BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi
cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi
phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Hà Nội, ngày
NGUYỄN DIỆU HẰNG
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG:
NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC TẠI HỒ THÁC BÀ,
TỈNH YÊN BÁI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ (Phân bố
lực lượng sản xuất và phân vùng kinh tế) MÃ SỐ:
62340410
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Lê Hà Thanh
2. PGS. TS. Nguyễn Mậu Dũng
Hà Nội - 2017
tháng
năm 2017
4.3.3. Hành vi tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà72
4. Những đóng góp mới của luận án ................................................................... 8
4.3.4. Thuận lợi và khó khăn của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên nước
hồ Thác Bà ......................................................................................................... 79
5. Kết cấu của luận án ......................................................................................... 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ................................... 11
1.1. Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ............................................... 11
1.1.1.Tổng quan về các cách tiếp cận quản lý tài nguyên .................................... 11
1.1.2. Tổng quan về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng ................................ 12
1.1.3. Tổng quan các nghiên cứu quốc tế và trong nước về quản lý tài nguyên
nước có sự tham gia của cộng đồng .................................................................... 16
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước ... 24
1.2.1. Các lý thuyết nghiên cứu hành vi .............................................................. 24
1.2.2. Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia
quản lý tài nguyên nước...................................................................................... 27
1.3.
Khái quát những vấn đề chưa được nghiên cứu ....................................... 29
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU................... 31
2.1.Lý thuyết quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ................................ 31
2.2. Lý thuyết hành vi dự kiến ............................................................................. 34
2.3. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................... 37
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................... 41
3.1. Khung nghiên cứu ......................................................................................... 41
3.2. Mô hình và các biến nghiên cứu ................................................................... 42
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBM
Quản lý dựa vào cộng đồng IWRM
DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Tổng giá trị kinh tế của nước........................................................................... 2
Hình 1.1: Thang đo 8 cấp độ tham gia của cộng đồng ................................................ 15
Quản lý tổng hợp tài nguyên nước GWP
Hình 2.1: Thang đo 5 cấp độ tham gia của cộng đồng ................................................ 33
Mạng lưới Công tác vì nước Toàn cầu NGO
Hình 3.1: Khung nghiên cứu ...................................................................................... 42
Tổ chức phi chính phủ
Hình 2.2: Lý thuyết hành vi dự kiến........................................................................... 35
Hình 4.1: Số hộ gia đình được điều tra phân chia theo mục đích sử dụng nước .......... 63
Hình 4.2: Tỷ lệ người trả lời phân theo dân tộc .......................................................... 64
Hình 4.3: Số người trả lời phân theo trình độ học vấn ................................................ 65
SOC
Mô hình các giai đoạn thay đổi (Stages of Change)
Hình 4.5: Đánh giá của người dân về tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên nước
hồ Thác Bà ................................................................................................................ 71
Hình 4.6: Tỷ lệ % các hộ tuân thủ chính sách về tài nguyên nước tại hồ Thác Bà ...... 73
Hình 4.7: Hành vi giữ gìn, bảo vệ nguồn nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà........ 74
Hình 4.8: Tỷ lệ các hộ gia đình ngăn chặn hành vi gây hậu quả xấu lên vùng hồ Thác
Hình 4.9: Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước dưới hình thức
Hình 4.10: Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước dưới hình thức
chủ động đề xuất ý kiến với cơ quan quản lý ............................................................. 76
Hình 4.11: Mức độ hài lòng về sự tham gia quản lý tài nguyên nước hồ Thác Bà ...... 78
Hình 4.12: Thống kê mô tả các biến nhận thức về giá trị............................................ 82
Hình 4.13: Thống kê mô tả biến chuẩn mực chủ quan................................................ 84
1
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của nghiên cứu
Bảng 2.1: Giả thuyết về hành vi và cấp độ tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng
đồng.... 38
Lý do lựa chọn đề tài
Bảng 2.2: Giả thuyết về các nhân tố tác động vào dự kiến hành vi tham gia .............. 40
Bảng 3.1: Mẫu điều tra phân theo địa bàn và mục đích sử dụng nước chính............... 47
Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng
Bảng 4.9: Thống kê mô tả biến thái độ....................................................................... 83
Bảng 4.10: Thống kê mô tả biến nhận thức kiểm soát hành vi.................................... 85
Bảng 4.11: Ma trận xoay nhân tố với các phát biểu về giá trị ..................................... 87
Bảng 4.12: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là dự kiến hành vi tuân thủ
quy định, chính sách của nhà nước............................................................................. 88
Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là dự kiến hành vi phát biểu ý
kiến trong các cuộc họp dân....................................................................................... 90
Bảng4.14: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là dự kiến hành vi chủ động đề
xuất ý kiến với cơ quan quản lý nhà nước .................................................................. 92
Bảng 4.15: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là dự kiến hành vi đóng góp
nguồn lực để bảo vệ tài nguyên nước ......................................................................... 93
Bảng 4.16: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là dự kiến hành vi cử người
đại diện cùng tham gia quản lý với chính quyền địa phương ...................................... 95
Giá trị sử dụng là những hàng hóa, dịch vụ sinh thái mà yếu tố môi trường cung
cấp cho con người. Giá trị này được chia thành ba nhóm: giá trị sử dụng trực tiếp
(direct use value), giá trị sử dụng gián tiếp (indirect use value) và giá trị tùy chọn
(option value). Giá trị sử dụng trực tiếp bao gồm những hàng hóa, dịch vụ do môi
trường cung cấp và con người có thể tiêu dùng một cách trực tiếp. Giá trị sử dụng gián
tiếp là những giá trị, lợi ích từ các dịch vụ sinh thái, chức năng sinh thái. Giá trị tùy
chọn là những giá trị sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp chưa được sử dụng ở hiện tại mà
được con người quyết định để lại tiêu dùng trong tương lai. Giá trị phi sử dụng là
những giá trị bản chất, nội tại của yếu tố môi trường, bao gồm giá trị tồn tại (existence
value) và giá trị lưu truyền (bequest value). Giá trị tồn tại là sự hài lòng, thỏa mãn của
cá nhân khi biết rằng các thuộc tính của yếu tố môi trường đang tồn tại ở đâu đó.Giá trị
lưu truyền là sự thỏa mãn của cá nhân khi biết rằng yếu tố môi trường được lưu truyền
cho các thế hệ sau hưởng thụ (Đinh Đức Trường và Lê Hà Thanh, 2013).
Với tài nguyên nước, giá trị sử dụng trực tiếp là những lợi ích phát sinh khi
người sử dụng trực tiếp sử dụng nước.Ví dụ, người tiêu dùng sử dụng nước trong sinh
hoạt, nông dân sử dụng nước để tưới tiêu nông nghiệp. Khi không trực tiếp tiếp xúc
- Sản xuất nông
nghiệp
- Nuôi trồng, đánh
bắt thủy sản
- Sản xuất công
nghiệp
- Sản xuất lâm
nghiệp
- Năng lượng
- Du lịch
...
Giá trị sử dụng
gián tiếp:
- Điều tiết lũ
- Lưu giữ nước
- Cảnh quan,
thẩm mỹ
...
Giá trị phi
sử dụng
Giá trị tùy
chọn
Giá trị tồn
tại
Giá trị
nước là một trong số các “tài sản chung”, thường gặp phải “bi kịch tài sản chung”
những sự vụ vi phạm quy định pháp luật.
-
vụ mục tiêu công bằng và lợi ích bền vững cho toàn xã hội khi sử dụng tài
bản thân, dẫn tới khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên chung. Như vậy, hành vi vì lợi
nước bị khai thác, sử dụng không hiệu quả. Quản lý tài nguyên nước đứng trước thách
thức phải giải quyết được tình trạng này.
Xét từ góc độ quản lý, vì nước có thể di chuyển theo cả không gian và thời gian
theo chu trình thủy văn nên “quản lý tài nguyên nước” là một khái niệm bao hàm rất
nhiều hoạt động thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau. Theo Chương trình đánh giá
nước thế giới (WWAP) thuộc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp
Quốc (UNESCO), xét trên nghĩa rộng, quản lý tài nguyên nước có thể chia thành ba
Quản lý dưới góc độ kinh tế và tài chính: Áp dụng các công cụ kinh tế và tài
chính để khuyến khích đầu tư, thu hồi chi phí và thay đổi hành vi nhằm phục
(tragedy of the commons) khi các cá nhân hành động với động cơ tối đa hóa lợi ích
ích bản thân của các thành viên trong cộng đồng sử dụng nước khiến cho tài nguyên
Giám sát: Xây dựng hệ thống giám sát hoạt động có hiệu quả sẽ giúp cung cấp
các thông tin cần thiết phục vụ quản lý, đồng thời xác định và giải quyết được
khác nhau.Các mục đích sử dụng này có thể mâu thuẫn với nhau, gây ra tranh chấp
giữa những người sử dụng nước. Theo Hardin (1968), xét từ góc độ kinh tế, tài nguyên
Kiểm soát ô nhiễm: Áp dụng nguyên tắc Người gây ô nhiễm phải trả tiền và các
thuộc về phụ nữ.
- Khi xét từ nhu cầu cạnh tranh sử dụng, phải coi nước là hàng hóa có giá trị kinh
tế.
Quản lý tài nguyên nước trong bối cảnh hiện nay đang phải đối mặt với nhiều
vấn đề phức tạp. Trách nhiệm của quản lý tài nguyên nước là đảm bảo đáp ứng được
5
• Người sử dụng nước, nhóm người sử dụng nước;
• Các tổ chức nghề nghiệp.
Từ đó có thể thấy cả 4 nguyên tắc quản lý và sử dụng tài nguyên nước củaHội
nghị quốc tế về Nước và Môi trường tại Dublin 1992 cũng như yêu cầu về các chủ thể
tham gia xây dựng và thực hiện IWRM đều đề cập đến cộng đồng người sử dụng
nước. Vì vậy, sự tham gia của cộng đồng người sử dụng nước vào quản lý tài nguyên
nước là đòi hỏi tất yếu.Vai trò của cộng đồng người sử dụng nước cần được thể hiện
trong mọi giai đoạn của xây dựng kế hoạch, xây dựng và thực thi chính sách, từ đó
hoạt động quản lý mới hướng đến những ưu tiên phù hợp, đáp ứng được lợi ích của
nhiều nhóm người ở cấp độ từ địa phương đến quốc gia và xuyên biên giới.
nhu cầu sử dụng nước trong điều kiện nguồn cung không chắc chắn và thường xuyên
Không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới, Việt Nam đã bắt đầu chuyển
biến động, cân đối được các giá trị sinh thái, kinh tế và xã hội của tài nguyên nước,
sang tiếp cận quản lý tổng hợp tài nguyên nước khi Luật Tài nguyên nước năm 1998
giải quyết được những rủi ro ngày càng tăng và thích ứng được với những sự kiện,
tế - xã hội như giới tính, lứa tuổi, trình độ học vấn, thu nhập, sinh kế…Vì vậy, muốn
thúc đẩy cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên nước, cần xác định, phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia của họ.
6
7
Lý do lựa chọn địa bàn nghiên cứu
Thác Bà tại địa phương bắt đầu nảy sinh. Việc Công ty cổ phần thủy điện Thác Bà
Việt Nam là quốc gia có tài nguyên nước tương đối phong phú.Tính về nước
mặt, chúng ta có 108 lưu vực sông phân bố trên cả nước với 3.450 sông suối có chiều
khai thác nước hồ để phát điện đã làm ảnh hưởng lớn đến đời sống dân cư vùng hồ.
3
dài trên 10km. Tổng lượng dòng chảy là khoảng 830 đến 840 tỷ m một năm, trong đó
3
có 310-315 tỷ m được sinh ra trong lãnh thổ, chủ yếu thuộc lưu vực các sông Hồng –
Thái Bình, sông Đồng Nai, sông Cả, sông Ba, sông Vu Gia – Thu Bồn (Cục Quản lý
Tài nguyên nước, 2015b). Hệ thống hồ chứa nước cũng được xây dựng với mục đích
trữ nước, điều tiết dòng chảy, phòng chống và giảm lũ. Theo Cục Quản lý Tài nguyên
nước (2015b), Việt Nam có trên 2.100 hồ thủy điện, thủy lợi đang hoạt động, trong đó
có 800 hồ thủy điện với 59 hồ đang hoạt động, 231 hồ đang trong quá trình xây dựng,
còn lại đang trong quy hoạch.
của các ngành sản xuất tăng. Dân số tăng cùng với mong muốn có chất lượng cuộc
sống tốt hơn đòi hỏi nước phải gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Vì vậy, ở Việt
Nam, cũng như nhiều nước khác, một nguồn nước như hồ chứa nước, con sông… phải
chia cho nhiều người cùng sử dụng cho các mục đích khác nhau. Do đó mâu thuẫn,
tranh chấp trong sử dụng nước đang ngày càng phổ biến.
Hồ Thác Bà là một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam, là nguồn
cung cấp nước cho Nhà máy thủy điện Thác Bà (nhà máy thủy điện đầu tiên của Việt
Nam, hiện là Công ty cổ phần thủy điện Thác Bà) thuộc tỉnh Yên Bái. Hồ Thác Bà
được hình thành khi công trình đập thủy điện Thác Bà được xây dựng xong năm 1970
làm nghẽn dòng sông Chảy. Hồ Thác Bà là điển hình của một nguồn nước đang đươc
chia sẻ cho nhiều người cùng sử dụng với những mục đích khác nhau. Ngoài vai trò
Các nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước đã
được thực hiện trong thời gian qua tại một số địa bàn ở Việt Nam. Mặc dù phong phú
về số lượng, đa phần các nghiên cứu tập chủ yếu vào khía cạnh pháp lý cũng như các
hình thức tham gia của cộng đồng vào quản lý. Các vấn đề liên quan tới động cơ, hành
vi của cộng đồng cũng như các nhân tố tác động đến sự tham gia của cộng đồng vào
quản lý tài nguyên dường như còn bỏ ngỏ. Trong bối cảnh đó, luận án này được thực
hiện nhằm tìm hiểu hành vi, mức độ tham gia của cộng đồng hiện tại vào hoạt động
quản lý tài nguyên nước bằng cách tiếp cận hành vi. Thông qua mô hình nghiên cứu
hành vi, luận án phân tích các nhân tố tác động đến hành vi của cộng đồng trong việc
tham gia quản lý tài nguyên nước và đưa ra một số khuyến nghị về chính sách. Địa bàn
được lựa chọn để thực hiện luận án là vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái bởiđây là địa
điểm lý tưởng thực hiện nghiên cứu thực nghiệm khi trong khu vực có nhiều đối tượng
sử dụng nước với các mục tiêu khác nhau.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng thể của luận án là đánh giá sự tham gia quản lý tài
nguyên nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái, xác định các nhân tố ảnh
hưởng đến hành vi tham gia của cộng đồng nhằm đề xuất một số giải pháp tăng cường
viên cộng đồng có mục đích sử dụng chính một nguồn nước khác nhau thì cũng có dự
Đề xuất các giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài
kiến tham gia quản lý tài nguyên nước khác nhau. Cụ thể, các hộ gia đình sử dụng
nguyên nước.
nước hồ Thác Bà làm nước sinh hoạt qua hệ thống nước máy có mong muốn tham gia
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu:
• Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại vùng hồ Thác Bà (bao gồm các
diện tích đất, mặt nước hồ và các đảo trên địa dư của 31 xã ven hồ Thác Bà) và
thành phố Yên Bái là địa bàn có người sử dụng tài nguyên nước hồ Thác Bà
phục vụ sinh hoạt, giải trí…
• Về thời gian: Luận án thực hiện điều tra khảo sát tại địa bàn nghiên cứu dựa
trên bảng hỏi trong năm 2015. Các số liệu thống kê về kinh tế - xã hội được thu
thập trong giai đoạn 2010 – 2015.
quản lý mạnh mẽ hơn, còn các hộ khai thác thủy sản ít có dự định tham gia quản lý.
Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định lại một điểm chung giữa các nghiên cứu trước
đây là tác động của các biến kinh tế - xã hội là không thống nhất, do đó luôn cần được
đưa vào nghiên cứu trong từng bối cảnh cụ thể.
Về mặt thực tiễn, với nghiên cứu được tiến hành tại một địa bàn cụ thể là vùng
hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái, luận án đã xác định, phân tích mức độ và hành vi tham gia
quản lý tài nguyên nước của cộng đồng vào các khía cạnh của quản lý tài nguyên nước
do Mạng lưới Công tác vì nước Toàn cầu (GWP) đưa ra. Theo đó, sự tham gia của
cộng đồng vùng hồ Thác Bà chính là một khía cạnh trong quản lý, thể hiện ở nấc thang
Về mặt lý thuyết, luận án là công trình đầu tiên ứng dụng lý thuyết hành vi dự
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các từ viết tắt, Danh mục hình, Danh
kiến (Theory of Planned Behaviour - TPB) để nghiên cứu các nhân tố tác động đến
mục bảng, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án được cấu trúc thành 5
hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng trong bối cảnh Việt Nam.
chương như sau:
Luận án mở rộng mô hình nghiên cứu khi bổ sung thêm các biến nhận thức về giá trị
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Chương 1trình bày tổng quan
của tài nguyên nước, mục đích sử dụng nước và các đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ
về các vấn đề liên quan đến quản lý dựa vào cộng đồng và các lý thuyết nghiên cứu
gia đình. Luận án đã lồng ghép TPB trong khung phân tích các cấp độ sự tham gia của
hành vi, đồng thời xem xét các nghiên cứu đã có về sự tham gia của cộng đồng vào
cộng đồng với 5 mô hình TPB tương ứng với 5 hành vi tham gia.
quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam và trên thế giới cũng như các nghiên cứu về các
Luận án kiểm định lý thuyết TPB trong bối cảnh Việt Nam và nhận thấy các
biến TPB gồm thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi có tác
cứu, nguồn dữ liệu, cách thức thu thập và xử lý dữ liệu.
độ kinh tế học: xem xét tài nguyên thiên nhiên bằng khung lý thuyết kinh tế. Nhóm thứ
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Bên cạnh tổng quan về địa bàn nghiên cứu là
vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái, chương 4 phân tích hiện trạng tham gia quản lý tài
nguyên nước của cộng đồngvà xác định các nhân tố tác động lên hành vi tham gia
quản lý tại địa bàn nghiên cứu dựa trên dữ liệu điều tra.
hai tiếp cận dưới góc độ tài nguyên là một tài sản chung và đề xuất cách quản lý tài sản
chung đó.
Cách tiếp cận kinh tế đối với tài nguyên thiên nhiên đã đưa ra một loạt các lý
thuyết và công cụ nhằm giám sát, phân tích, đánh giá và quản lý tài nguyên. Cụ thể,
Chương 5: Đề xuất giải pháp. Từ kết quả nghiên cứu trong chương 4, chương
kinh tế học tài nguyên thiên nhiên xây dựng mô hình khai thác bền vững tài nguyên
5 đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò của cộng đồng trong quản lý tài
thiên nhiên – cơ sở để đưa ra các công cụ quản lý tài nguyên. Các công cụ quản lý
nguyên nước vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái.
được chia thành hai nhóm gồm: (i) công cụ của nhà nước (thuế, hạn mức khai thác, trợ
cấp, tiêu chuẩn, giấy phép) và (ii) công cụ của thị trường (quyền tài sản), hàm ý nhấn
mạnh đến lựa chọn hoặc nhà nước quản lý, hoặc để thị trường điều tiết.
Cách tiếp cận kinh tế dựa trên mối quan hệ tác động qua lại, hai chiều giữa kinh
tế và môi trường. Môi trường cung cấp các dịch vụ khác nhau cho hoạt động kinh tế của
con người. Ngược lại, con người thông qua các hoạt động kinh tế lại tác động lên môi
dựa vào cộng đồng đã được đưa vào áp dụng, trước hết trong lĩnh vực quản lý rừng ở
Cộng đồng
các vùng cao, biên giới – nơi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Phương thức quản lý
này được dựa trên mô hình quản lý truyền thống đã được áp dụng ở vùng núi của
Theo Checkoway (1995), cộng đồng được hiểu là một nhóm người trong xã hội
nhiều nước trên thế giới, khi mọi người dân địa phương hợp tác với nhau và cùng quản
cùng đưa ra sáng kiến và hành động chung. Có thể hiểu theo nghĩa hẹp như định nghĩa
lý nguồn lực và chia sẻ lợi ích. Cách tiếp cận này cho phép sử dụng nguồn lực một
của Conner (2007): “Cộng đồng là các nhóm dân cư có cùng sở thích, có chung lợi ích
cách bền vững.Sau đó, mô hình quản lý dựa vào cộng đồng được mở rộng cho tài
và mối quan tâm”. Theo quan điểm chung ở Việt Nam, cộng đồng là một tập hợp các
nguyên ven biển, ví dụ Khánh Hòa, Thừa Thiên – Huế.
công dân cư trú trong một khu vực địa lý nhất định, hợp tác với nhau vì những lợi ích
chung và chia sẻ những giá trị văn hóa chung. Chi Cục Bảo vệ Môi trường Hà Nội
(2007) định nghĩa: một tập hợp người được coi là cộng đồng khi thỏa mãn các tính
chất về địa lý, văn hóa và lợi ích:
Quản lý dựa vào cộng đồng (CBM) là tập hợp các mô hình quản lý có sự tham
đưa ra trong nghiên cứu về Cải thiện y tế thôn bản tại Đài Loan của Chang (1969). Kể
từ đó, các nhà nghiên cứu và khoa học trên thế giới bắt đầu quan tâm đến việc phân
tích và ứng dụng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng trong các lĩnh vực mà quản lý
nhà nước không phát huy được vai trò một cách hiệu quả. Ở Việt Nam, từ giữa những
- Về tài chính, CBM giúp huy động vốn đầu tư xã hội, giảm sức ép đầu tư cho
ngân sách Nhà nước.
- Về quản lý, CBM chính là việc chuyển giao một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm
quản lý một số lĩnh vực nhất định cho cộng đồng. Nhờ vậy, gánh nặng quản lý của
chính quyền địa phương được giảm bớt.
- Về kinh tế, CBM giúp khai thác và sử dụng bền vững hơn, hiệu quả hơn các
loại tài nguyên cũng như các nguồn lực phát triển khác.
- Về xã hội, khi có CBM, nhận thức của người dân về vai trò, trách nhiệm của
bản thân được nâng cao, đoàn kết dân tộc được củng cố, việc tuyên truyền, thực hiện
các quy định pháp luật trong cộng đồng được thuận lợi hơn.
Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng
Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là một ứng dụng thực tiễn của CBM, đề
cập đến sự tham gia của các cộng đồng có lợi ích liên quan trong quản lý tài nguyên
đất và nước, rừng, động vật hoang dã, du lịch, nguồn lợi thủy sản và các tài nguyên
khác. Có thể xem xét quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng từ hai góc độ:Từ góc độ
trao quyền hợp pháp để quản lý tài nguyên, quản lý dựa vào cộng đồng là một quy
trình trao quyền cho cộng đồng sử dụng tài nguyên. Tức là cộng đồng có quyền sử
dụng và quản lý tài nguyên.Từ góc độ năng lực quản lý của cộng đồng, quản lý dựa
14
15
vào cộng đồng được xem như là một hệ thống các kỹ năng để thực hiện các hoạt động
có “sự tham gia của cộng đồng trong việc lập kế hoạch, vận hành, duy trì các hệ
thống cấp nước mà cộng đồng được hưởng lợi”. Như vậy quản lý dựa vào cộng đồng
Phối hợp giữa các nhóm dân cư và chính phủ
đòi hỏi phải có sự tham gia của cộng đồng.
Chính phủ đáp ứng các yêu cầu do người dân đề xuất
Sự tham gia của cộng
đồng
Chính phủ tham vấn các nhóm dân cư
Tham gia là quyền cơ bản của người dân.Ngày nay, tham gia được hiểu là
cách thức mọi người (cộng đồng) có ảnh hưởng và có vai trò kiểm soát trong quá trình
phát triển, đặc biệt là vai trò ra quyết định và sử dụng nguồn lực. Có nhiều lý do khác
độ tiếp
cận
từ
thấp
đến
cao
thể
hiện
sự
tham
gia
của
nhà quản lý về thực tế các vấn đề kinh tế - xã hội – môi trường ở địa phương.
tham gia thực sự của người dân và trong một chừng mực nào đó quyền lực thuộc về
(2) Tham gia lãnh đạo: những người lãnh đạo của cộng đồng có thể thu hút quá
nhân dân.Vấn đề chính trong việc xác định cấp độ là định rõ quyền lực và khả năng
trình tham gia của cộng đồng bằng cách nói lên những gì mà người dân mong muốn, tổ
thực sự của người dân.
chức các hoạt động, huy động mọi người cho các công việc cụ thể.
Theo quan điểm hiện đại, các thang đo được rút ngắn hơn so với thang đo 8 cấp
độ này, song về căn bản các cấp độ vẫn thể hiện sự kiểm soát của chính phủ giảm dần
16
17
(3) Cung cấp các nguồn lực: cộng đồng có thể tham gia vào các hoạt động như
xong nhà máy và hệ thống đường ống thì người dân Sikaladi không cho phép nhà máy
cung cấp nhân lực, vật chất, các nguồn tài chính và công tác tổ chức hoạt động quản lý
sử dụng nguồn nước. Chính quyền địa phương đã thất bại trong việc thuyết phục người
trong xử lý nguồn nước ô nhiễm ở làng Molinos nằm ở thung lũng Lluta, sa mạc
Atacama, Chile. Ở đây nước ngầm bị ô nhiễm asen do asen tích lũy trong các lớp trầm
Đã có rất nhiều các nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài
tích. Một dự án đã được một tổ chức phi chính phủ (NGO) thiết kế nhằm đưa ra một
nguyên nước.Các nghiên cứu quốc tế đa phần tập trung vào các bài học kinh nghiệm
công nghệ xử lý nước đơn giản, chi phí thấp cho người dân làng Molinos. Nhưng vì
về cách thức huy động sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước, vai trò
cộng đồng được tham gia rất ít vào dự án, chủ dự án lại không trao đổi thông tin nên
của các bên liên quan như chính quyền, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ… trong
cộng đồng không hiểu rõ mục tiêu của dự án, các bước thực hiện dự án và hiện trạng
các dự án nước hoặc một khía cạnh cụ thể trong quản lý tài nguyên nước.
dự án thực hiện đến đâu. Kết quả là các bên không hiểu nhau. Cộng đồng cho rằng nhu
Karimi (2003) nghiên cứu dự án cấp nước sạch ở West Sumantra, Indonesia để
xem xét sự khác biệt khi có và không có vai trò của cộng đồng. Thách thức lớn nhất
trong quản lý tài nguyên nước ở West Sumantra là cấp nước sinh hoạt cho người dân.
Người dân phải sử dụng nước từ nhiều nguồn khác nhau như nước máy, nước mặt,
nước ngầm, nước đóng chai… vì nước máy chỉ đáp ứng nhu cầu chủ yếu cho người
dân khu vực đô thị. Do đó, công ty cấp nước địa phương phải đầu tư để mở rộng mạng
lưới nước máy phục vụ người dân. Nghiên cứu cho thấy ở Baruah Burik, dự án cấp
nghiêm trọng năm 2005 và 2006, chính phủ Romania quyết định xây dựng chiến lược
ngược lại. Chính quyền Tannah Datar quyết định cấp nước máy cho Simabur là một
quản lý rủi ro lũ lụt. Theo quy định của Romania, cần thiết phải có sự tham gia của
thị trấn nằm trên cao, lấy nguồn nước từ Sikaladi gần đó. Tuy nhiên, khi xây dựng
cộng đồng trong quá trình xây dựng chiến lược. Công cụ tham vấn cộng đồng chính
18
19
được sử dụng là các cuộc họp của Ủy ban lưu vực sông. Có khá nhiều cơ quan, đại
• Tham gia các cuộc họp cộng đồng để lập kế hoạch.
diện tham gia vào các cuộc họp. Các cơ quan thuộc nhà nước – những người ra quyết
• Đóng góp ý kiếnvào việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đề ra.
định “truyền thống”, ở đây là cơ quan quản lý tài nguyên nước và công ty cấp nước có
phản hồi khá nhiều trong cuộc họp. Trong khi đó, các tổ chức, đại diện khác đều tham
gia vào các cuộc họp tham vấn một cách rất bị động. Trừ các tổ chức phi chính phủ là
có góp ý nhận xét, các tổ chức khác và cả đại diện người sử dụng nước đều ít tham gia.
Xu hướng nói chung trong các góp ý, nhận xét là họ chấp nhận chiến lược đã đề ra.
Đồng thời, những nhận xét do các bên đưa ra lại không được cân nhắc, bàn luận trong
đưa cộng đồng tham gia vào quản lý. Vì vậy, cộng đồng không hào hứng, không chủ
đồng có thể làm được gồm: (1) Đóng góp ý kiến về kế hoạch tham gia quản lý tài
động tham gia. Đây cũng là một đặc điểm của một quốc gia đang trong giai đoạn
nguyên nước trong các cuộc họp tham vấn; (2) Đề cử người đại diện tham gia quản lý;
chuyển đổi cả về kinh tế, xã hội và thể chế như Romania. Các tác giả khuyến nghị khi
(3) Đóng góp tiền, công lao động hay vật liệu để xây dựng, sửa chữa… các công trình
có sự tham gia của cộng đồng từ giai đoạn đầu của quá trình ra quyết định thì sự tham
cấp nước; (4) Tham gia quản lý khi được hướng dẫn kỹ thuật với các công việc đơn
gia của cộng đồng sẽ đạt được thành công và thiếu kinh nghiệm không còn là thách
giản. Đây là các việc phù hợp với dự án cấp nước và thủy lợi. Đồng thời, kiến thức bản
thức đáng ngại.
địa cũng đóng một vai trò quan trọng, nhất là kinh nghiệm và kỹ thuật của người dân
1.1.3.2.Nghiên cứu ở Việt Nam
Các nghiên cứu ở Việt Nam về quản lý tài nguyên nướccó sự tham gia của cộng
đồng cũng rất đa dạng, chủ yếu tập trung vào hoạt động cấp nước.Ngoài ra có các
nghiên cứu về tài nguyên nước ở các lưu vực sông, hồ chứa, tập trung vào tìm hiểu
mức độ tham gia của cộng đồng trong quản lý và những khó khăn, thách thức mà họ
biến gồm:
chế do hồ thủy điện không có cống xả đáy làm ảnh hưởng đến địa hình lòng sông và
20
21
hoạt động khai thác cát, sỏi của người dân. Khi tích nước và xả nước, các hồ chứa
trình thủy điện được đánh giá là cao nhất Việt Nam. Sự tồn tại của các hồ đập này
cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng nước vùng hạ lưu, gây tác động tiêu cực đến chất
cũng gây nhiều tranh cãi vì ngoài mục tiêu chính là phát điện, chúng ít có vai trò khác,
lượng nước sinh hoạt của người dân đang sử dụng nước từ nhà máy cấp nước Huế.Đặc
kế hoạch vận hành ít được chú trọng và do đó gây tác động tiêu cực cho người dân địa
biệt, khi lượng nước vùng hạ lưu thay đổi, độ mặn cũng thay đổi theo làm các loài sinh
vật nước ngọt bị đe dọa, gây suy thoái tài nguyên sinh học và ảnh hưởng tiêu cực đến
sinh kế người dân vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Từ những mâu thuẫn trên
trong quá trình quản lý tài nguyên nước hồ chứa, các tác giả đã khảo sát nhiều đối
tượng khác nhau gồm người dân hạ lưu các sông Bồ, sông Hương, người dân vùng
đầm phá Tam Giang – Cầu Hai và các nhà khoa học, nhà quản lý để tìm hiểu cụ thể
phương: thu hẹp sinh kế của họ và khiến cuộc sống của họ gặp nhiều rủi ro. Thông qua
phỏng vấn, trao đổi với cộng đồng và nhà quản lý địa phương ở lưu vực có thủy điện,
tham vấn, giám sát của cộng đồng đến các bên liên quan.
Từ đó, các tác giả kết luận sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên
nước ở các hồ chứa, hồ thủy điện ở Thừa Thiên – Huế là rất hạn chế và rút các nguyên
nhân là:
(i) Chưa có cơ chế phù hợp nhằm huy động khả năng của cộng đồng để họ hỗ
Từ đó, tác giả nghiên cứu đưa ra các giải pháp sau:
-
Chính quyền, Ủy ban lưu vực sông, cộng đồng và các tổ chức xã hội thành lập
nhóm giám sát cộng đồng và xây dựng cơ chế điều hành thực hiện.
-
Chính quyền, các tổ chức xã hội xây dựng và ấn hành tài liệu dưới dạng
cẩm nang hướng dẫn tham vấn, giám sát cộng đồng.
trợ giám sát bảo vệ nguồn nước, ngăn chặn các hành vi tiêu cực làm ô nhiễm, suy thoái
tài nguyên nước;
-
được chú trọng trong công tác quản lý tài nguyên nước.
hành hồ đập thủy điện
-
Cũng với vấn đề tương tự, Lê Anh Tuấn (2015) đã nghiên cứu lưu vực sông Vu
Gia – Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam để xem xét vai trò của cộng đồng trong việc quản lý
-
Chính quyền, các tổ chức xã hội, Ủy ban lưu vực sông và đại diện cộng
đồng xây dựng quy trình xác định các bên liên quan và trao đổi thông tin để phục
vụ thương lượng khi có tranh chấp.
22
23
1.1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài
quan, đặc biệt hệ thống các cơ quan cấp cơ sở trực tiếp tiếp xúc với người dân cần thực
nguyên nước
sự được đổi mới theo hướng tích cực, cởi mở.
Từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể thấy để cộng đồng tham gia hiệu
quả vào quản lý tài nguyên nước, cần có những điều kiện sau:
• Hoàn thiện khung pháp lý về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài
• Hiểu rõ đặc tính của cộng đồng
Đặc tính của cộng đồng có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý và phát triển
dựa vào cộng đồng nói chung. Cách tiếp cận quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng
nguyên nước
hoạt động thông qua quan hệ đối tác giữa chính phủ và cộng đồng địa phương, với
nhiên, sự tham gia của cộng đồng chỉ có thể mang lại hiệu quả khi cộng đồng được
định được quy định bằng văn bản pháp luật của Nhà nước. Trong quá trình tham gia
cung cấp đầy đủ thông tin về tình trạng tài nguyên nước nơi họ sinh sống và lợi ích
quản lý, cộng đồng dân cư cần tạo được sự đồng thuận, hợp tác và phối hợp của các cơ
thiết thực khi vấn đề quản lý tài nguyên nước được cải thiện. Từ việc cung cấp kiến
quan quản lý nhà nước nhằm góp phần nâng cao năng lực quản lý và nhận thức của
thức, hiểu biết cho cộng đồng đến chỗ họ hiểu được trách nhiệm quản lý tài nguyên
cộng đồng. Sự giám sát của cộng đồng cần có cơ chế cụ thể về tổ chức, nguồn lực.
nước nơi mình sinh sống là một quá trình dài, đòi hỏi phải tăng cường công tác nâng
Ngoài ra, xây dựng khung pháp lý của quản lý tài nguyên nước có sự tham gia của
cao nhận thức của cộng đồng, và phải được tiến hành càng sớm càng tốt, trước khi đưa
cộng đồng cũng góp phần nâng cao tính bền vững và công bằng của hoạt động quản lý
họ tham gia vào quá trình quản lý. Ngoài ra, cần công khai, minh bạch các thông tin
tài nguyên nước. Thực tế khách quan cho thấy một khi cộng đồng được hưởng lợi từ
như cộng đồng tham gia dưới hình thức nào, vào hoạt động gì; họ có thể được hưởng
24
25
vào thành phong tục tập quán, phù hợp với tín ngưỡng thì cộng đồng sẽ dễ dàng chấp
gia quản lý tài nguyên nước là một hành vi xã hội của cá nhân. Đã có những lý thuyết
nhận và tuân theo. Đặc biệt, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa
giải thích hành vi xã hội khác nhau được đưa ra và được ứng dụng rộng rãi trong nhiều
thì những quy định của pháp luật trên nhiều khía cạnh còn xa lạ đối với cộng đồng dân
lĩnh vực để tìm hiểu hành vi của các cá nhân như tập thể dục, chăm sóc sức khỏe cá
cư, nhất là các quy phạm pháp luật ở trình độ khái quát cao sẽ khó thâm nhập vào các
nhân… trong y tế hay tiết kiệm nước, tiết kiệm năng lượng, tham gia bảo vệ môi
lĩnh vực cụ thể của đời sống cộng đồng. Trong khi đó, tín ngưỡng, phong tục, tập quán
trường… trong lĩnh vực môi trường. Các lý thuyết hành vi xã hội phổ biến được xem xét
với những giá trị tích cực của nó đóng vai trò quan trọng và chủ yếu trong quá trình
ở đây gồm: Lý thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA), Lý thuyết
điều chỉnh các quan hệ xã hội cụ thể, nhất là trong quá trình tự quản ở cộng đồng dân
dự đoán hành vi. Giá trị của hàm số dự định hành vi phụ thuộc các biến số ảnh hưởng
Người đại diện cộng đồng và chính quyền địa phương có thể thiết kế và thực hiện
các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức cho cộng đồng ngay cả khi người dân
không trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý môi trường, thực hiện chức năng giám
sát, điều khiển hành vi của người dân, huy động cộng đồng v.v. Chính quyền, nhà quản
lý, người đại diện và cả các nhà khoa học có thể hợp tác với nhau để tuyên truyền, phổ
biến vai trò và ý nghĩa của nguồn tài nguyên đối với đời sống của cộng đồng, làm
cho cộng đồng nhận thức được trách nhiệm quản lý tài nguyên thiên nhiên khi tham gia
mô hình.
tính toán cho mỗi cá nhân cho thấy khả năng thực hiện hành vi của cá nhân đó là cao
hay thấp. Lý thuyết TRA và TPB nói trên thuộc nhóm mô hình nhận thức xã hội.
Prochaska và DiClemente (trích dẫn trong Tlou, 2009, tr.12) đưa ra mô hình các
giai đoạn thay đổi TTM với giả định rằng cá nhân thay đổi hành vi của mình qua năm
giai đoạn: tiền ý định, có ý định, chuẩn bị, hành động và duy trì. Trong giai đoạn đầu
tiên: tiền ý định, cá nhân chưa có ý định thay đổi hành vi trong 6 tháng tới. Khi có một
sự kiện xảy ra làm cá nhân muốn thay đổi, họ chuyển sang giai đoạn thứ hai: giai đoạn
có ý định. Lúc này, cá nhân hình thành ý tưởng thay đổi hành vi và dự định sẽ thay đổi
Trên đây là những điều kiện để quản lý tài nguyên nước có sự tham gia của cộng
hành vi của mình trong 6 tháng tới. Nếu cá nhân dự định thay đổi hành vi của mình
đồng có hiệu quả. Các nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam đã phân tích các điều
trong tháng tới thì họ đang ở giai đoạn thứ ba: giai đoạn chuẩn bị. Giai đoạn thứ tư –
kiện này dưới góc độ định tính, trong khi đó nhiều nghiên cứu ở nước ngoài đã kết
riêng rẽ các giai đoạn trong quá trình thay đổi hành vi của cá nhân. Thứ hai là các
26
thang đo xem xét sự thay đổi chưa được chuẩn hóa, dẫn đến khó thu thập và xử lý dữ
liệu (Sutton, 2001).
27
Tài nguyên nước là “tài sản chung”, có tính chia sẻ lợi ích giữa nhiều người sử
dụng. Hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước là hành vi xã hội, bị ảnh hưởng bởi
Lý thuyết hành vi hợp lý TRA (Ajzen và Fishbein, trích trong Sutton, 2001,
nhận thức xã hội của mỗi cá nhân. Vì vậy, để nghiên cứu hành vi tham gia quản lý tài
tr.4) được đưa ra nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa thái độ của một cá nhân và hành
nguyên nước, viêc sử dụng các lý thuyết nhận thức xã hội (TRA hoặc TPB) là phù hợp
vi của người đó. TRA giải thích mối quan hệ giữa niềm tin, thái độ, dự định và hành
và khá phổ biến.
vi. Theo TRA, nhân tố quyết định chính xác nhất khả năng thực hiện một hành vi là dự
1.2.2. Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham
định sẽ thực hiện hành vi đó. Những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến dự định thực hiện
phối đến niềm tin, Dudeen (2008) đã xem xét góc độ văn hóa của cộng đồng sử dụng
kiểm soát hành vi. Nhân tố này cho biết cá nhân đánh giá việc thực hiện hành vi là khó
nước vùng Địa Trung Hải. Các nghiên cứu đều thấy rằng giá trị có ảnh hưởng quan
hay dễ và nó được giả định là phản ánh kinh nghiệm trong quá khứ cũng như dự đoán
trọng lên thái độ, hành vi của con người. De Groot và Steg (2008) đã giải thích như
khó khăn trong tương lai của các cá nhân. Nhận thức kiểm soát hành vi có thể có tác
sau: Thứ nhất, giá trị phản ánh niềm tin và mong muốn đạt được một trạng thái nhất
động trực tiếp lên hành vi qua hai cơ chế. Thứ nhất, nếu dự định thực hiện hành vi
đinh. Thứ hai, giá trị là khái niệm trừu tượng, không đơn thuần chỉ một tình huống,
được coi là biến không đổi thì cá nhân có nhận thức kiểm soát hành vi cao hơn sẽ nỗ
một trạng thái cụ thể. Thứ ba, giá trị đóng vai trò làm nguyên tắc dẫn đường cho một
lực hơn và kiên nhẫn thực hiện hành vi lâu hơn những người có nhận thức kiểm soát
người lựa chọn hoặc đánh giá một hành vi, một con người hoặc một sự kiện là tốt hay
hành vi thấp. Thứ hai, con người có thể có nhận thức chính xác về mức độ kiểm soát
xấu, quan trọng hay không quan trọng v.v. Thứ tư, các giá trị được sắp xếp thành một
sạch của tài nguyên nước sẽ ủng hộ các chính sách sử dụng nước cho mục đích kinh tế,
mất cụ thể trừ khi có tác động thay đổi, mà họ chỉ hành động dựa trên ý định đã từng
còn người nào coi trọng giá trị môi trường mà tài nguyên nước mang lại thì ủng hộ
có từ lâu trong quá khứ. Vì vậy, mô hình nhận thức xã hội cũng có hạn chế nhất định
chính sách bảo tồn. Với quan điểm như vậy, cộng đồng sử dụng nước cho mục tiêu sản
(Sutton, 2001).
xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt sẽ sẵn lòng tham gia quản lý tài nguyên nước
28
29
hướng tới phát triển kinh tế tại địa phương, còn cộng đồng sử dụng tài nguyên nước
có xu hướng hành động nhằm đáp ứng kỳ vọng của người khác mạnh hơn người
với mục đích tham quan, giải trí sẽ sẵn lòng tham gia vào quản lý tài nguyên nước theo
phương Tây (Sakurai và cộng sự, 2015).
hướng bảo tồn. Quan điểm của cộng đồng về quản lý là một nhân tố giá trị khác chi
phối đến mức độ tham gia quản lý tài nguyên nước. Kraft và cộng sự (1996) nhận thấy
nếu người nông dân càng nhìn nhận tiêu cực về vai trò của chính phủ trong quản lý thì
cộng đồng trẻ tuổi, trình độ học vấn cao có nhận thức tốt về môi trường. Họ cũng thấy
quan hệ giữa các hoạt động bảo vệ tài nguyên – môi trường và cộng đồng. Nghiên cứu
có mối tương quan giữa nhận thức về môi trường với các biến như quyền tài sản cá
của Sakurai và cộng sự (2015) ở Nhật cho thấy các cá nhân mới gia nhập cộng đồng rất
nhân, nền kinh tế theo định hướng thị trường, tăng trưởng kinh tế. Các tác giả đi đến
muốn tương tác với các thành viên cũ, nhưng họ không biết làm thế nào để có mối
kết luận để giải thích sự khác biệt về các vấn đề môi trường, cần phân tích các biến
quan hệ xã hội tốt nhất với những người xung quanh. Các nghiên cứu khác cũng đưa ra
kinh tế - xã hội. Sharp và Adua (2009) kết luận có mối quan hệ chặt chẽ giữa nơi sinh
nhận định rằng các hành vi tham gia quản lý tài nguyên – môi trường tích cực có quan
sống và nhận thức về môi trường. Nghiên cứu của Zuo và cộng sự (2011) cho thấy
hệ với việc cải thiện chất lượng môi trường, góp phần xây dựng và thắt chặt quan hệ
cộng đồng ở đô thị với thu nhập cao hơn, học vấn cao hơn, có điều kiện tiếp cận thông
xã hội, nâng cao năng lực cộng đồng và hình thành nên trách nhiệm tập thể đối với
tin hơn, sinh kế ít phụ thuộc vào môi trường hơn thì có xu hướng coi trọng các giá trị
tìm hiểu những vấn đề nói trên, qua đó có thể xây dựng được một mô hình quản lý phù
thường đi đến kết luận rằng cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên – môi trường với
hợp, được sự ủng hộ, hợp tác của cộng đồng, đáp ứng được mong muốn của họ và thu
động cơ là các quan điểm, giá trị liên quan đến chống suy thoái môi trường, lưu giữ kỷ
hút họ tham gia. Các lý thuyết hành vi nhận thức xã hội là một công cụ hữu ích trong
niệm về mối quan hệ xã hội – sinh thái (đặc biệt là các cộng đồng nhập cư), mong
trường hợp này, cần được nghiên cứu áp dụng để đẩy mạnh hơn nữa sự tham gia của
muốn phục hồi sau thiên tai hoặc chiến tranh, hoặc vì bản thân cộng đồng muốn tự
cộng đồng trong quản lý tài nguyên – môi trường.
nâng cao vai trò của bản thân trong quản lý. Trong khi đó, động cơ khiến cộng đồng
tham gia bảo vệ, quản lý tài nguyên – môi trường ở châu Á lại khác vì ở châu Á, yếu
tố chia sẻ trách nhiệm đóng vai trò quan trọng.Ngoài ra, người phương Đông thường
1.3.
Khái quát những vấn đề chưa được nghiên cứu
Tổng quan các nghiên cứu trước đây cho thấy còn tồn tại những vấn đề đang bỏ
ngỏ như sau:
Luận án này được thực hiện sẽ góp phần lấp vào những khoảng trống nghiên
cứu nói trên. Thông qua nghiên cứu định tính và định lượng, luận án xem xét, đánh giá
hành vi, mức độ tham gia của cộng đồng trong toàn bộ các khía cạnh của quản lý tài
nguyên nước; đồng thời xác định động cơ, nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của họ.
2.1.
Lý thuyết quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
Khái niệm quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng có thể thấy từ phần tổng
quan các nghiên cứu trước đây, nhìn chung các khái niệm về quản lý dựa vào cộng
đồng đều đề cập đến sự tham gia của cộng đồng. Luận án sử dụng định nghĩa của
Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh (2006), theo đó, “quản lý tài nguyên nước
dựa vào cộng đồng là một quá trình có sự tham gia, trong đó cộng đồng chính là trung
tâm của hệ thống quản lý nước có hiệu quả”. Vì vậy, luận án tập trung nghiên cứu sự
tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước tại địa bàn nghiên cứu. Về khái
niệm cộng đồng, luận án áp dụng quan điểm: cộng đồng là một nhóm người cùng sống
trong một khu vực địa lý, tương đồng với nhau về văn hóa và lợi ích, ở đây chỉ bao
gồm các hộ gia đình.
Nội dung quản lý tài nguyên nướcdựa vào cộng đồng
Theo Trần Thanh Lâm (2004), nội dung quản lý môi trường dựa vào cộng đồng
bao gồm: Thứ nhất, cộng đồng xác định những vấn đề môi trường cần được ưu tiên để
phục vụ cho sự phát triển của cộng đồng và tìm cách giải quyết chúng. Thứ hai, cộng
đồng xây dựng các chương trình, kế hoạch thực hiện. Thứ ba, cộng đồng thực hiện
chương trình, kế hoạch đã đề ra với sự hỗ trợ, hợp tác của các nhóm liên quan khác
như chính phủ, nhà tài trợ, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ… Thứ tư, khi kết
thúc, cộng đồng và các bên liên quan đánh giá lại tổng thể chương trình, kế hoạch đã
thực hiện. Thứ năm, cộng đồng tiếp tục xác định ưu tiên mới. Đây là quy trình lặp đi
lặp lại theo hình xoáy ốc đi lên cao thể hiện sự gia tăng về trình độ, kỹ năng của cộng
của ô nhiễm bằng các công cụ khác nhau.
-
Giám sát: xác định, giải quyết các sự vụ vi phạm quy định về khai thác, sử
dụng tài nguyên nước.
-
33
• Cử người đại diện cho cộng đồng trong các vấn đề liên quan đến quản lý tài
nguyên nước
• Đóng góp công lao động, tiền, nguyên vật liệu… phục vụ xây dựng, vận
hành, duy trì và bảo dưỡng, bảo vệ công trình nước ở địa phương.
• Đóng phí sử dụng nước.
Trong nghiên cứu này, các hành vi và cấp độ nói trên là cơ sở để xem xét hiện
trạng sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước tại vùng hồ Thác Bà,
tỉnh Yên Bái.
Quản lý dưới góc độ kinh tế và tài chính: áp dụng các công cụ kinh tế phù hợp
để đảm bảo phát triển bền vững.
-
Quản lý thông tin: thu thập dữ liệu phục vụ quá trình ra quyết định.
Về mức độ và hành vi tham gia, nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận của
Dower (2004) và dựa trên nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam của Nguyễn Việt Dũng
và Nguyễn Danh Tĩnh (2006). Theo Dower (2004), quản lý dựa vào cộng đồng có 5
• Tham gia các cuộc họp cộng đồng để lập kế hoạch.
và giáo dục người dân về các cơ hội và công cụ về việc tham gia; phân bổ các nguồn
• Đóng góp ý kiến vào việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đề ra.
lực để hỗ trợ việc tham gia của cộng đồng. Người đứng đầu cần phải có được kỹ năng
34
35
giao tiếp công chúng tốt để tránh xung đột thường xảy ra trong quá trình tham gia, đảm
không chính xác. Trong khi đó, hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước là hành vi xã
bảo sự đồng thuận trong cộng đồng.
hội nên nó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nhận thức, quan điểm, giá trị xã hội. Vì vậy,
- Sự thích ứng với phong tục tập quán, tín ngưỡng địa phương: Do phong tục tập
việc sử dụng các mô hình nhận thức xã hội là phù hợp hơn.Vì TPB rộng hơn TRA và
quán, tín ngưỡng địa phương thường phản ánh nguyện vọng của người dân qua nhiều
được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu trước đó nên nghiên cứu này sẽ lựa chọn
thế hệ đúc kết lại và có sự điều chỉnh trong cuộc sống hiện tại nên các thành viên cộng
Thái độ phản ánh đánh giá của mỗi cá nhân khi thực hiện một hành vi nhất
tưởng, nguồn lực, đồng thời đảm bảo quyền lợi của họ liên quan đến khai thác, sử
định. Họ có thể đánh giá hành vi ấy là tích cực hoặc tiêu cực. Chuẩn mực chủ quan bị
dụng tài nguyên.
chi phối bởi sức ép mà mỗi cá nhân cho rằng họ phải chịu hoặc cái mà họ nghĩ những
Mối quan hệ của cộng đồng với chính quyền và các bên liên quan: Thông
người khác muốn họ làm. Nhận thức kiểm soát hành vi là đánh giá của mỗi cá nhân về
thường, quản lý dựa vào cộng đồng diễn ra do sự liên kết của các đối tác trong quá
những thuận lợi, khó khăn mà họ sẽ gặp phải khi thực hiện hành vi. Nhận thức kiểm
trình quản lý, bao gồm người dân, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và các tổ chức phi
soát hành vi có ảnh hưởng trực tiếp lên hành vi thực tế nếu con người nhận biết chính
chính phủ. Chìa khóa cho mối quan hệ hợp tác giữa các bên này là sự chia sẻ trách
xác khó khăn và thuận lợi họ gặp phải. Quy tắc chung là thái độ và chuẩn mực chủ
nhiệm và lòng tin trong quá trình tiến hành hoạt động quản lý giữa các đối tác. Do đó,
quan về hành vi càng tích cực, nhận thức kiểm soát hành vi càng lớn thì một cá nhân
Lý thuyết hành vi dự kiến cho rằng thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức
(2004), Davis và cộng sự (2006) cho hành vi tham gia tái chế chất thải của cộng đồng
kiểm soát hành vi có quan hệ với niềm tin của các cá nhân, phản ánh nhận thức, kinh
ở Anh cho kết quả các biến TPB gồm thái độ, chuẩn mực chủ quan, nhận thức kiểm
nghiệm, hiểu biết của họ. Thái độ hình thành từ sự kết hợp của niềm tin của một cá
đều có tác động thuận chiều lên hành vi tham gia. Sathapornvajana và cộng sự (2006)
nhân cho rằng một hành vi nhất định sẽ dẫn tới một kết quả nhất định và cá nhân đánh
kết luận biến thái độ và chuẩn mực chủ quan có tác động thuận chiều lên hành vi bảo
giá thế nào về kết quả đó (tích cực hay tiêu cực). Nó được gọi là niềm tin hành vi
vệ tài nguyên nước của cộng đồng dân cư Thái Lan. Fielding và cộng sự (2008) xem
(behavioural beliefs). Tương tự, chuẩn mực chủ quan xuất phát từ niềm tin của cá nhân
xét hành vi bảo vệ tài nguyên nước của cộng đồng ở Australia và khẳng định rằng các
về nhận định, đánh giá của người khác đối với cá nhân đó, nó bao gồm niềm tin về
biến TPB có tác động thuận chiều lên hành vi, nhất quán với lý thuyết TPB. Nghiên
chuẩn mực xã hội (normative beliefs) và mong muốn được thực hiện theo (motivation
tin về sự kiểm soát là đánh giá chủ quan của cá nhân tác động của các nhân tố tiêu cực
(2016) đã sử dụng lý thuyết hành vi dự kiến để nghiên cứu hành vi sử dụng nước, gồm
hoặc tích cực lên hành vi của họ.
tiết kiệm nước và bảo vệ nguồn nước của cộng đồng vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái.
Theo lý thuyết hành vi dự kiến, có thể dự đoán được hành vi của một người từ
Kết quả cho thấy có hai nhân tố TPB cùng ảnh hưởng đến hành vi bảo vệ tài nguyên
dự định của họ với hai điều kiện. Thứ nhất, phải đo được dự định và hành vi trong
nước là thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi với tác động thuận chiều, phù hợp với
cùng mối quan hệ với mục đích, hành động, bối cảnh và thời gian của hành vi. Thứ
lý thuyết TPB. Ngoài ra, lý thuyết này chưa phổ biến ở Việt Nam trong lĩnh vực quản
hai, khoảng thời gian giữa dự định và hành vi phải ngắn nhất có thể để đảm bảo cá
lý tài nguyên – môi trường.
nhân không có nhiều cơ hội thay đổi ý định thực hiện hành vi của mình.
2.3. Giả thuyết nghiên cứu
Phân tích tổng hợp các nghiên cứu TPB cho thấy khi nghiên cứu mô hình dự
định thực hiện hành vi phụ thuộc thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát
trường trong đó có tài nguyên nước. Mô hình hồi quy TPB của Tonglet và cộng sự
cộng đồng cho thấy cộng đồng được hỏi ý kiến và có thông tin phản hồi lại với quá
38
39
trình ra quyết định quản lý. Tức là cộng đồng tham gia quản lý ở cấp độ “được tham
kê các giá trị mà tài nguyên nước mang lại cho cá nhân bằng các phát biểu phản ánh cả
vấn”. Hai hành vi “đóng góp công sức, tài chính” và “cử người đại diện tham gia quản
giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng của tài nguyên nước ở Alberta, Canada. Các giá
lý” phản ánh cộng đồng có cơ hội được tham gia quản lý nhưng vai trò quản lý chính
trị được đưa ra gồm: sự hài lòng khi thế hệ tương lai có nước để sử dụng;chất lượng
vẫn thuộc về nhà nước nên chúng được xếp vào cấp độ “cùng thực hiện”. Nghiên cứu
cuộc sống tốt nhờ hệ sinh thái dưới nước đa dạng, phong phú; chất lượng cuộc sống tốt
của Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh (2006) cho thấy các hành vi tham gia
nhờ cảnh quan đẹp; nước phục vụ sinh hoạt; nước phục vụ tưới tiêu nông nghiệp.
quản lý tài nguyên nước của cộng đồng ở Việt Nam còn hạn chế, chưa lên đến cấp độ
hành vi liên quan đến tài nguyên – môi trường mà điều này tùy thuộc vào từng giá trị,
từng hành vi và từng cộng đồng dân cư. Như vậy giả thuyết ở đây là: Nhận thức của
Tuân thủ chính sách quản lý tài nguyên
nước hồ Thác Bà
Được thông báo
Tham gia các buổi họp người dân
Cuối cùng, các biến kinh tế - xã hội có tác động lên dự kiến hành vi. Tác động
Đóng góp ý kiến trong các buổi họp lấy ý
kiến và đóng góp ý kiến qua các kênh
Được tham vấn
khác
Đóng góp công sức, tài chính để góp phần
bảo vệ tài nguyên nước
Cử đại diện cùng tham gia quản lý hồ
cộng đồng về giá trị của tài nguyên nước là biến số có ý nghĩa, có tác động lên dự
kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước.
Cùng thực hiện
Thác Bà
Nguồn: Tổng kết của tác giả.
Luận án này sử dụng lý thuyết TPB để tìm hiểu các nhân tố tác động đến từng
đến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước. Russenberger và cộng sự (2012) đã liệt
Trình độ học vấn: Nghiên cứu của Sheikh và cộng sự (2014) ở Malaysia
cho thấy hộ gia đình có trình độ học vấn cao tham gia nhiều vào quản lý tài nguyên
nước. Nên nghiên cứu này giả định trình độ học vấn có tác động thuận chiều lên
dự kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước.
40
41
Quy mô hộ gia đình: Quy mô hộ gia đình khác nhau dẫn tới nhu cầu sử
dụng nước khác nhau, vì vậy có thể kỳ vọng biến này có tác động lên dự kiến hành vi
tham gia quản lý tài nguyên nước.
-
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Khung nghiên cứu
Thu nhập: Thu nhập phản ánh mức sống của thành viên cộng đồng.
Xuất phát từ nhu cầu cá nhân với các đặc điểm về kinh tế - xã hội khác nhau,
Chiều tác động của nhân tố này lên dự kiến hành vi tham gia quản lý tài nguyên
nước là không rõ ràng, ví dụ có người có thu nhập cao sẽ mong muốn tham gia nhiều
hơn vào quá trình quản lý, do vậy thu nhập cao dẫn đến dự định tham gia mạnh hơn.
Ngược lại,
Thái độ
Cù ng chiều
Ajzen (1991)
Chuẩn mực chủ quan
Cùng chiều
Ajzen (1991)
của các tổ chức, doanh nghiệp.
Nhận thức kiểm soát hành vi
Cùng chiều
Nhận thức về giá trị của tài Tùy từng giá trị
Ajzen (1991)
Russenberger và cộng sự
nguyên nước
(2012)
thức tham gia của họ. Đồng thời, hành vi tham gia quản lý của cộng đồng bị chi phối bởi
Mục đích sử dụng nước
Quy mô hộ gia đình
cộng đồng vào quản lý tài nguyên nước ở cấp độ hộ gia đình, không xét đến hành vi
Việc xác định mức độ, hành vi tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồng
vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái được thực hiện thông qua nghiên cứu định tính. Việc
đánh giá tỷ lệ tham gia, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia được
thực hiện thông qua nghiên cứu định lượng.
Nguồn: Tổng kết của tác giả.
42
43
đồng dân cư toàn bộ vùng chịu tác động bởi tài nguyên nước hồ Thác Bà. Nghiên cứu
Hiện trạng sử dụng nước
tại hồ Thác Bà
này chỉ giới hạn ở cộng đồng vùng hồ Thác Bà nên sẽ không xem xét các hình thức
cộng đồng tham gia quản lý cao đòi hỏi phạm vi địa lý của nghiên cứu rộng hơn. Do
đó, cấp độ đối tác và chủ trì không được đưa vào mô hình nghiên cứu.
Như đã trình bày trong chương 2, dựa vào nghiên cứu của Nguyễn Việt Dũng
Cộng đồng
sử dụng
nước
hành vi
dự kiến
• Tham gia các buổi họp người dân (cấp độ thông báo)
• Đóng góp ý kiến trong các buổi họp lấy ý kiến và đóng góp ý kiến qua các
kênh khác (cấp độ tham vấn)
• Đóng góp công sức, tài chính để góp phần bảo vệ tài nguyên nước hồ (cấp
độ cùng thực hiện)
• Cử đại diện cùng tham gia quản lý hồ Thác Bà (cấp độ cùng thực hiện)
Mô hình xác định các nhân tố tác động đến hành vi tham gia quản lý
Phân tích kết quả
1. Đánh giá khó khăn, thuận lợi khi cộng đồng tham
gia quản lý tài nguyên nước
2. Phân tích các yếu tố tác động lên hành vi tham gia của
cộng đồng
Từ lý thuyết TPB và tổng quan các nghiên cứu trước đó, nghiên cứu này giả
định hành vi tham gia quản lý của cộng đồng phụ thuộc các biến TPB gồm thái độ,
chuẩn mực chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi và đặc điểm kinh tế xã hội cũng như
nhận thức về giá trị của tài nguyên nước.
Mối quan hệ giữa các biến được thể hiện qua mô hình sau:
Đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia
của cộng đồng trong quản lý tài nguyên
nước hồ Thác Bà
DKHVTG = β1 x TĐ + β2 x CMCQ + β3 x NTKSHV + β4 x honuocmay + β5 x
hovenho +β6 x hothuysan + β7 x tuoi + β8 x Dantoc + β9 x TĐHV + β10 x QMH + β11 x
thunhap + βi x giatrii