Qư NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát
triển đáng kể. Cùng với sự hội nhập nền kinh tế thế giới tạo điều kiện thuận lợi
cho nền kinh tế quốc nội vươn lên phát triển không ngừng, thu hút nhiều
nguồn vốn đầu tư trong nước và ngoài nước, tạo môi trường phát triển thuận
lợi cho hàng trăm doanh nghiệp trên khắp tất cả các tỉnh thành trên cả nước.
Tuy nhiên bên cạnh những tích cực trong việc phát triển kinh tế, tại nhiều tỉnh
thành cũng phát sinh nhiều vấn đề đáng quan tâm tại nhiều Doanh nghiệp đóng
trên địa bàn như vấn đề thực hiện Pháp luật An toàn, vệ sinh lao động, pháp
luật lao động…và đặc biệt là vấn đề thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội tại các
Doanh nghiệp ở nhiều các tỉnh thành.
Ở tỉnh Hòa Bình, một trong những tỉnh thành có nguồn vốn đầu tư lớn thì
tình trạng nhiều Doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng pháp luật Bảo hiểm xã hội
cũng là vấn đề nhức nhối đối với nhiều cơ quan quản lí. Để việc quản lí về vấn
đề thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội các Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa
Bình hiện nay một cách có hiệu quả thì cần phải có những biện pháp nhằm phát
hiện kịp thời, sử lý nghiêm những vi phạm, đảm bảo lợi ích của nhiều bên liên
quan trong quan hệ lao động. Trước thực tế còn nhiều điểm bất cập và với
mong muốn tìm hiểu rõ hơn về tình trạng vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội
của các Doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, em đã lựa chọn đề tài:
“Thực trạng công tác thanh tra về việc thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội
của các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI) đóng
trên địa bàn tỉnh Hòa Bình” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Trong quá trình làm, em không tránh khỏi những sai sót, em mong thầy cô
góp ý để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn. Em cảm ơn cô Lưu Thu
Hường đã hướng dẫn em hoàn thành bài tiểu luận này.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA LAO ĐỘNG
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm Thanh tra lao động
động, Thương binh và Xã hội (gọi tắt là Thanh tra Bộ) là cơ quan thuộc Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội, có chức năng giúp Bộ trưởng thực hiện các quy
định của pháp luật về công tác thanh tra; tiến hành thanh tra hành chính đối
với cơ quan, tổ chức và cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Bộ; tiến hành thanh
tra chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong ngành, lĩnh
vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; phòng, chống tham nhũng; tiếp
công dân, xử lý đơn, thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp
luật.
1.2.2 Nhiệm vụ
Nhiệm vụ chủ yếu của thanh tra lao động được quy định tại Điều 237
chương XVI. Luật lao động:
- Thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật về lao động;
- Điều tra tai nạn lao động và những vi phạm an toàn lao động, vệ sinh lao
động;
- Tham gia hướng dẫn áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về
điều kiện lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động theo quy định của pháp luật;
- Xử lý theo thẩm quyền và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các
vi phạm pháp luật về lao động.
1.2.3 Quyền hạn
Theo Điều 238 Luật lao động, thanh tra lao động có các quyền hạn sau:
- Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Thanh tra Sở Lao động Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về lao
động.
- Việc thanh tra an toàn lao động, vệ sinh lao động trong các lĩnh vực:
phóng xạ, thăm dò, khai thác dầu khí, các phương tiện vận tải đường sắt,
đường thuỷ, đường bộ, đường hàng không và các đơn vị thuộc lực lượng vũ
trang do các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực đó thực hiện với sự phối hợp
của thanh tra chuyên ngành về lao động.
- Tổng cục Dạy nghề;
- Cục Quản lý Lao động ngoài nước.
1.6 Hình thức hoạt động Thanh tra lao động
Theo điều 37 Luật Thanh tra 2010
- Hoạt động thanh tra được thực hiện theo kế hoạch, thanh tra thường
xuyên hoặc thanh tra đột xuất.
- Thanh tra theo kế hoạch được tiến hành theo kế hoạch đã được phê
duyệt.
- Thanh tra thường xuyên được tiến hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ
của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành.
- Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá
nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo, phòng, chống tham nhũng hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền giao.
1.7 Phương thức Thanh tra lao động
Công tác thanh tra lao động tiền hành bằng phương thức thanh tra viên
phụ trách vùng thông qua phiếu tự kiểm tra (Quyết định số 01/2006/QĐBLĐTBXH ngày 16 tháng 02 năm 2006 về việc ban hành quy chế hoạt động
thanh tra nhà nước về lao động theo phương thức thanh tra viên phụ trách
vùng, Quyết định 02/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày 16 tháng 02 năm 2006 của Bộ
LĐTBXH về việc ban hành quy chế sử dụng phiếu tự kiểm tra thực hiện pháp
luật lao động).
1.8 Nội dung Thanh tra lao động
Thanh tra lao động chịu trách nhiệm thanh tra các tổ chức, doanh nghiệp về
lĩnh vực lao động, bao gồm các nội dung sau:
- Thanh tra về thực hiện pháp luật lao động;
- Thanh tra về tiền lương;
- Thanh tra về bảo hiểm xã hội;
- Thanh tra về an toàn, vệ sinh lao động;
người Thái, người Dao, người Tày, người Mông, ngoài ra còn có người Hoa sống
rải rác ở các địa phương trong tỉnh.Và còn có một số người thuộc các dân tộc
khác chủ yếu do kết hôn với người Hòa Bình công tác ở các tỉnh miền núi khác.
Như vậy với sự đa dạng về sắc tộc như vậy và đặc biệt gần với đồng bằng
Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội chỉ khoảng từ 80 tới 100 km, kết hợp với các điều
kiện kinh tế, địa hình, phong cảnh của tỉnh; thì đây là tiềm năng lớn để phát
triển kinh tế và du lịch, đời sống nhân dân dần ổn định và không ngừng nâng
cao chât lượng cuộc sống vì thế đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội cũng được
mở rộng hơn
2.1.2 Giới thiệu chung về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(doanh nghiệp FDI) đóng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Toàn tỉnh hiện có 32 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn hiệu lực.
Đến nay đã có 24 dự án đi vào hoạt động sản xuất - kinh doanh, vốn thực hiện
khoảng 250 triệu USD, chiếm 53,4% tổng vốn đăng ký, đạt mức trung bình của
cả nước. Các doanh nghiệp FDI chủ yếu là doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc
hoạt động trong lĩnh vực lắp ráp linh kiện điện tử và may mặc, triển khai dự án
tập trung tại KCN Lương Sơn, bờ trái sông Đà, đóng góp tích cực vào doanh thu
và giá trị xuất khẩu của tỉnh, giải quyết việc làm cho lao động địa phương.
Hiện nay, việc thực hiện đóng Bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp FDI
tỉnh Hòa Bình đang phát triển theo hướng tích cực. Để dễ quan sát hơn, ta có
thể xem Phụ lục 1 và Phụ lục 2. Từ bảng số liệu, tình hình thu nộp BHXH tỉnh
Hòa Bình của các doanh nghiệp FDI, giai đoạn 2014-2016 luôn đạt tỷ lệ cao và
tăng dần qua các năm, cụ thể năm 2014 tỷ lệ thu nộp BHXH của các doanh
nghiệp FDI là 94,61%, năm 2015 tăng lên 97,36% và năm gần nhất 2016 là
97,43%. Bên cạnh đó số lao động trong các doanh nghiệp FDI tham gia BHXH
luôn đứng thứ 2 về số Lao động tham gia BHXH, cụ thể năm 2014 là 9.154
người đến năm 2016 là 13.902 người. Từ đó, ta có thể thấy các doanh nghiệp
FDI đóng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình chấp hành khá tốt việc thực hiện pháp luật
biết nhất định liên quan đến những chuyên ngành về lao động. Tuy nhiên hiện
nay, chất lượng của đội ngũ thanh tra viên lao động còn chưa được đồng đều. Cả
5 thanh tra lao động của tỉnh đều tốt nghiệp tại các trường đại học như đại học
Luật, học viện hành chính quốc gia. Những trường đó, chỉ được đào tạo về
chuyên ngành thanh tra mà không được đào tạo về những lĩnh vực có liên quan.
Khi được hỏi về những văn bản, nghị định, quyết định mới của nhà nước đến
lĩnh vực tiền lương thì cả 5 thanh tra viên lao động trên đều không trả lời được.
Họ không chú trọng việc cập nhật những văn bản, thông tư mới để áp dụng vào
thực tiễn.
2.2.4 Hình thức Thanh tra
Hoạt động thanh tra tại tỉnh Hòa Bình thường sử dụng một số hình thức:
Thanh tra theo kế hoạch do Giám đốc Sở lao động – thương binh và xã hội tỉnh
ra quyết định Thanh Tra và thanh tra đột xuất do phát hiện sai phạm tại các
doanh nghiệp.
2.2.5 Phương thức Thanh tra
Cũng như thanh tra nói chung, thanh tra lao động Hòa Bình thực hiện thanh
tra theo phương thức thanh tra viên phụ trách vùng. Theo đó, thanh tra viên phụ
trách vùng sẽ có những nhiệm vụ và quyền hạn được quy định trong điều 4
quyết định số 01/2006/QĐ-BLĐTBXH là theo dõi tình hình thực hiện pháp luật
lao động tại các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân sử dụng lao động
theo hợp đồng lao động thuộc vùng được giao phụ trách, đặc biệt là các doanh
nghiệp có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, ngành nghề nặng nhọc, độc hại, nguy
hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm để đề xuất kế hoạch thanh tra,
phương pháp thanh tra thích hợp trình Chánh thanh tra Bộ quyết định.
2.2.6 Nội dung Thanh tra lao động về Bảo hiểm xã hội
Một số nội dung mà thanh tra lao động về bảo hiểm xã hội của tỉnh Hòa
Bình đã tiến hành thanh tra như sau:
- Các hành vi vi phạm pháp luật về đóng bảo hiểm xã hội: không đóng,
Tính đến hết năm 2016, toàn tỉnh hiện có 32 dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài còn hiệu lực, nhưng theo thống kê của cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh chỉ
có 23 doanh nghiệp tham gia đóng BHXH cho người lao động. Trong số 23
doanh nghiệp tham gia đóng BHXH có 4 đơn vị đóng không đúng, không đủ và
nợ đọng tiền BHXH của người lao động trong thời gian dài với tổng số tiền hơn
3 tỷ đồng. Việc các doanh nghiệp trốn, nợ đọng BHXH của người lao động đã
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động.
Đã có khá nhiều lao động bị mất quyền được hưởng (hoặc chậm được hưởng)
các chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động... Do chủ sử dụng lao động trốn
đóng BHXH cho họ.
Hầu hết các DN đều có đông công nhân, lao động làm việc nên số tiền
đóng BHXH được trích từ 7% mức lương đóng BHXH của người lao động, do
đó có doanh nghiệp chiếm dụng số tiền đóng BHXH cho người lao động lên tới
hàng chục, hàng trăm triệu đồng/tháng để đầu tư sản xuất, kinh doanh, sinh lợi
nhuận – trong bối cảnh nguồn vốn vay bị hạn chế. Nếu bị ngành BHXH nhắc
nhở thì DN khất lần, trì hoãn, thậm chí đối phó bằng nhiều hình thức khác nhau.
Có một số DN, sau khi người lao động đòi quyền lợi được hưởng chế độ tham
gia đóng BHXH, giới chủ doanh nghiệp có giải quyết đóng BHXH cho người
lao động nhưng chỉ đóng một phần nhỏ trên tổng số tiền phải đóng. Sau đó một
thời gian doanh nghiệp lại tiếp tục quay lại hành động trốn, nợ động BHXH.
Theo như những kết luận của công tác thanh tra tỉnh Hòa Bình, những năm
gần đây, với sự quan tâm của Chính Phủ, công tác thanh tra tại tỉnh Hòa Bình đã
đạt được nhiều thành tích đáng kể. Đội ngũ cán bộ thanh tra về BHXH đã quan
tâm, theo dõi, thanh tra tình hình thực hiện BHXH của các doang nghiệp FDI.
Nội dung thanh tra đã đi vào trọng tâm, trọng điểm, kết quả và hiệu quả lớn hơn,
phòng ngừa và xử lý được nhiều vi phạm hơn trước. Đặc biệt, với sự chỉ đạo của
ban ngành cấp trên, lực lượng thanh tra lao động tỉnh đang ngày càng được nâng
cao về chất lượng góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng thanh tra.
người lao động, chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt của mình. Bên cạnh đó, quy
định hiện hành về việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH còn
bất hợp lý, chưa phù hợp. Hơn thế nữa, chế tài xử phạt hành chính đối với các
doanh nghiệp vi phạm BHXH lại quá nhẹ, theo Nghị định 86/2010/NĐ - CP của
Chính phủ quy định: Những doanh nghiệp nợ đọng BHXH quá hạn, trốn đóng
BHXH thì mức phạt tối đa là 30 triệu đồng. Chính vì vậy, doanh nghiệp sẵn sàng
chịu phạt ở mức cao nhất và trả lãi suất nợ BHXH thay vì nộp tiền bảo hiểm
đúng hạn cho người lao động.
Ngoài ra, cơ chế xử phạt như hiện nay không đảm bảo tính nghiêm minh,
kịp thời, phụ thuộc vào các cơ quan chức năng khác, cũng như sự quan tâm của
chính quyền địa phương. Công tác quản lý Nhà nước về BHXH ở địa phương
còn nhiều hạn chế, bất cập như việc quản lý lao động trên địa bàn chưa đầy đủ,
chặt chẽ; việc thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng chưa thường xuyên.
Theo BHXH Việt Nam, cái khó nhất của ngành bảo hiểm là không có thẩm
quyền xử phạt mà chỉ có quyền phát hiện. Thủ tục xử phạt hay khởi kiện một
đơn vị nợ đọng tiền đóng BHXH còn rất nhiều khó khăn, phức tạp. Vì vậy trong
thực tế, số đơn vị vi phạm nhiều, nhưng số vụ việc được xử lý còn quá ít và
chậm chễ. Do đó, để hạn chế những bất cập trên trong việc thu hồi nợ đọng tiền
đóng theo luật định, việc sửa đổi các quy định hiện hành về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực BHXH theo hướng nâng cao mức phạt, quy định mức
lãi suất chậm đóng BHXH linh hoạt, tối thiểu cũng bằng lãi suất tiền vay quá
hạn của các ngân hàng thương mại quy định tại từng thời điểm tính lãi là rất cần
thiết. Bên cạnh đó phải xác định rõ trách nhiệm của chính quyền các cấp, của
các bộ, ngành liên quan, tổ chức công đoàn trong việc thực hiện Luật BHXH; và
giao cho BHXH Việt Nam có thẩm quyền thanh tra và xử phạt các doanh
nghiệp, đơn vị nợ đọng tiền đóng BHXH.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THANH TRA TẠI CÁC DOANH NGHIỆP FDI
lao động để đăng ký với Sở Lao động-TB&XH.
3.2 Đối với Thanh tra tỉnh Hòa Bình
Trong tình trạng ngày càng nhiều doanh nghiệp mới mọc lên với những vi
phạm về vấn đề lao động có xu hướng tăng lên về số lượng cũng như mức độ
tinh vi thì với 5 thanh tra viên chuyên ngành lao động không thể đáp ứng với
yêu cầu đó. Thanh tra lao động tỉnh Hòa Bình nên có những kiến nghị lên cơ
quan cấp trên (Sở lao động thương binh xã hội, UBND Tỉnh Hòa Bình hoặc
Thanh tra Chính phủ) về vấn đề bổ sung lực lượng cho thanh tra lao động. Đồng
thời cũng yêu cầu những nhân lực mới bổ sung cần có những kiến thức chuyên
môn cả về thanh tra và các chuyên ngành liên quan đến lao động khác (như bảo
hiểm xã hội, tiền lương,…), các thanh tra viên mới cũng cần nhanh nhạy trong
việc cập nhật các văn bản, quyết định, thông tư mới liên quan đến những lĩnh
vực phụ trách.
Bên cạnh bổ sung lực lượng tức là tăng về số lượng thanh tra thì về mặt
chất lượng của thanh tra viên cũng cần được quan tâm hơn nữa. Thanh tra
chuyên ngành lao động cần có những kiến thức, kỹ năng của một thanh tra, song
song với những kiến thức chuyên ngành lao động. Qua đó, những kiến thức, kỹ
năng được nâng cao, góp phần đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của
thanh tra lao động.
Ứng dụng công nghệ thông tin, sử dung các thiết bị tiên tiến trong công
việc thanh tra giúp thanh tra viên có thể xử lý nhanh chóng, kịp thời các nghiệp
vụ trong công tác Thanh tra, sử dụng hiệu quả lực lượng thanh tra hiện có.
3.3 Đối với người lao động
Người lao động cần mạnh dạn đưa tố cáo các doanh nghiệp có sai phạm.
Từ đó giúp các cơ quan nhà nước có thể kịp thời tăng cường công tác thanh tra,
bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động
Học tập, tìm hiểu các quy định của pháp luật về quyển và lợi ích của mình
để có thể ứng phó khi các quyền lợi của mình bị xâm phạm.
luật lao động
9. Quyết định số 43/2014/QĐ-UBND ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Ủy
ban nhân dân tỉnh Hòa Bình, về việc ban hành Quy định, vị trí, chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Tỉnh Hòa Bình.
10.Trang web Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Được lấy về từ
https://vi.wikipedia.org/wiki
11. Tình hình thực hiện BHXH tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2014-2016. Được lấy
về từ https://123doc.org/document/4432882-tinh-hinh-thuc-hien-bhxh-tinhhoa-binh-giai-doan-20142016.htm
12. Trang Thông tin điện tử Thanh tra Tỉnh Hòa Bình. Được lấy về từ
https://thanhtra.hoabinh.gov.vn/vanbanphapquy/-/vlegalcontent/Cj3d/0/3308
240/0
13.
Trang
Tổng
cục
Thống
Kê.
https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=714
Được
lấy
về
từ
14. Doanh nghiệp FDI hoạt động khởi sắc . Được lấy về từ
http://www.baohoabinh.com.vn/12/101837/Doanh_nghiep_FDI_hoat_dong_k
hoi_sac.htm
72,
34
117.
631
91.05
2
DN có vốn đầu tư
nước ngoài
59.2
37
56.04
6
94,
61
105.
737
118.
694
388.
185
6.63
Hợp tác xã
Phường xã, thị trấn
6.525
1.404
37.17
9
6
10
0,1
98,
33
87,
37
99,
2
Số
phải thu
Số đã
thu
Năm 2016
T
Số phải
thu
91.63
2
403.7
18
7
1,28
1
00,1
8
9,19
8
9,23
1
00,2
139.61
8
435.27
2
100
.867
424
.180
1.4
07
1.4
05
T
Hộ SXKD cá thể, tổ
chức khác
Tổng
3.37
5
3.094
91,
67
4.07
3
3.668
9
0,06
4.721
4.1
96
8
8,88
Phụ lục 2. Tình tình tham gia BHXH bắt buộc phân theo khối ngành tỉnh
Hòa Bình giai đoạn 2014 – 2016
Chỉ tiêu
Khối ngành
Năm 2014
Số
người
(Người)
Số
đơn vị
(Đơn vị)
Năm 2015
Số
người
(Người)
Số
người
(Người)
DN có vốn đầu
tư nước ngoài
DN ngoài quốc
doanh
HCSN, Đảng và
14
210
4.21
5
210
4.22
0
210
481
170
478
175
497
180
61.
826
2.25
5
6.40
0
13.9
02
10.2
31
31.6
72
Số
đơn vị
(Đơn vị)
7.5
25
9.1
54
8.4
11
31.
009
DN nhà nước
6.82
5
12.5
07