheikh và
cộng sự (2014)

Quy mô hộ gia đình

Tùy từng cộng đồng

Thu nhập


đánh giá tỷ lệ tham gia, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia được
thực hiện thông qua nghiên cứu định lượng.

Nguồn: Tổng kết của tác giả.


42

43

đồng dân cư toàn bộ vùng chịu tác động bởi tài nguyên nước hồ Thác Bà. Nghiên cứu
này chỉ giới hạn ở cộng đồng vùng hồ Thác Bà nên sẽ không xem xét các hình thức
cộng đồng tham gia quản lý cao đòi hỏi phạm vi địa lý của nghiên cứu rộng hơn. Do

Hiện trạng sử dụng nước
tại hồ Thác Bà

đó, cấp độ đối tác và chủ trì không được đưa vào mô hình nghiên cứu.
Cộng
đồng sử
dụng nước

Quản lý tài nguyên
nước có sự tham gia
của cộng đồng

Nhà nước

Như đã trình bày trong chương 2, dựa vào nghiên cứu của Nguyễn Việt Dũng
và Nguyễn Danh Tĩnh (2006) và kết hợp với thông tin từ phỏng vấn sâu với một số hộ

• Đóng góp công sức, tài chính để góp phần bảo vệ tài nguyên nước hồ (cấp
độ cùng thực hiện)
• Cử đại diện cùng tham gia quản lý hồ Thác Bà (cấp độ cùng thực hiện)
Mô hình xác định các nhân tố tác động đến hành vi tham gia quản lý

Phân tích kết quả
1. Đánh giá khó khăn, thuận lợi khi cộng đồng tham gia
quản lý tài nguyên nước
2. Phân tích các yếu tố tác động lên hành vi tham gia của
cộng đồng

Từ lý thuyết TPB và tổng quan các nghiên cứu trước đó, nghiên cứu này giả
định hành vi tham gia quản lý của cộng đồng phụ thuộc các biến TPB gồm thái độ,
chuẩn mực chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi và đặc điểm kinh tế xã hội cũng như
nhận thức về giá trị của tài nguyên nước.
Mối quan hệ giữa các biến được thể hiện qua mô hình sau:

Đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia
của cộng đồng trong quản lý tài nguyên
nước hồ Thác Bà

Hình 3.1: Khung nghiên cứu
Nguồn: Tổng hợp của tác giả.

3.2. Mô hình và các biến nghiên cứu

DKHVTG = β1 x TĐ + β2 x CMCQ + β3 x NTKSHV + β4 x honuocmay + β5 x
hovenho +β6 x hothuysan + β7 x tuoi + β8 x Dantoc + β9 x TĐHV + β10 x QMH + β11 x
thunhap + βi x giatrii
Trong đó:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status