Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật ung thư biểu mô tế bào thận giai đoạn I,II,III - Pdf 48

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

ĐỖ TẤT CƯỜNG

Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật ung thư biểu
mô tế bào thận giai đoạn I,II,III

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ NỘI TRÚ

HÀ NỘI - 2014


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

ĐỖ TẤT CƯỜNG

Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật ung thư biểu
mô tế bào thận giai đoạn I,II,III


của siêu âm hoặc CT cho kết quả với độ nhạy và độ đặc hiệu cao giúp đưa ra chỉ
định điều trị.
Về mô bệnh học, ung thư biểu mô tế bào thận chủ yếu gặp là ung thư biểu mô
tế bào sáng chiếm 85%, ung thư nhú thận, ung thư tế bào thận kỵ màu và các loại
khác hiếm gặp [1],[4].
Điều trị ung thư biểu mô tế bào thận hiện nay chủ yếu bằng phẫu thuật triệt
căn đối với giai đoạn tại chỗ hoặc cắt thận bán phần với các khối u kích thước
nhỏ hơn 4 cm chưa có xâm lấn lớp mỡ quanh thận và di căn hạch. Với ung thư
giai đoạn muộn, điều trị toàn thân là chủ yếu với miễn dịch, hóa chất và điều trị


4

đích có hoặc không có cắt thận kèm theo với mục đích chống chảy máu, chống
đau cũng được áp dụng [5].
Ung thư biểu mô tế bào thận giai đoạn tại chỗ có tiên lượng tốt, khả năng chữa
khỏi cao bằng phẫu thuật đem lại cơ hội sống cho bệnh nhân. Tỷ lệ sống thêm 5
năm tính chung cho các bệnh nhân ung thư thận cũng tăng gấp đôi trong vòng 40
năm. Đặc biệt, đối với ung thư thận giai đoạn khu trú tại chỗ tỷ lệ sống thêm 5 năm
đã tăng từ 88,4% những năm 1992-1995 lên 91,1% trong những năm 2002-2008
[3]. Tuy nhiên, khoảng 20-30% bệnh nhân tái phát sau phẫu thuật triệt căn trong 3
năm đầu [1],[4]. Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về ung thư biểu
mô tế bào thận ở các giai đoạn khác nhau. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về ung thư
thận chủ yếu đề cập đến đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học, các phương pháp chẩn
đoán hình ảnh của ung thư biểu mô tế bào thận nhưng các nghiên cứu về sống thêm
mới chỉ có một số ít các công trình. Đối với các bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào
thận giai đoạn I,II,III; gần đây chưa có nghiên cứu nào đề cập đến sống thêm sau
điều trị phẫu thuật, đặc biệt là ở Bệnh viện K và Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Do
đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật ung thư
biểu mô tế bào thận giai đoạn I, II, III” với hai mục tiêu sau:

màng phổi và phổi, các xương sườn XI và XII. Phần thắt lưng liên quan qua lớp mỡ
cạnh thận với cơ thắt lưng, cơ vuông thắt lưng và cơ ngang bụng.
 Thận phải: dính với vùng trần của gan và tuyến thượng thận phải ở trên, góc
đại tràng phải ở dưới và phần xuống tá tràng ở trong. Phần còn lại có phúc mạc phủ
và ngăn cách với gan bởi ngách gan – thận.


6
 Thận trái: rễ mạc treo đại tràng ngang vắt qua mặt trước thận trái và chia thận
trái thành hai phần: phần trên liên quan với lách, tụy, dạ dày và tuyến thượng thận trái,
phần dưới liên quan với góc đại tràng trái, đại tràng xuống và các quai ruột non.
1.1.3. Mạch máu và bạch huyết
 Động mạch thận: tách ra từ động mạch chủ bụng, thường có một ĐM chia
cho mỗi thận nhưng có trường hợp có 2-3 ĐM cho mỗi thận. Mỗi ĐM thận chia làm
2 thân ĐM trước và sau bể thận khi đến gần rốn thận. Nhánh trước bể thận chia làm
3 hoặc 4 nhánh vào nhu mô thận, nhánh sau bể thận đi về phía rốn thận để cấp máu
cho mặt sau thận.
 Tĩnh mạch thận: các TM thận chạy cùng ĐM nhưng số lượng nhiều hơn.
Ở xoang thận các TM xếp thành 3 lớp: TM trước bể thận, TM sau bể thận, TM giữa
các đài thận. Ba lớp TM họp thành TM thận đổ vào tĩnh mạch chủ dưới.
 Bạch huyết: có sự khác nhau giữa thận phải và thận trái
 Thận phải: chia làm 2 nhóm bạch huyết:
 Nhóm bạch huyết sau: đi từ sau rốn thận và các mạch máu đến phía sau bên
TMCD nối với các hạch giữa ĐMC và TMCD từ L1 –L3. Hệ bạch huyết sau đi lên
qua trụ cơ hoành bên phải đổ vào ống ngực.
 Nhóm bạch huyết trước: đi từ trước rốn thận và các mạch máu vòng qua bờ
trên bó mạch ra sau nhập vào hệ bạch huyết sau.
Như vậy các hạch bạch huyết thận phải nằm ở bên phải của ĐMC bao gồm
các hạch ở phía ngoài, trước và sau TMCD.
 Thận trái: gồm 2 nhóm hạch trước và sau mạch máu cuống thận.

Kỳ (US); trên toàn thế giới, ước tính có khoảng 270.000 trường hợp tử vong và
116.000 vào năm 2008. Tỷ lệ rất khác nhau giữa các vùng với tỷ lệ cao nhất quan
sát thấy ở Bắc Âu và Bắc Mỹ. Mặc dù tỷ lệ này là thấp hơn ở châu Phi, người da
trắng và người da đen xuất hiện bị ảnh hưởng như nhau ở Hoa Kỳ [4].
Tỷ lệ sống sau 5 năm của bệnh nhân ung thư thận tính chung cho tất cả các
giai đoạn đã tăng gấp đôi trong 50 năm qua, từ 34% trong 1954, 62% vào năm 1996
và 69% vào năm 2002 [4].
1.2.2. Các yếu tố nguy cơ
Các yếu tố có liên hệ đến sự phát triển của UTBMTB thận bao gồm:
 Hút thuốc lá
Theo các nghiên cứu thuần tập với cỡ mẫu đủ lớn cho thấy mối liên hệ giữa liều
– đáp ứng, hút thuốc càng nhiều thì nguy cơ phát triển UTBMTB thận càng cao.
Nguy cơ tăng từ 30% - 100% đối với nhưng người hút thuốc [12]. Khoảng 27-37%
UTBMTB thận ở nam giới và 10 - 24% ở nữ giới có liên quan đến hút thuốc [14].
 Béo phì
Các nghiên cứu đã cho thấy có mối liên hệ giữa tăng trọng lượng cơ thể và
UTBMTB thận. Nguy cơ càng cao khi mức độ béo phì càng lớn. Một nghiên cứu
bệnh chứng cho thấy khoảng 20% UTBMTB thận có liên quan tới việc thừa trọng
lượng. Cơ chế của béo phì lên UTBMTB thận còn chưa rõ ràng, béo phì có thể ảnh
hưởng đến bệnh bởi sự tăng mức độ các estrogen nội sinh, phức hợp này có thể thúc
đẩy các Carcinoma ở chuột bạch [12],[14],[17].
 Tăng huyết áp
Các nghiên cứu cũng đã cho thấy có sự liên quan của tăng huyết áp với vai
trò như một tác nhân gây UTBMTB thận. Một nghiên cứu thuần tập ở Thụy Điển
cho thấy mối liên quan theo kiểu liều - đáp ứng giữa tăng huyết áp và UTBMTB
thận. Cơ chế ảnh hưởng còn chưa được rõ ràng nhưng cũng có thể do sự tăng tạo


9


 Bệnh Von Hippel - Lindau (VHL): là một bệnh di truyền tính trội trên nhiễm
sắc thể thường, trong bệnh này gen đột biến nằm trong đoạn 3p25-26 (gen VHL).
UTBMTB thận phát triển trong 50% các bệnh nhân này, thường phát triển cả hai
thận và phát triển đa ổ, ngoài ra còn phát triển ở nhiều cơ quan khác nhau như u
phôi mạch ở tiểu não, u mạch võng mạc, u tế bào ưa Crom ở tuyến thượng thận, u
nang hoặc adenocarcinoma ở tụy… Tần số mắc 1/36000 [13],[14],[15],[19].
 Ung thư nhú thận di truyền typ 1 (Hereditary Papillary renal carcinoma type 1)
(HPRC): Những khối u này thường phát triển bất ngờ lan truyền như các UTBMTB
thận rải rác. Bệnh di truyền trội do đột biến của gen C-met nằm trên nhánh ngắn NST
7. Trong nhóm này có sự phát triển ung thư hai thận và đa ổ [15],[19].
 Ung thư nhú thận di truyền typ 2 (Hereditary leiomyomatosis renal cell
carcinoma type 2) (HLRCC): Là hội chứng ung thư gia đình ngoài phát triển của
ung thư thận còn phát triển các u cơ trơn ở tử cung, da. Bệnh tiến triển nhanh xâm
lấn và di căn sớm. Bệnh do đột biến gen FH (Fumarate Hydratase) nằm trên NST
1q42-43 [14].
 Hội chứ Birt- Hogg- Dube (BHD): Là hội chứng ung thư di truyền, nhóm
bệnh này có nguy cơ phát triển các u nang tóc lành tính, các nang ở phổi. U phát
triển đa ổ ở cả hai bên thận, loại ung thư này có thể là các ung thư thận kỵ màu
(33%), u tế bào hạt (50%), tế bào sáng (10%), hoặc tế bào lớn (7%)[15]. Gen liên
quan với hội chứng này nằm trên NST 17p11-2 [14].
1.3. Mô bệnh học
1.3.1. Các loại UTBMTB thận
 Ung thư tế bào sáng:
Hay gặp, chiếm tỷ lệ 70 - 80% [15],[20],[21].


11

Đại thể: khối u lớn thường đặc xuất phát từ nhu mô thận, có xu hướng xâm lấn
vỏ thận, chèn ép đài bể thận, thậm chí xâm lấn TM thận và TMCD, có biểu hiện

90% trường hợp. Không có hiện tượng mất đoạn 3p hay tam bội, tứ bội của NST 7
và 17 [20],[22].
 Ung thư ống góp thận: hiếm gặp, khoảng 1% các UTBMTB thận có nguồn
gốc từ các ống góp nhìn chung loại này có tiên lượng xấu [21].
Đại thể: là những u lớn, rắn, thường có một ổ, màu nâu nhạt hoặc trắng có chảy
máu và hoại tử trung tâm nổi bật. Xu hướng phát triển về phía bể thận [21],[22].
Vi thể: tế bào u xếp thành hình ống hoặc nhú, mô đệm giàu chất xơ. Rất khó
phân biệt với các ung thư biểu mô đường bài xuất [22].
Đặc điểm gen: thông tin về gen trong loại ung thư này còn nhiều hạn chế có
thể do sự mất đoạn của NST 1,6,14,15 và 22 ở một số báo cáo [20].
1.3.2. Ung thư dạng Sarcoma
Tỷ lệ 1-5% tiên lượng xấu, xâm lấn tại chỗ và di căn nhanh, xâm lấn cơ quan
lân cận thường gặp. Về mô học cấu tạo bời các tế bào hình thoi có cả tế bào sáng và
ưa eosin. Có sự khuyết đoạn trên NST 8,9 và 14 [13].
1.3.3. Ung thư thể tủy
Được mô tả lần đầu tiên bởi Davis năm 1995, ung thư này được chẩn đoán
ở những người Mỹ gốc Phi trẻ tuổi. Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 11-39, trung
bình 22 tuổi. Tiến triển nhanh, xâm lấn và di căn xa ở thời điểm chẩn đoán. Thời
gian sống trung bình chỉ 15 tuần [13]. Khối u thường có kích thước lớn 4-12 cm.
Về mô học các tế bào với nhân đa hình bào tương nhiều tổ chức xơ và xâm nhập
các tế bào viêm [22].
1.4. Chẩn đoán
1.4.1. Lâm sàng:
UTBMTB thận có nhiều triệu chứng đa dạng, bệnh thường tiến triển âm
thầm, không có triệu chứng hoặc không sờ thấy u trong giai đoạn u nhỏ còn khu trú.
Khi đã có triệu chứng, bệnh thường đã ở giai đoạn tiến triển [12],[13]. Khoảng 50%
các UTBMTB thận được phát hiện tình cờ. Một số phát hiện được nhờ các triệu
chứng của u di căn.




14

Tăng canxi máu: tỷ lệ 13%, nguyên nhân do UT di căn xương gây tiêu hủy
xương, hoặc do u sản xuất các peptit giống hocmon tuyến cận giáp, các
prostaglandin, các CAF (yếu tố hoạt hóa hủy cốt bào), các TGFα và các yếu tố hoại
tử u TNF α [13],[19],[25]. Sau cắt thận, canxi máu sẽ trở lại bình thường, nếu còn
cao chứng tỏ có di căn. Tăng canxi máu do di căn xương có thể được kiểm soát
bằng xạ trị [24].
Đa hồng cầu: tỷ lệ 1-8%, do có tăng sản xuất erythropoietin hoặc các chất sinh
học tương tự bởi khối u [24], hoặc do phần thận lành bị thiếu oxy sẽ gây nên hiện
tượng trên [19]. Sau cắt thận, nếu đa hồng cầu tái phát là biểu hiện của UTBMTB
thận di căn [13].
Tăng huyết áp: khoảng 25% các trường hợp UTBMTB thận, do khối u trực
tiếp tiết sản xuất renin. Các thuốc hạ áp không có tác dụng trong trường hợp này,
huyết áp trở về bình thường nếu cắt bỏ thận [13],[19],[24].
Tăng tốc độ máu lắng: gặp trong 4% các UTBMTB thận thường tăng 30mm
trong giờ đầu và trở lại bình thường sau khi cắt thận [13].
Hội chứng Stauffer: tỷ lệ khoảng 3-20%, có biểu hiện rồi loạn chức năng gan,
sốt, mệt mỏi và sụt cân. Các rối loạn về sinh hóa bao gồm tăng Phosphatase kiềm,
giảm albumin máu, tăng billirubin hoặc transaminase huyết tương, kéo dài thời gian
prothrombin [13],[24].
1.4.2. Cận lâm sàng
1.4.2.1. Siêu âm thận
Siêu âm thận là phương pháp chẩn đoán tốt, dễ sử dụng và rẻ tiền được
khuyến cáo áp dụng đầu tiên trong chẩn đoán UTBMTB thận. Gần 40% UTBMTB
thận được phát hiện tình cờ qua siêu âm khi chưa có triệu chứng lâm sàng. Các tổn
thương trên siêu âm trong UTBMTB thận có thể là: khối giảm âm, tăng âm hay hỗn
hợp, cấu trúc âm có thể không đều hay đồng nhất, có thể có vôi hóa.



Dấu hiệu xâm lấn khu vực:
 Khoang mỡ cạnh thận: biểu hiện bằng dải hay nốt tăng tỷ trọng trong lớp
mỡ quanh thận so với các tổ chức mỡ bình thường, bao xơ thận khi bị thâm nhiễm
cũng dày lên.
 Xâm lấn TM thận: chụp CT Scanner chẩn đoán xâm lấn TM thận có độ
nhạy 78% [13],[16]. Biểu hiện bởi hình khuyết giảm tỷ trọng đồng nhất hay không
đồng nhất trong lòng mạch.
 Xâm lấn TM chủ: chụp CT Scanner phát hiện xâm lấn TM chủ có độ nhạy
96% [13],[16].
Di căn hạch: chụp cắt lớp vi tính có độ nhạy và độ đặc hiệu tương ứng là
83% và 88% [16]. Di căn hạch vùng rốn thận và hạch dọc động mạch chủ. Di căn
hạch rốn thận thường sớm, kích thước hạch trên 1cm là nghi ngờ, kích thước
hạch trên 2cm gần như chắc chắn. Không có dấu hiệu nào đặc chưng cho hạch
viêm và hạch di căn.
Xâm lấn cơ quan lân cận: chụp CT scanner chẩn đoán có độ nhạy và độ đặc
hiệu tương ứng là 60% và gần 100%. Các cơ quan lân cận bị xâm lấn như tuyến
thượng thận, lách, đại tràng, đuôi tụy, gan làm mất khoang mỡ giữa hai cơ quan.
Xâm lấn dạ dày ruột ít gặp và khó chẩn đoán [16].
1.4.2.3. Chụp niệu đồ tĩnh mạch
Thấy các dấu hiệu của u, đường bờ thận to ra hoặc xóa hẳn hình dáng của một
số thùy. Bóng thận to ra và bị đè đẩy di lệch hoặc thấy hình lồi của u thận trên một
cực thận.
Các hình ảnh của ung thư thận bao gồm:
 Đổi hướng đài thận: u chèn ép làm nở hoặc hẹp góc giữa các đài thận cạnh
nhau, hình ảnh đài thận lệch hướng kéo dài hoặc cắt cụt.


17
 Đổi hướng bể thận: u thận chèn ép làm cho bể thận bị lệch theo cùng một


cản quang, phân biệt được khối đặc, lỏng, phát hiện các ổ chảy máu và xâm lấn của
u nhưng không phân biệt được các mô mềm khác nhau, thời gian thực hiện xét
nghiệm kéo dài [13],[26],[27],[28].
1.4.2.7. Xạ hình xương
Mục đích để tìm các di căn xương nhằm xếp loại giai đoạn của bệnh, theo dõi
sau điều trị khối u nguyên phát. Ổ di căn biểu hiện tăng cố định đồng vị phóng xạ
tại chỗ. Phương pháp này được sử dụng khi lâm sàng có đau xương và xét nghiệm
phosphatase kiềm tăng cao.
1.4.2.8. Xạ hình thận
Từ năm 1960 phương pháp này đã được sử dụng để chẩn đoán các khối u ở
thận, 90% các khối ung thư ở thận có sự bất thường về cố định phóng xạ trên hình
ảnh xạ hình thận. Thuốc thường dùng là chất Tc-99m - diemethylenetriamine pentaacetic acid (DTPA), ngoài việc phát hiện khối u thận phương pháp này còn dùng để
đánh giá chức năng thận một bên hoặc hai bên, chẩn đoán có tắc đường tiết niệu,
chẩn đoán thận đơn độc…. các kết quả của xạ hình thận có thể bổ xung cho chụp
niệu đồ tĩnh mạch khi không phát hiện được các khối u nhỏ, không làm biến đổi đài
bể thận.
1.4.3. Sinh thiết thận chẩn đoán mô bệnh học
Là phương pháp sử dụng kim (kim sinh thiết) dưới hướng dẫn của siêu âm
hoặc chụp cắt lớp vi tính để định vị chính xác vị trí khối u , lấy nhiều mảnh tổ chức
của khối u thận, chẩn đoán chính xác mô bệnh học. Nó có vai trò quan trọng trong
định hướng điều trị, xác đinh khối u là lành tính hay ung thư khi mà các biện pháp
chẩn đoán hình ảnh còn nghi ngờ. Đặc biệt khi khối u đánh giá là không mổ được
trên lâm sàng.
1.4.4. Chẩn đoán giai đoạn UTBMTB thận
1.4.4.1. Chẩn đoán giai đoạn theo phân loại của Robson
- 1958 Flocks và Kadesky đưa ra bảng xếp loại đầu tiên trong UTBMTB thận [19].


19

T2b: u có đường kính lớn nhất >10cm.
T3: ung thư xâm lấn TM chính hoặc bao thận nhưng không xâm lấn tuyến
thượng thận và cân Gerota cùng bên .
T3a: ung thư xâm lấn TM thận hoặc các nhánh của nó hoặc ung thư xâm lấn
lớp mỡ cạnh thận hoặc quanh thận mà không xâm lấn cân Gerota.
T3b: ung thư gây huyết khối tĩnh mạch chủ dưới phía dưới cơ hoành.
T3c: ung thư gây huyết khối tĩnh mạch chủ dưới phía trên cơ hoành, hoặc xâm
lấn thành của tĩnh mạch chủ.
T4: ung thư xâm lấn cân Gerota (bao gồm cả tuyến thượng thận cùng bên).
N: hạch vùng
Hạch vùng bao gồm hạch rốn thận, hạch cạnh ĐMC và TMCD, hạch giữa
ĐMC và TMCD.
Nx: chưa đánh giá được hạch vùng.
N0: không di căn hạch vùng.
N1: di căn hạch vùng.
M: di căn xa
Mx: chưa đánh giá được di căn xa.
M0: không có di căn xa.
M1: di căn xa.


21

Giai đoạn:
Giai đoạn

T

N


T4

N bất kỳ

M0

T bất kỳ

N bất kỳ

M1

III

IV

Hình 1.2. Hình ảnh phân loại U và hạch vùng của UTBMTB thận [1][30]


22

1.5. Điều trị ung thư biểu mô tế bào thận
1.5.1. Phẫu thuật
- Là phương pháp điều trị chủ yếu và cơ bản trong UTBMTB thận
- Ca cắt thận đầu tiên được thực hiện bởi Watcott trên một bệnh nhân nam 58
tuổi bị u thận và đã tử vong sau 15 ngày sau mổ (1861).
- Ca phẫu thuật cắt thận thành công đầu tiên trên người bệnh ung thư thận
được thực hiện bởi Grawitz năm 1883.
- Năm 1969, Robson và cộng sự đã xác định “tiêu chuẩn vàng” để điều trị ung
thư thận là cắt thận triệt căn.

soát mạch máu cuống thận để tránh sự gieo rắc của tế bào ung thư theo đường máu
[33],[34],[35].
Các đường mổ được lựa chọn có thể thay đổi tùy theo yêu cầu của phẫu thuật
các đường mổ hay được sử dụng là các đường mổ dọc giữa bụng và đường dưới
sườn (đi qua phúc mạc), đường thắt lưng (đi ngoài phúc mạc)….Ưu điểm của
đường mổ qua phúc mạc là khống chế dễ dàng mạch máu cuống thận, kiểm soát tốt
vùng sau phúc mạc và đảm bảo nguyên tắc phẫu thuật cắt thận rộng trong
UTBMTB thận [34],[35],[36].
Nạo vét hạch vùng trong UTBMTB thận: Đối với thận phải hạch vùng bao gồm
hạch cạch ĐMC, TMCD, hạch giữa ĐMC và TMCD. Đối với thận trái, hạch vùng
là các hạch cạnh ĐMC bên trái từ các hạch trước và sau trụ cơ hoành tới các hạch
trước sau và ngoài ĐMC, đi xuống bên ngoài của ĐM chậu gốc trái [32].
Ba loại vét hạch được áp dụng:
Vét hạch hạn chế: lấy các hạch quanh rốn thận.
Vét hạch trong vùng: vét đến các hạch cạnh TMCD và hạch cạnh ĐMC bên trái.
Vét hạch rộng: vét đến các hạch cạnh TMCD, trước và sau ĐMC cho đến ĐM
chậu gốc.
Lấy huyết khối TMCD: huyết khối TMCD gặp trong 4-10% các trường hợp
UTBMTB thận, vị trí của huyết khối có 3 mức độ: huyết khối dưới gan (độ I), huyết
khối sau gan (độ II), huyết khối trên cơ hoành (độ III). Thực hiện phẫu thuật này
cần phải mở TMCD lấy huyết khối trên cơ sở kiểm soát tốt TMCD trên và dưới
huyết khối, thực hiện nối tắt tim phổi và làm ngừng tuần hoàn với mức độ II và độ
III. Tỷ lệ tử vong do phẫu thuật từ 5-10% và thời gian sống thêm 5 năm khoảng
50% [12],[16].


24

 Phẫu thuật cắt thận bảo tồn
Năm 1884, Wells đã thực hiện ca cắt bỏ u xơ mỡ thận bảo tồn thận đầu tiên.


thêm. Một nghiên cứu pha III đã so sánh có đối chứng giữa hai nhóm bệnh nhân
ung thư thận giai đoạn có di căn xa một nhóm được cắt thận và điều trị miễn dịch
sau mổ và nhóm chỉ điều trị miễn dịch đơn thuần thì thấy thời gian sống trung bình
của hai nhóm tương ứng là 13,6 tháng và 7,8 tháng [1]. Ngoài ra cắt thận trong
UTBMTB thận còn có vai trò điều trị triệu chứng như giảm đau, cầm máu, các hội
chứng cận u gây ra với thời gian sống thêm ít nhất 6 tháng [16],[38].
 Phẫu thuật cắt bỏ di căn và tái phát: Khoảng 30% bệnh nhân UTBMTB
thận có di căn xa tại thời điểm chẩn đoán, trong đó chỉ có 1,5%- 3,5% là di căn đơn
độc [15]. Các vị trí di căn thường gặp là phổi (75%), phần mềm (36%), xương
(20%), gan (18%), da (8%), não (8%) [15]. Các di căn khác hiếm gặp hơn như
tuyến giáp, tuyến nước bọt, tuyến tụy và buồng trứng. Một nghiên cứu trên 59 bệnh
nhân UTBMTB thận được cắt thận và cắt bỏ khối di căn đơn độc có thời gian sống
3 năm là 45% và 5 năm là 34% [39].
1.5.2. Điều trị toàn thân
1.5.2.1. Điều trị nội tiết
Đã có các nghiên cứu về việc dùng Progestin và Adrogen trong UTBMTB
thận từ những năm 1960, gần đây các nghiên cứu về việc dùng Medroxyprogesteron
và Tamoxifen trong điều trị UTBMTB thận có hiệu quả không cao với tỷ lệ đáp ứng
dưới 5% [15]. Sử dụng Tamoxifen liều cao cũng không đem lại kết quả cao nên
hiện nay việc điều trị này không được khuyến cáo sử dụng [40].
1.5.2.2. Điều trị hóa chất
Hóa chất đối với UTBMTB thận cho tỷ lệ đáp ứng thấp, một số báo cáo về
việc sử dụng 5-FU phối hợp với Vinblastin và Floxuridin đều cho tỉ lệ đáp ứng thấp
dưới 10% [15]. Hiện nay đang có nghiên cứu về việc dùng Temsirolimus trong điều
trị ung thận di căn nhưng kết quả chưa được công bố.
1.5.2.3. Điều trị miễn dịch
Hiệu quả của điều trị miễn dịch bằng Interleukin và Interferon đã và đang
được nghiên cứu. Nhìn chung tỉ lệ đáp ứng không cao (dưới 20%) [39],[40]. Chỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status