1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay với sự phát triển của kinh tế xã hội, nhu cầu chăm sóc sức
khỏe của nhân dân ngày càng cao, người dân ngày càng đòi hỏi các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Để đáp ứng được những nhu cầu chăm sóc sức
khỏe người dân, phát triển nguồn nhân lực y tế đủ về số lượng và đảm bảo về
trình độ chuyên môn là rất cần thiết.
Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, đội ngũ nhân lực y tế của Việt
Nam đã lớn mạnh. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đã tiến được một
bước dài để hướng tới việc phục vụ nhân dân với số lượng nhiều hơn và chất
lượng cao hơn, hiệu quả hơn và công bằng hơn. Các chỉ số sức khỏe nhân dân
ngày càng được cải thiện rõ rệt [1]. Tuy nhiên, với sức ép của gia tăng dân số,
sự thay đổi của mô hình bệnh tật theo chiều hướng ngày càng phức tạp, khó
lường, sự tiến bộ không ngừng của khoa học công nghệ….. Ngành y tế nước
ta đang đối mặt với tình trạng thiếu trầm trọng bác sỹ ở một số chuyên ngành
và mất mất cân đối nguồn nhân lực y tế theo khu vực địa lý, theo tuyến [2].
Sinh viên Y khoa là nguồn nhân lực y tế trong tương lai, đóng vai trò
quan trọng cho sự phát triển của ngành y tế đất nước. Hàng năm nước ta đào
tạo khoảng 42000 cán bộ y tế các loại, trong đó các bậc học được đào tạo
trong hệ dân sự: khoảng 3200 sau đại học, 6200 đại học/cử nhân [2]. Theo số
liệu của Vụ Khoa học và Đào tạo, số sinh viên đại học là bác sỹ đã tốt nghiệp
và đang học dự kiến sẽ ra trường tăng đáng kể qua các năm [3]. Một thực
trạng đã và đang xảy ra là những năm gần đây, một bộ phận sinh viên sau khi
tốt nghiệp Đại học Y khoa chưa được sử dụng tốt, làm việc trái nghề đào tạo
hoặc chưa tìm được việc làm trong thời gian dài [4]. Điều này dẫn đến tình
trạng lãng phí nguồn nhân lực trong khi nhu cầu của các cơ sở tuyển dụng là
không nhỏ, đặc biệt là ở tuyến y tế cơ sở và các vùng khó khăn [4]. Vì vậy,
2
được tương lai” [6].
Xét về tốc độ phát triển, số bác sỹ (BS) trên 10000 dân tại Việt Nam có
xu hướng tăng dần đều, các số liệu cho thấy trong những năm gần đây số
lượng BS tăng đáng kể. Số lượng nhân lực y tế tiếp tục được cải thiện.
8
7.46
7.1 7.1 7.33
7
Bác sỹ /10 000 dân
6
5
4.3 4.4 4.4 4.5
4.8
5
5.2
5.6 5.8
6.4 6.6
6.1 6.2 6.3
4
độ ở bậc sau đại học, hệ thống đào tạo được mở rộng và nâng cao chất lượng,
nhiều chính sách được ban hành nhằm nâng cao chất lượng nhân lực y tế [2].
Tuy nhiên chất lượng đào tạo tăng chưa tương xứng với trình độ phát triển
của kỹ thuật và nhu cầu chất lượng chăm sóc của cộng đồng đang tăng
nhanh. Tình trạng các BS mới ra trường chưa có kỹ năng thực hành tốt là
tương đối phổ biến [13]. Chương trình đào tạo y khoa hiện tại được đánh giá
là thiếu thực hành chuyên môn, đặc biệt là về lâm sàng và thực hành cộng
đồng. BS mới ra trường chưa có khả năng thực hiện công việc một cách độc
lập, cần phải có sự kèm cặp nhiều trong công việc [2]. Theo kết quả tự đánh
giá của các cựu sinh viên sau ra trường, chỉ 45% các đối tượng cho biết có
khả năng phát hiện sớm, xử trí hợp lý ban đầu các dịch bệnh, 50,9% cho biết
có thể thực hiện được một số thủ thuật, kỹ thuật y khoa đơn giản, chỉ 37,6%
cho biết có khả năng thực hiện việc theo dõi và quản lý bệnh nhân mạn tính
tại cộng đồng [15].
5
1.2. Sự chuẩn bị cho định hướng việc làm của sinh viên
Theo nghiên cứu về thực trạng việc làm và khảo sát về việc làm của sinh
viên sau tốt nghiệp trường đại học kinh tế Thành phố Hồ chỉ Minh đã nêu các
yếu tố sinh viên nên trang bị khi còn ngồi trên ghế nhà trường đó là: kỹ năng
cứng và kỹ năng mềm [16].
Kỹ năng cứng – là khả năng học vấn, kinh nghiệm và sự thành thạo về
chuyên môn [17]. Đối với sinh viên Y khoa thì kiến thức chuyên môn rất
quan trọng vì y học liên quan trực tiếp đến tính mạng người bệnh, sức khỏe
của nhân dân, việc nắm chắc các kiến thức chuyên môn là thiết yếu, nó gắn
liền với công việc và là nền tảng giúp sinh viên có thể tiếp tục học tập và trau
dồi kiến thức trong quá trình phát triển nghề nghiệp của bản thân.
Kiến thức chuyên môn được xem là kỹ năng cứng hàng đầu mà sinh viên
chỉ được học tiếng Anh cơ bản với mục đích giao tiếp thông dụng mà
còn học tiếng Anh chuyên ngành theo các chuyên ngành được đào tạo. Cùng
với vốn tiếng Anh cơ bản, tiếng Anh chuyên ngành giúp sinh viên có thể đọc,
hiểu và mở rộng kiến thức chuyên ngành qua các tài liệu bằng tiếng Anh, có
được sự trang bị khá đầy đủ kiến thức cho bản thân, tạo tiền đề vững vàng cho
công việc trong tương lai, có cơ hội tìm kiếm và đạt được các học bổng du
học ưu đãi v.v… Cùng với kỹ năng tin học tốt sẽ giúp sinh viên hoàn thành
tốt công việc của bản thân và góp phần mở ra những cơ hội khác [17]. Chuẩn
đầu ra cho các chuyên ngành BS trường Đại học Y hà Nội đã đưa chuẩn về
ngoại ngữ - tin học đó là sau tốt nghiệp sinh viên có khả năng vận dụng các
kiến thức về ngoại ngữ trong giao tiếp và công việc chuyên môn. Áp dụng
được kỹ năng công nghệ thông tin trong phục vụ người bệnh và nghiên cứu
khoa học [18-20]. Chuẩn đầu ra BSĐK của khoa Y dược trường Đại học
Quốc gia Hà Nội cũng đã đưa mục tiêu cho BSĐK sau khi ra trường là trình
độ tiếng Anh B2 tương đương IELTS 5.0 và sử dụng thành thạo các phần
mềm thông dụng (STATA, EPI-INFO, SPSS…) [21].
7
Kỹ năng mềm – là thuật ngữ chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc
sống như: kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm,
giải quyết vấn đề…. là những kỹ năng có thể không được học chính thức
trong nhà trường, không liên quan đến kiến thức chuyên môn [17]. Kỹ năng
này sinh viên có được từ môi trường học tập hoặc từ sự tham gia vào các
nhóm xã hội, các câu lạc bộ, các nhóm học nghề, các hoạt động vui chơi giải
trí trong nhà trường và ngoài xã hội, các hoạt động tìm kiếm, kết nối, tìm hiểu
tiêu chí tuyển dụng của các nhà tuyển dụng. Đối với sinh viên y khoa, khi học
tập lâm sàng tại các bệnh viện và các cơ sở y tế, nhiều sinh viên do thiếu hụt
nghiêm trọng về kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp ứng xử do đó dẫn
Xu hướng về phân bổ nguồn nhân lực y tế đã và đang theo chiều hướng
không cân đối. Cán bộ y tế phần lớn có xu hướng dịch chuyển từ huyện lên
tỉnh và trung ương, từ nông thôn ra thành phố, từ miền núi về đồng bằng, từ
lĩnh vực dự phòng sang lĩnh vực điều trị, cận lâm sàng sang lâm sàng, từ
trường sang bệnh viện, từ chuyên ngành ít hấp dẫn/rủi ro sang chuyên ngành
hấp dẫn, từ công lập sang tư nhân, từ ngành y, dược sang ngành nghề khác...
Việc dịch chuyển nhân lực y tế từ y tế công sang y tế tư (các bệnh viện tư
nhân, bệnh viện vốn nước ngoài...) ngày càng phổ biến, đặc biệt là đối với
một số cán bộ y tế có trình độ chuyên môn giỏi [2].
Đối với việc lựa chọn chuyên ngành, nghiên cứu về các chuyên khoa
ưa thích của sinh viên y khoa năm cuối ở Croatia đã đưa ra kết luận rằng: có
sự khác nhau về lựa chọn các chuyên khoa của sinh viên giữa các trường y
của Croatia. Nội khoa, nhi khoa và ngoại khoa là những khoa được ưa thích
nhất trong tất cả các trường hợp [25],[26]. Theo nghiên cứu của trường Đại
học Addis Ababa về lựa chọn chuyên ngành của sinh viên Y khoa, điều tra
trên 161 sinh viên có 31,1% sinh viên lựa chọn ngoại khoa, 27,3% chọn nội
khoa, 18% chọn sản phụ khoa và 11,2% chưa chọn được chuyên ngành cho sự
nghiệp của họ [27]. Nghiên cứu 346 sinh viên y khoa từ 9 trường đại học Hoa
9
kỳ cho thấy rằng yếu tố thực dụng gắn liền với cuộc sống đã được hình thành
và ảnh hưởng tới định hướng chuyên ngành trong sinh viên hơn là những yếu
tố truyền thống trước đây như: thu nhập, uy tín và thời gian đào tạo, Đó là
sinh viên có xu hướng lựa chọn các chuyên ngành có số giờ làm việc mỗi tuần
ít hơn, có đủ thời gian và hoạt động giảng dạy, và dường như có một sự giảm
số cuộc gọi vào ban đêm như các chuyên ngành chẩn đoán hình ảnh, gây mê
hồi sức, tai-mũi-họng [28].
Tại Việt Nam, mặc dù đã có những thay đổi tích cực trong việc tăng số
phần tư dân số sống ở Croatia là ở bên ngoài Zagreb [29].
Tại Việt Nam xu hướng lựa chọn nơi làm việc của BS phần lớn là trong
các cơ sở y tế công lập nhưng lại tập trung chủ yếu ở tuyến trung ương và
tuyến tỉnh. Một nghiên cứu đã đưa ra thông tin liên quan đến tình trạng có
việc làm của các BS mới ra trường như sau: trong số 355 BS hệ chính quy ở 6
tỉnh trong nước được phỏng vấn có 85,6% BS có việc làm tại các cơ sở y tế
nhà nước, 6,7% BS làm việc tại các sơ sở y tế tư nhân; có 21% BS làm việc ở
tuyến trung ương, 47% BS làm việc ở tuyến tỉnh và 22,5% BS làm việc ở
tuyến huyện [30].
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng lựa chọn việc làm
Yếu tố ảnh hưởng tới định hướng chuyên ngành, ở các nước phát
triển như Hoa Kì và Anh có nhiều nghiên cứu về lựa chọn nghề nghiệp của
sinh viên trường Y cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn một ngành
cụ thể [31, 32]. Theo tác giả Bland và cộng sự, việc lựa chọn chuyên ngành
của sinh viên chính là mối quan hệ giữa một bên là nhận thức về chuyên
ngành mà họ xem xét lựa chọn và bên kia là những nhu cầu của cá nhân, gia
đình và xã hội [33]. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhân thức về chuyên
ngành và nhu cầu phát triển nghề nghiệp của mỗi sinh viên thể hiện thông qua
nhận thức và quan niệm của họ về giá trị nghề nghiệp và chịu ảnh hưởng của
11
một số yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn chuyên ngành của
sinh viên y khoa ở các nước phương tây. Đó là nhóm yếu tố thuộc về đặc
điểm cá nhân, đặc điểm về gia đình, các yếu tố về môi trường học tập, và các
yếu tố về môi trường xã hội.
Nhóm các đặc điểm cá nhân, nghiên cứu cho thấy một số yếu tố ảnh
hưởng đến lựa chọn chyên ngành là giới tính [32]. Tình trạng kinh tế cá nhân
cũng ảnh hưởng đến lựa chọn chuyên ngành sau khi tốt nghiệp, vai trò của gia
Hiền, Nguyễn Thị Minh Phương cũng nghiên cứu về định hướng việc làm và
khu vực làm việc của sinh viên sau khi ra trường cho kết quả tương tự nhau:
đa số sinh viên ra trường mong muốn được làm việc tại Hà Nội (chiếm 56%).
Khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn việc làm thì kết quả cho
thấy vai trò của gia đình, các mối quan hệ xã hội và nghề nghiệp của cha mẹ ảnh
hưởng trực tiếp đến định hướng việc làm sau này của sinh viên [36, 37].
Theo nghiên cứu của Huỳnh Trường Duy và La Nguyễn Thùy Dung về
“các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn nơi làm việc: trường hợp sinh
viên Đại học Cần thơ” [38], khảo sát từ 200 sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp
thuộc các khoa khác nhau cho thấy có 58,5% sinh viên có dự định ở lại thành
phố Cần Thơ để tìm việc làm, thay vì trở về địa phương. Các yếu tố gồm cơ
hội học tập, phát triển nghề nghiệp và thu nhập là những nguyên nhân chính
dẫn đến quyết định ở lại Thành phố Cần Thơ làm việc. Quyết định chọn nơi
làm việc của sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp chịu tác động bởi nhiều yếu tố: gia
đình, môi trường làm việc và cá nhân. Trong đó, những yếu tố cá nhân giữ vai
trò quyết định quan trọng.
Yếu tố cá nhân: như kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp được
xem là nhân tố quan trọng quyết định lựa chọn nơi làm việc. Có sự khác biệt
giữa ngành nghề, giới tính của sinh viên trong việc quyết định chọn nơi làm việc.
Yếu tố về gia đình: theo nghiên cứu sự ảnh hưởng của cha mẹ, anh/chị,
những người bà con và bạn bè đến quyết định chọn nơi làm việc của đáp
13
viên, tương ứng với tỷ lệ 27%, 14%, 10% và 7%. Mối quan hệ xã hội của
người thân cũng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nơi làm việc của sinh
viên, bởi vì những người thân của họ có thể giới thiệu việc làm thông qua
mối quan hệ cá nhân.
Môi trường làm việc: các yếu tố cơ hội phát triển nghề nghiệp, cơ hội
𝛼 : mức ý nghĩa thống kê (α = 0,05)
Z: Giá trị thu được từ bản Z ứng với giá trị 𝛼 được chọn, với (α = 0,05)
thì 𝑍1−𝛼/2 = 1,96
ε: Là mức sai lệch tương đối giữa tham số mẫu và tham số quần thể (ε = 0,3)
n: Cỡ mẫu nghiên cứu.
P: tỷ lệ sinh viên chưa có định hướng cho lựa chọn nơi làm việc (P= 0.12 Dựa theo nghiên cứu của Ozren Polasek và cộng sự [29])
Như vậy cỡ mẫu tính được n = 313
Sau khi cộng thêm 10% sinh viên bỏ cuộc. Vậy cỡ mẫu nghiên cứu làm
tròn là n = 350 sinh viên Y6.
15
Phương pháp và kĩ thuật chọn mẫu:
Bước 1: tính cỡ mẫu cho từng chuyên ngành
Dựa vào tỷ lệ sinh viên Y6 phân theo chuyên ngành Y6 Đa khoa, Y6
Răng hàm mặt, Y6 Y học dự phòng, Y6 Y học cổ truyền trên thực tế là
553:118:33:38.
Tổng số 350 đối tượng nghiên cứu được phân bổ cỡ mẫu cho từng
chuyên ngành tỷ lệ theo tỷ lệ kích cỡ sinh viên thực tế của 4 chuyên ngành.
Cỡ mẫu nghiên cứu ở mỗi chuyên ngành như sau:
350
Đa khoa
262
Răng hàm mặt
55
Tuổi
Dân tộc
Hộ khẩu
Nhân
khẩu học
Trình độ học vấn của bố/mẹ
Đặc điểm
gia đình
Nghề nghiệp của bố/mẹ
Gia đình có người quen biết xin
việc trong ngành y
Định nghĩa
Nam/Nữ.
Tính theo tuổi dương lịch.
Kinh/khác.
Hà Nội/Tỉnh khác.
Trình độ học vấn cao nhất đạt
được.
Công tác trong lĩnh vực nào: Y
khoa/dược/khác.
Có/không.
Biến số về sự chuẩn bị tìm kiếm việc làm
Tên biến số
Xếp loại học tập trung bình 5 năm học (Y1-Y5)
Tham gia NCKH
Khó khăn khi tìm kiếm địa chỉ làm việc
Các hoạt động ngoại khóa bổ trợ,
nâng cao kiến thức, kỹ năng, kinh
nghiệm cho sinh viên.
Thông tin đại chúng/ website tuyển
dụng/ trực tiếp với đơn vị tuyển
dụng/ nhà trường-cơ sở đào tạo
/mối quan hệ.
Mối liên hệ với nhà tuyển dụng
Tên cơ quan cụ thể sẽ xin/nộp hồ
sơ tuyển dụng.
Khó khăn của bản thân gặp phải
khi tìm kiếm nơi làm việc.
17
Biến số về định hướng lựa chọn việc làm
Định nghĩa
Tên biến số
Định hướng kế hoạch
sau khi tốt nghiệp
Định hướng chương
trình học tập sau tốt
nghiệp
Định hướng chuyên
khoa
Định hướng về loại
Nhóm biến số về yếu tố liên quan đến định hướng cho lựa chọn việc làm.
Yếu tố cá nhân:
Giới.
Chuyên ngành đào tạo.
Năng lực cá nhân: kết quả học tập, tham gia NCKH, tham gia hoạt
động chuyên môn ngoại khóa, ngoại ngữ.
18
Yếu tố gia đình:
Nghề nghiệp bố/mẹ.
Trình độ học vấn bố/mẹ.
mối quan hệ quen biết xin việc của gia đình.
Yếu tố môi trường sống: hộ khẩu.
2.3.4. Công cụ thu thập số liệu
Sử dụng phiếu điều tra tự điền được xây dựng dựa trên các biến số
nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu, có điều tra thử.
2.3.5. Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập danh sách sinh viên Y6 năm học 2014-2015 từ phòng công tác
chính trị học sinh sinh viên trường đại học Y Hà Nội. Dựa trên danh
sách đó chọn các đối tượng nghiên cứu như đã trình bày ở phần chọn
mẫu.
Liên hệ với cán bộ lớp để tìm gặp các đối tượng được chọn vào
danh sách nghiên cứu.
Giới thiệu bản thân, giới thiệu về nghiên cứu, giải thích thuyết phục
sinh viên tham gia nghiên cứu.
Giới thiệu về bộ công cụ thu thập, hướng dẫn đối tượng tham gia
nghiên cứu hoàn thành bộ câu hỏi.
Đối tượng nghiên cứu tự điền thông tin vào bộ câu hỏi đã được
Sai số do đối tượng không điền Kiểm tra phiếu điều tra sau khi thu thập
đủ thông tin
thông tin
Sai số do nhập liệu và xử lý khắc phục bằng cách nhập số liệu 2 lần.
thông tin
2.6. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Xin phép phòng công tác chính trị học sinh sinh viên cho phép tiến
hành nghiên cứu.
Giải thích rõ cho đối tượng nghiên cứu về mục đích, ý nghĩa của
nghiên cứu.
Việc tham gia của đối tượng hoàn toàn tự nguyện, đối tượng có quyền
từ chối không tham gia nghiên cứu.
Đảm bảo bí mật các thông tin cá nhân: không thu thập tên, tổ, lớp của
đối tượng nghiên cứu mà chỉ dùng mã nghiên cứu.
Các thông tin thu thập chỉ dùng cho mục đích nghiên cứu.
20
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm của đối tượng tham gia nghiên cứu
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu
Chuyên
BS
Chung
7(38,9)
Nữ
156(44,6)
103(39,3)
31(56,4)
11(73,3)
11(61,1)
24 tuổi
304(86,9)
23(91,2)
42(76,4)
12(80,0)
11(61,1)
>24 tuổi
36(23,1)
0
Hà Nội
97 (24,9)
68(26.0)
13(23.6)
1(6,7)
5(27,8)
Tỉnh khác
263(75,1)
194(74,0)
42 76,4)
14(93,3)
13(72,2)
ngành
cá nhân
Chung
BS ĐK
BS RHM
BS YHDP
BS YHCT
Đặc điểm
(N=350)
(N=262)
(N=55)
(N=15)
(N=18)
gia đình
n (%)
n (%)
n (%)
114 (43,5)
17 (30,9)
6 (40,0)
5 (27,8)
Trong ngành y dược
63 (18,0)
42 (16,0)
15 (27,3)
1(6,7)
5 (27,8)
Khác
287 (82,0)
220 (84,0)
40 (72,7)
14 (93,3)
100%
90%
13.3
17.4
21.8
80%
46.7
Từ trung bình
khá trở xuống
38.9
70%
Khá
60%
50%
66.8
62.9
54.6
BSRHM
(N=55)
BSYHDP
(N=15)
Chuyên ngành
Biểu đồ 3.1. Xếp loại kết quả học tập trung bình từ Y1-Y5
Nhận xét: Sinh viên chuyên ngành BSĐK và BSRHM có kết quả học tập khá giỏi
cao trên 75%. Tỷ lệ có kết quả khá, giỏi của sinh viên chuyên ngành BSYHCT và
BSYHDP thấp hơn với các tỷ lệ tương ứng lần lượt là 61,1% và 53,3%.
23
Bảng 3.3: Một số chuẩn bị trong quá trình học tập của sinh viên
Chuyên ngành
Chung
(N=350)
n (%)
BS ĐK
(N=262)
n (%)
Đặc điếm
Chứng chỉ ngoại ngữ đã có
Tiếng anh
Trong nước*
BS YHDP
(N=15)
n (%)
BS YHCT
(N=18)
n (%)
15(27,3)
5(9,1)
4(7,3)
3(20,0)
0
0
3(16,7)
1(5,6)
1(5,6)
4(7,3)
35(63,6)
16(29,1)
12 (21,8)
0
11(73,3)
4(26,7)
3 (20,0)
Tham gia là thành viên của
tổ/đội/nhóm/câu lạc bộ
90
90
80
Tham gia vào các hoạt động
chuyên môn ngoại khóa
70
60
60
50
50
40
30
48.5
39.9
33.3
33.3
29.1
chỉ có gần 40% sinh viên tham gia.
25
Kênh thông tin
Chưa tìm hiểu
4.3
Thầy cô
24.6
Bạn bè cùng khóa
35.7
Nhà trường/cơ sở đào tạo
38
Sinh viên khóa trước
44.6
Mối quan hệ xã hội
36
cô, sinh viên khóa trước, bạn bè cùng khóa có tỷ lệ sinh viên tìm hiểu thấp hơn
45%. Tỷ lệ sinh viên chưa tìm hiểu thông tin về tìm kiếm việc làm là 4,3%.