Lời cảm ơn
Xin chân thành cảm ơn thầy Hồ Văn Phú - giáo viên hớng dẫn - ngời cung
cấp những thông tin quý báu và đã tận tình giúp đỡ em thực hiện đề tài.
Cám ơn các cô, chú, anh, chị trong TAND huyện Thanh Trì, gia đình, bạn bè
cùng các thầy cô giáo, cán bộ giảng dạy khoa luật kinh tế - Đại học dân lập Phơng
Đông đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Do hạn chế nhất định của ngời viết về hiểu biết và trình độ, lại phải xử lý một
khối lợng thông tin có liên quan. Mặc dù đã đợc hoàn thành song chuyên đề này khó
tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế trong việc đặt và giải quyết vấn đề. Vì vậy ngời
viết mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn.
Lời Nói Đầu
Xu hớng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới là một trong những xu hớng
vận động chủ yếu trong đời sống. Với xu hớng này thì việc hội nhập và mở
cửa nền kinh tế quốc gia trở thành điều kiện bắt buộc của sự phát triển.
Sự vận động của xu hớng này dẫn đến việc đan xen về kinh tế giữa các
quốc gia này với quốc gia khác ngày càng chặt chẽ. Đồng thời nó cũng tạo
nên sự hình thành của các khối kinh tế theo khu vực với quy mô ngày càng
lớn. Nh các tổ chức kinh tế: WTO; OECO; NAFTA; SELA; APEC...
Chính sách mở cửa nền kinh tế của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tạo ra
bớc chuyển biến quan trọng trong sự phát triển kinh tế, góp phần đa đất nớc
ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và bớc vào thời kỳ phát triển mới. Một
trong những nhân tố quan trọng tạo ra sự chuyển biến tích cực đó là việc hợp
đồng hợp tác kinh doanh với nớc ngoài đã tạo cho Việt Nam một nguồn vốn
đáng kể.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh ở nhiều quốc gia đã đợc xem nh một
chìa khoá vàng của sự tăng trởng kinh tế. Thông qua hình thức hợp đồng
hợp tác kinh doanh với nớc ngoài thì các nớc kém phát triển có thể tiếp nhận
đợc vốn, công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, tiếp thu đợc kinh nghiệm quản lý
tốt, tìm kiếm đợc thị trờng bên ngoài.
Từ những đánh giá và nhận thức tình hình trên ta thấy là nhu cầu về
vốn ở mỗi quốc gia đặc biệt là các nớc đang phát triển trong đó có Việt Nam
mọi mặt. Trong thời kỳ này thế giới đợc phân chia thành hai phe: phe xã hội
chủ nghĩa và phe t bản chủ nghĩa. Hai phe này mâu thuẫn rất gay gắt và là kẻ
thù của nhau nên không có một mối quan hệ gì dù là nhỏ nhất. Thời kỳ này
nớc ta chỉ dựa vào các nớc xã hội chủ nghĩa, do đó các quan hệ kinh tế của n-
ớc ta chỉ hạn hẹp trong quan hệ với các nớc này (xã hội chủ nghĩa).
Bên cạnh tình hình đó thì Nhà nớc ta tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã
hội trên cả ba lĩnh vực kinh tế, chính trị, t tởng. Nhà nớc vận hành theo cơ
chế tập trung quan liêu bao cấp và can thiệp rất sâu vào các hoạt động kinh
tế.
Trong bối cảnh nh vậy Nhà nớc đã nhìn nhận ra vấn đề thu hút nguồn
vốn đầu t nớc ngoài là việc cần thiết. Vì vậy Điều lệ đầu t nớc ngoài năm
1977 ra đời nhng chủ yếu là kêu gọi sự đầu t của những nớc xã hội chủ nghĩa
đồng thời những điều khoản thi hành đã làm khó dễ cho các nhà đầu t t bản
chủ nghĩa.
Thời kỳ này hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh chỉ là hình thức
cùng sản xuất, chia sản phẩm, bên nào có vốn nhiều thì sản phẩm nhiều, lĩnh
vực đầu t trong thời gian này chỉ quy định bó hẹp trong các thể nhân và pháp
nhân nớc ngoài với tổ chức kinh tế quốc doanh Việt Nam. Các tổ chức thành
phần kinh tế khác ngoài quốc doanh không đợc coi là chủ thể.
Để hiểu rõ đợc nội dung của hình thức hợp tác thì theo điều 6 điều lệ
về đầu t nớc ngoài ở Việt Nam quy định về hình thức hợp tác chia sản phẩm
nh sau:
4
Hình thức hợp tác sản xuất chia sản phẩm giữa bên Việt Nam và bên
nớc ngoài đợc thực hiện theo những điều kiện sau đây:
1. Bên nớc ngoài bỏ vốn và trang bị kỹ thuật để xây dựng một chơng
trình hợp tác kinh tế mà các bên thoả thuận.
2. Những trang bị, vật t, kỹ thuật, quyền sở hữu công nghiệp và những
vốn khác do bên nớc ngoài đa vào Việt Nam, đợc các bên đánh giá cụ thể để
ghi vào phần bỏ vốn của bên nớc ngoài.
ở Việt Nam đánh dấu một bớc chuyển biến về chất trong t duy hoạch định
chính sách khai thác các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho sự phát triển kinh
tế đất nớc trong điều kiện xu hớng quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra
sâu rộng và cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang tạo ra sự thay
đổi vợt bậc trong cơ sở vật chất của nền kinh tế thế giới.
Từ những đánh giá và nhận định tình hình phát triển kinh tế từ Đại hội
VI của Đảng với chính sách đổi mới t duy nói chung và t duy kinh tế nói
riêng đã thực sự phản ánh nhu cầu phát triển khách quan của xã hội. Một
trong những bớc chuyển biến lớn trong định hớng mới kinh tế, thể chế hoá đ-
ờng lối của Đại hội VI là việc ban hành luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam
năm 1987 và qua quá trình phát triển của nền kinh tế để phù hợp với tiến
trình thu hút vốn đầu t luật đầu t đã đợc bổ sung sửa đổi vào những năm 1990
và 1992.
Trải qua hai Đại hội chính sách đổi mới kinh tế tiếp tục đợc khẳng
định. Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII, khẳng
định tiếp tục đổi mới kinh tế trên cơ sở giữ vững nguyên tắc định hớng xã hội
chủ nghĩa, tăng cờng hiệu lực và vai trò quản lý Nhà nớc, tăng cờng sự lãnh
đạo của Đảng nói chung và cải thiện môi trờng đầu t và nâng cao năng lực
quản lý để thu hút có hiệu quả vốn đầu t trực tiếp của nớc ngoài.
Sau 9 năm thi hành, luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam về cơ bản đã tạo
nên một khuôn khổ pháp lý phù hợp với đờng lối quan điểm của Đảng về
kinh tế đối ngoại với những cơ sở pháp lý đã hình thành, chúng ta phát huy đ-
ợc những mặt tích cực của hợp tác với nớc ngoài nhằm góp phần tăng vốn
đầu t.
Mặc dù vậy, luật đầu t nớc ngoài 1987 với hai lần sửa đổi, bổ sung vẫn
tồn tại những hạn chế nhất định trong quá trình hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Luật còn một số quy định chung chung, tạo sự giải thích và vận dụng khác
nhau đối với các cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền hoặc phải dựa vào văn bản
pháp lý dới luật với tính ổn định cha cao để vận dụng.
Chính vì những lý do trên, việc ban hành luật đầu t nớc ngoài năm
2. So sánh hợp đồng hợp tác kinh doanh với các hình thức khác:
- Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kế giữa hai bên
hoặc nhiều Bên (sau đây gọi là các bên hợp doanh) quy định trách nhiệm và
7
phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu t kinh doanh ở
Việt Nam mà không thành lập pháp nhân.
- Với hình thức doanh nghiệp liên doanh.
+ Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều
bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp
định ký giữa chính phủ nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chính
phủ nớc ngoài hoặc là doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài hợp tác với
doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà
đầu t nớc ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Hai hình thức này có sự khác nhau:
+ Thứ nhất: Doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân của nớc sở tại,
còn hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng mặc dù là sự hợp tác
của các bên có quốc tịch khác nhau trên cơ sở cùng góp vốn, cùng tham gia
quản lý, cùng phân phối, lợi nhuận và cùng chia sẻ rủi ro nhng không phải là
một pháp nhân của nớc sở tại.
+ Thứ hai: Các cam kết trong doanh nghiệp liên doanh chặt chẽ hơn cả
về mặt kinh doanh lẫn về mặt pháp lý, còn trong hợp tác kinh doanh trên cơ
sở hợp đồng các bên thoả thuận với nhau mềm dẻo hơn do các bên tham gia
vẫn giữ nguyên t cách pháp lý của mình.
+ Thứ ba: Doanh nghiệp liên doanh là một mối liên kết lâu dài giữa
các bên để cùng thực hiện các hoạt động kinh doanh với thời hạn kéo dài
hàng chục năm (thờng từ 15 đến 30 năm, cá biệt có trờng hợp từ 60 - 70
năm), còn hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng là một mối quan hệ bạn
hàng ngắn hạn diễn ra có tính chất tức thời và thời hạn chỉ khoảng vài tháng
đến vài năm để thực hiện các hoạt động kinh doanh đơn lẻ, nhỏ hẹp.
+ Thứ t : Các doanh nghiệp liên doanh thờng có quy mô của hình thức
hợp doanh không phải là pháp nhân.
* Hợp đồng hợp tác kinh doanh với hợp đồng xây dựng - chuyển giao
kinh doanh (BTO)
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh là văn bản ký kết
giữa cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu t nớc ngoài
để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu t nớc
ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nớc Việt Nam, chính phủ Việt Nam
dành cho nhà đầu t quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất
định để thu hồi vốn đầu t và lợi nhuận hợp lý.
* Hợp đồng xây dựng chuyển giao (BT) là văn bản ký kết giữa cơ
quan Nhà nớc có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu t nớc ngoài để xây
dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu t chuyển
giao công trình đó cho Nhà nớc Việt Nam, chính phủ Việt Nam tạo điều kiện
cho nhà đầu t nớc ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu t và lợi
nhuận hợp lý.
9
Chơng II
Nội dung pháp lý cơ bản về hợp đồng hợp tác kinh doanh.
I - Sự hình thành hợp đồng và việc xin cấp giấy phép đầu t.
1. Sự hình thành hợp đồng:
Quá trình hình thành hợp đồng hợp tác kinh doanh là cả một giai đoạn
tìm kiếm, nghiên cứu, tiếp cận thị trờng... Nhng để đi đến ký kết một hợp
đồng thì phải thông qua quá trình giao dịch, thơng lợng với nhau về các điều
kiện giao dịch.
Từ những điều kiện sau khi xem xét, đánh giá tình hình chủ đầu t mới
đi đến quyết định đàm phán và ký kết hợp đồng.
* Đàm phán và ký kết:
a. Đàm phán là cuộc đối thoại giữa hai hay nhiều bên (bên có thể là cá
nhân, nhóm ngời, đơn vị kinh doanh, quốc gia hay nhiều quốc gia...) Trong
cuộc đối thoại thì mỗi bên có quyết định khác nhau về những vấn đề mà họ
- Văn bản hợp đồng thờng do một bên dự thảo. Trớc khi ký kết bên kia
xem xét lại kỹ lỡng, cẩn thận đối chiếu với những thoả thuận đã đạt đợc trong
đàm phán, tránh việc đối phơng có thể thêm vào hợp đồng một cách khéo léo
những điểm cha thoả thuận và bỏ qua không ghi vào những điều đã thống
nhất.
- Hợp đồng cần đợc trình bày rõ ràng, sáng sủa, cách trình bày phản
ánh đúng nội dung đã thoả thuận, không để tình trạng mập mờ, có thể suy
luận ra nhiều cách.
- Hợp đồng nên đề cập đến mọi vấn đề, tránh việc phải áp dụng tập
quán để giải quyết những điểm hai bên không đề cập đến.
- Những điều khoản trogn hợp đồng phải xuất phát từ những đặc điểm
của hoàn cảnh tự nhiên, xã hội, ...
- Trong hợp đồng không đợc có những điều khoản trái với luật lệ hiện hành.
- Ngời đứng ra ký kết hợp đồng phải đúng là ngời có thẩm quyền ký kết.
- Ngôn ngữ dùng để xây dựng hợp đồng nên là thứ ngôn ngữ mà hai
bên cùng thông thạo.
Khi đã đầy đủ thủ tục thì hai bên sẽ đi đến ký kết hợp đồng. Hợp đồng
phải có chữ ký của cả hai bên.
Sau khi ký kết hai bên sẽ làm thủ tục xin cấp giấy phép đầu t.
c. Thủ tục xin cấp giấy phép đầu t:
Các bên hợp doanh khi làm thủ tục xin cấp giấy phép đầu t phải có đầy
đủ các giấy tờ sau:
1. Đơn xin cấp giấy phép đầu t.
2. Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
11