1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư biểu mô tế bào gan (Hepatocellular carcinoma - HCC) là một
trong những bệnh ác tính phổ biến trên thế giới và Việt Nam; trong đó HCC
đứng hàng thứ 5 trong các loại ung thư và đứng thứ 3 về tỷ lệ tử vong do các
bệnh ung thư [1]. Theo ước tính mới nhất thì hàng năm, trên thế giới có thêm
khoảng một triệu người mới mắc và gây tử vong cho hơn 250.000 người.
Trong đó số bệnh nhân HCC ở châu Á chiếm khoảng 70% tổng số bệnh nhân
HCC trên thế giới [2]. Ở Việt Nam hiện nay chưa có số liệu trên phạm vi toàn
quốc nhưng theo thống kê ở một số tỉnh thành thì HCC là một bệnh khá
thường gặp.
Hiện nay đã có nhiều tiến bộ trong hiểu biết về cơ chế bệnh sinh, bệnh
căn, các biện pháp chẩn đoán, phòng và chữa bệnh. Tuy vậy, HCC vẫn được
đánh giá là bệnh có tiên lượng nặng nề. Thời gian sống trung bình của bệnh
nhân HCC nếu để tiến triển tự nhiên là 5 tháng (2-8 tháng) [3]. Một số nghiên
cứu cho biết bệnh nhân HCC có thời gian sống thêm thấp nhất trong 11 loại
ung thư thường gặp [4]. Với tính chất phổ biến và ác tính của bệnh, HCC thực
sự là một thách thức lớn đối với y học hiện đại.
Điều trị bệnh nhân HCC vẫn là một vấn đề nan giải, trong các phương
pháp điều trị HCC, phẫu thuật cắt bỏ khối u gan được đánh giá là phương
pháp điều trị tốt nhất. Tuy nhiên chỉ có khoảng 15-20% bệnh nhân còn khả
năng phẫu thuật do đa số bệnh nhân phát hiện ở giai đoạn muộn và 80-90% có
xơ gan kèm theo nên phẫu thuật thường không hoặc ít có hiệu quả [3, 5, 6].
Do vậy phần lớn bệnh nhân HCC được điều trị bằng các phương pháp không
phẫu thuật. Trong các phương pháp điều trị không phẫu thuật bao gồm loại bỏ
khối u bằng tác nhân vật lý, hóa học như nút hóa dầu động mạch gan (TACE)
[7], phá hủy khối u qua da bằng tiêm cồn tuyệt đối (PEIT- Percutaneous
2
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Dịch tễ học ung thư biểu mô gan tế bào gan
Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) là một bệnh ác tính phổ biến trên thế
giới. Tần suất mắc bệnh khác nhau theo từng khu vực địa lý và chủng tộc. Tỷ
lệ mắc bệnh rất cao ở các nước châu Á, châu Phi nhưng tương đối thấp ở châu
Âu, châu Mỹ. Có thể chia tần suất mắc bệnh thành ba khu vực [4], [5].
Khu vực có tần suất mắc bệnh thấp như Bắc Âu, Bắc Mỹ, Úc, Canada tỷ
lệ mắc bệnh < 5/100.000 dân. Ở Mỹ, tỷ lệ bệnh nhân HCC tăng lên trong
mười năm qua, tần suất bệnh tăng từ 3,3/100.000 dân lên đến 5,4/100.000
dân, năm 2005 có 17550 ca mới mắc và 15420 ca tử vong [4].
Khu vực có tần suất mắc bệnh trung bình: Đông Âu, Caribe, các nước
Địa Trung Hải 5-10/100.000 dân.
Khu vực có tần suất mắc bệnh cao và rất cao gồm nhiều nước châu Á
như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Trung phi với tỷ lệ mắc 30150/100.000 dân. Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất trên thế giới, số bệnh
nhân HCC chiếm 55% tổng số bệnh nhân trên toàn thế giới, tử vong do HCC
đứng hàng thứ 2 trong các nguyên nhân tử vong do ung thư [4].
Tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ là 2,5/1. Ở các nước có tần suất mắc
bệnh cao, tỷ lệ này có thể là 8/1. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi và độ tuổi hay gặp
cũng khác nhau tùy theo từng khu vực. Tại châu Á và châu Phi, tuổi hay gặp
là 20 đến 40 tuổi. Các khu vực có tần suất mắc bệnh thấp tuổi hay gặp từ 60
đến 80 tuổi [4],[5].
Theo số liệu của GLOBOCAN năm 2008 [12] đối với Việt Nam, ung thư
gan là loại ung thư hàng đầu, trên cả ung thư phổi và ung thư dạ dày về mức độ
phổ biến cũng như tỷ lệ tử vong, chiếm 20,8% trong tổng số các loại ung thư,
với số mới mắc khoảng 23000 người.
4
vào bộ máy di truyền của tế bào gan, tạo thành tác nhân gây ung thư. Rượu
làm tăng khả năng kết hợp DNA với bộ gen của tế bào chủ. Tổn thương gen
của tế bào gan do DNA virus viêm gan được coi là điểm khởi đầu của quá
trình sinh ung thư [5], [14].
Ở khu vực có tỷ lệ nhiễm HBV cao, có đến 90% bệnh nhân HCC mang
HBsAg (+). Bosch FX và cộng sự thống kê tại châu Á thấy tỷ lệ nhiễm HBV
ở bệnh nhân HCC là 60% (40-90%) [15]. Ở Việt nam, theo tác giả Hoàng
Gia Lợi: 81,5% [16] và của Trần Văn Huy: 85% [17].
Nhiễm virus viêm gan C
Virus viêm gan C cũng là tác nhân sinh ung thư. Tại Nhật Bản và một số
nước châu Âu tỷ lệ nhiễm HCV là 40-80% ở bệnh nhân HCC [5].Ở Nhật Bản,
sau chương trình tiêm chủng mở rộng phòng virus HBV thì HCV trở thành
nguyên nhân chính gây HCC [4]. Tử vong do ung thư gan tăng gấp đôi và trên
35.000 người mỗi năm, do gia tăng tỉ lệ nhiễm virus viêm gan C [4]. Một
nghiên cứu gần đây nhất cho thấy: ở các nước phương tây và Nhật Bản, ước
tính có khoảng 20- 30% trong 170 triệu người nhiễm HCV phát triển thành xơ
gan và hàng năm có từ 3-5% trong số này phát triển thành HCC. 1/3 số bệnh
nhân có HCV sẽ tiến triển thành HCC trong cả cuộc đời.
6
Virus viêm gan C không xâm nhập vào bộ gen của tế bào gan. Cơ chế
sinh ung thư chủ yếu của virus viêm gan C là cơ chế gián tiếp thông qua quá
trình phát triển xơ gan [18].
1.2.2. Xơ gan
Mối liên quan giữa xơ gan và HCC đã được thấy từ lâu. 70-80% HCC
phát triển trên nền xơ gan [2],[18]. Xơ gan do các nguyên nhân khác nhau
được coi là yếu tố tiền ung thư. Ở châu Âu nguyên nhân xơ gan chủ yếu do
rượu. Ở Italia người ta nêu vai trò của rượu là nguyên nhân hàng đầu gây ung
cộng hưởng với HBV [5].
Nước ta nằm trong khu vực địa lý khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, rât thích
hợp cho sự phát triển của nấm Aspergillus. Đặc biệt là người dân có thói quen
sử dụng các thực phẩm tích trữ trong cộng đồng, nhất là các loại ngũ cốc phơi
khô như khoai, sắn, đậu, lạc, nấm.... Các nguồn thực phẩm ngày có nguy cơ
cao chứa độc tố Aflatoxin, góp phần vào yếu tố nguy cơ cho sự phát triển ung
thư tế bào gan.
1.2.5. Các yếu tố nguy cơ khác
Ngoài các yếu tố nguy cơ đã được biết rõ ở trên, một số yếu tố nguy cơ
khác cho sự phát triển của ung thư biểu mô tế bào gan cũng được đề cập, mặc
dù mối liên quan chưa được xác định.
Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ ung thư gan ở những người hút thuốc lá
cao hơn 2-8 lần so với những người không hút thuốc lá [20]. Tình trạng thiểu
dưỡng kéo dài, điều trị hóa chất, tia xạ và những người sử dụng thuốc nội tiết
kéo dài hoặc tiếp xúc lâu dài với các hóa chất trừ sau cũng được cho là có khả
năng làm tăng nguy cơ bị ung thư gan [20]. Đặc biệt ở nước ta, phơi nhiễm
với chất độc hóa học có Dioxin cũng được chứng minh có liên quan đến nguy
cơ bị ung thư [20].
8
Liên quan chế độ ăn với nguy cơ ung thư biểu mô tế bào gan chưa được
biết rõ. Tuy nhiên một số nghiên cứu gần đây cho thấy chế độ ăn giàu beta –
caroten, ăn nhiều trứng, sữa, thịt trắng, rau quả, thói quen uống cà phê lại có
lợi và giảm nguy cơ ung thư gan [21].
1.3. Giải phẫu phân thùy gan
1.3.1. Hình thể ngoài của gan
Gan có 3 mặt: Trên, dưới và sau
Mặt trên: Cong lồi ra phía trước và được chia thành thuỳ phải và trái
B
Hình 1.2: Giải phẫu phân thùy gan: A: nhìn dưới, B: nhìn trước [22]
1.4. Các phương pháp chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan
Có nhiều phương pháp chẩn đoán được áp dụng để phát hiện và đánh giá
ung thư biểu mô tế bào gan trên các khía cạnh khác nhau. Các phương pháp
này được chia thành 3 nhóm chính: xét nghiệm dấu ấn ung thư, các phương
pháp chẩn đoán hình ảnh, chẩn đoán tế bào và mô học.
1.4.1. Xét nghiệm dấu ấn ung thư (Tumor markers)
Một trong các biểu hiện đặc trưng của ung thư gan nguyên phát cũng
như nhiều loại u ác tính khác là chúng có khả năng tổng hợp và bài tiết một số
chất không bình thường. Các chất này được tìm thấy trong mô u, trong huyết
thanh, trong dịch cơ thể với nồng độ cao hơn so với người bình thường. Do
vậy một số chất có giá trị như là chất để nhận biết ung thư biểu mô tế bào gan.
AFP-Alpha FetoProtein: là xét nghiệm tương đối giá trị trong việc
phân định HCC ở nhóm có nguy cơ cao với các tổn thương khác ở gan.
10
Giá trị lâm sàng của AFP là trong chẩn đoán độ nhạy và độ đặc hiệu của
AFP thay đổi theo các đối tượng nguyên cứu và giá trị ngưỡng của chỉ số bình
thường : 52-80% và 90-98%.
Theo Dr. Terence CW Poon [23], độ nhạy và độ đặc hiệu của AFP trong
chẩn đoán HCC ở bệnh nhân viêm gan mạn với các giá trị ngưỡng khác nhau
thay đổi như sau:
Giá trị AFP
Độ nhạy (%)
30,9
Việc chọn mốc giá trị chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan của AFP
chưa hoàn toàn thống nhất. Tại Nhật Bản Okuda lấy mức AFP>200ng/ml với
độ nhạy là 77,6%. Mốc này cũng là mốc giá trị chẩn đoán ung thư biểu mô tế
bào gan trong hướng dẫn thực hành điều trị của Hiệp Hội Gan mật Mỹ và
Châu Âu hiện nay.
Tuy nhiên theo một số tác giả việc chọn mốc chẩn đoán có ý nghĩa của
AFP còn phụ thuộc vào tần suất mắc bệnh ở các khu vực khác nhau. Những
nơi có tỷ lệ HCC như Châu Á, Châu Phi cũng là nơi có những bệnh lý gan
mạn tính cao. Nồng độ AFP ở những bệnh nhân này tăng rất cao. Do vậy, ở
các khu vực thường có tỷ lệ bệnh gan mãn tính cao, các tác giả khuyến cáo
cần chọn mốc AFP >400ng/ml là mốc chẩn đoán. Nghiên cứu của Vũ Văn
Khiên và công sự ở các bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan và bệnh nhân
bị bệnh gan mãn tính, sử dụng mốc AFP >400ng/ml là mốc chẩn đoán thì độ
nhạy, độ đặc hiệu, tỷ lệ dương tính lần lượt là 50%, 100%, 100%.
11
Trong ung thư tế bào gan: Không có tương quan giữa lượng AFP và kích
thước, sự tăng sinh, giai đoạn hoặc mức độ ác tính của u. AFP chỉ tăng trong
60-70 % trường hợp HCC.
1.4.2. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh
Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh đóng một vai trò hết sức quan
trọng trong chẩn đoán, theo dõi và đánh giá kết quả điều trị ung thư biểu mô
tế bào gan cũng như tái phát sau điều trị. Các phương pháp bao gồm: siêu âm,
chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, chụp mạch kỹ thuật số hóa xóa nền,
xạ hình và PET/CT.
1.4.2.1. Siêu âm [24], [25], [26]
trong các trường hợp tổn thương đồng âm, ranh giới không rõ ràng hoặc trong
các trường hợp khôi u có vách bên trong hoặc khối u có bóng cản.
A
B
Hình 1.3: A: Khối u gan phân thùy sau có hoại tử trung tâm
B: Khối u gan hạ phân thùy II, có viền Halo [27]
Siêu âm không chỉ có giá trị trong phát hiện tổn thương khu trú ở gan mà
còn có thể xác định các tổn thương kèm theo của gan như xơ gan, đánh giá
các cấu trúc mạch máu, đường mật trong và ngoài gan, tình trạng lách to, cổ
chướng, tuần hoàn bàng hệ tĩnh mạch ngoài gan, huyết khối tĩnh mạch cửa..
Đặc điểm hình ảnh HCC trên siêu âm Doppler [26], [25]:
Siêu âm Doppler và Doppler năng lượng:
Siêu âm Doppler màu giúp tăng khả năng chẩn đoán chính xác u gan so
với siêu âm thường. Trên siêu âm Doppler, u gan thường biểu hiện với đặc
13
điểm vùng giàu mạch máu so với nhu mô gan lành xung quanh. Siêu âm
Doppler cho thấy tình trạng tăng sinh mạch ngay cả khi khối u gan nhỏ. Siêu
âm Doppler có thể giúp phân biệt HCC với nốt tân tạo của xơ gan, tổn tương
tăng sản tuyến lành tính, các khối u gan thứ phát và huyết khối tĩnh mạch. Với
phương pháp này, hình ảnh dòng máu động mạch trong u gan được thấy ở
95% số HCC, trong khi chỉ có ở 28% số u gan lành tính.
1.4.2.2. Chụp cắt lớp vi tính [31], [32], [33]
Chụp CLVT đóng một vai trò hết sức quan trọng trong chẩn đoán phân
biệt, chẩn đoán giai đoạn cũng như đánh giá kết quả điều trị HCC. Đặc biệt
với những tiến bộ gần đây về chụp CLVT xoắn ốc đa dãy có tiêm thuốc cản
quang đã nâng cao tính chính xác, tăng khả năng phát hiện khối u gan nhỏ và
trở thành phương pháp chẩn đoán hình ảnh có giá trị.
Kỹ thuật chụp CLVT xoắn ốc ba pha (spiral CT) cho phép thu được
hình ảnh: pha động mạch, pha tĩnh mạch cửa và pha muộn. Thuốc cản
quang với liều là 2ml/kg cân nặng được tiêm vào tĩnh mạch ngoại vi với
tốc độ 3-5ml/s. Pha động mạch thu được sau khi tiêm thuốc cản quang 2530s, pha tĩnh mạch cửa được thực hiện sau 60-70s và pha muộn sau 3phút.
Bề dày lát cắt 5,7 hoặc 8mm.
Trên hình ảnh CLVT, HCC thường biểu hiện dưới dạng khối đơn độc
hoặc đa khối với ranh giới rõ ràng so với nhu mô gan lành xung quanh.
15
Thể khối
Trước khi tiêm thuốc cản quang, khối u thường biểu hiện bằng một vùng
giảm tỷ trọng, nhưng cũng có khoảng 12% đồng tỷ trọng và 2-25% các trường
hợp có vôi hóa trung tâm. Sau khi tiêm thuốc cản quang, khối u bắt thuốc cản
quang mạnh, sớm ở thì động mạch cho thấy tổn thương u tăng tỷ trọng hơn so
với nhu mô gan lành xung quanh và thải thuốc nhanh ở thì tĩnh mạch biểu
hiện là khối giảm tỷ trọng hơn so với nhu mô gan lành xung quanh, trong thì
muộn các khối HCC càng giảm tỷ trọng hơn. Vùng trung tâm khối đôi khi
không đều do chảy máu hoặc hoại tử.
Hình 1.6: Khối u gan HCC ngấm thuốc mạnh thì động mạch và thải thuốc
thì tĩnh mạch, xâm lấn gây huyết khối tĩnh mạch cửa [33]
Thể thâm nhiễm
chức mỡ trong khối. Sau khi tiêm đối quang từ và chụp chuỗi xung T1W Fat
– Sat khối ngấm thuốc mạnh thì ĐM, thải thuốc nhanh thì TM và thì muộn.
Ngoài ra khi sử dụng chuỗi xung Diffusion (DWI) khối u HCC thường biểu
hiện hạn chế khuếch tán.
CHT còn có giá trị trong theo dõi và đánh giá kết quả điều trị HCC khi
áp dụng các biện pháp điều trị qua da hoặc tắc mạch. Đặc biệt CHT thể hiện
tính ưu việt hơn so với chụp CLVT khi đánh giá kết quả điều trị hóa tắc mạch.
Bởi vì cường độ tín hiệu trên hình ảnh CHT không phụ thuộc vào mức độ
17
lắng đọng lipiodol, cho phép đánh giá chính xác hơn bản chất vùng tổn
thương đã được điều trị, nhất là trong các trường hợp tổn thương lắng đọng
Lipiodol không hoàn toàn trên hình ảnh chụp CLVT.
Hình 1.7: Khối u gan hạ phân thùy VI. A: Ngấm thuốc mạnh thì động mạch [34]
B: Thải thuốc thì tĩnh mạch. C: Tăng tín hiệu trên chuỗi xung Diffusion
Chụp CHT có thể đánh giá chi tiết những đặc điểm của khối u như vỏ
bọc khối, nhân vệ tinh, xâm lấn mạch máu. Cho phép chẩn đoán phân biệt
HCC với u máu, u gan thứ phát với độ nhạy 87%, độ đặc hiệu 98%.
1.4.2.4. Chụp mạch máu kỹ thuật số hóa xóa nền (DSA) [32], [35], [36]:
Phương pháp này thường được tiến hành cùng với các thủ thuật điều trị qua
động mạch như nút mạch hóa chất khối u gan.
Hình 1.8: Khối u lớn HPT V trên phim chụp CLVT và trên chụp mạch DSA [35]
Hình ảnh của khối HCC là động mạch nuôi khối u giãn to, tăng tốc độ
dòng chảy so với nhu mô gan lành, tốc độ dòng máu chảy chậm trong tổ chức
u, có thể có hình ảnh thông động tĩnh mạch ở thì động mạch.
19
1.4.4. Chẩn đoán giai đoạn u gan [40], [41], [42]
Đánh giá giai đoạn lâm sàng trong ung thư nói chung và ung thư gan nói
riêng có ý nghĩa rất quan trọng nhằm giúp tiên lượng cũng như lựa chọn
phương pháp điều trị thích hợp. Khác với đa số các loại ung thư khác sử dụng
hệ thống phân loại TNM, trong ung thư biểu mô tế bào gan hệ thống phân loại
này ít có ý nghĩa và không được sử dụng rộng rãi do bỏ qua yếu tố xơ gan –
một yếu tố cốt lõi ảnh hưởng tới tiên lượng cũng nhưng điều trị. Hiện nay có
nhiều bảng phân loại hoặc hệ thống cho điểm đánh giá giai đoạn cho HCC
được đề xuất. Tuy nhiên chưa có một hệ thống phân loại nào được coi là toàn
diện và được thống nhất quốc tế về sử dụng hệ thống phân loại đánh giá giai
đoạn bệnh trong thực hành lâm sàng chung cũng như trong các nghiên cứu về
HCC trên toàn thế giới. Tuy nhiên trong số đó thì phân chia giai đoạn
Barcelona (BCLC) là hệ thống đang được sử dụng rộng rãi nhất.
Phân loại BCLC dựa vào 3 tiêu chí:
1. Đặc điểm khối u (kích thước, số lượng, xâm lấn xung quanh)
2. Chức năng gan (Child-Pugh)
3. Thể trạng chung PTS (performance status)
Bảng 1.1: Phân loại giai đoạn Barcelona
BCLC
Đặc điểm khối u
0
Một khối, kích thước < 2cm
Không có tăng áp lực tĩnh mạch cửa
A
1-2
D
Bất kỳ trạng thái nào
C
3-4
20
Bảng 1.2: Bảng điểm Child - Pugh
Child-Pugh
Dịch ổ bụng
Billirubin TP - mg/dl (μmol/l)
Albumin (g/dl)
PT INR
Hội chứng não - gan
Child A: 5-6 điểm
1 điểm
Không
3.5
tốt về tỷ lệ tử vong của HCC. Tuy nhiên người ta thường dùng hệ thống phân
chia giai đoạn này như một mô hình tham khảo về lựa chọn phương pháp điều
trị phù hợp tương ứng với 4 giai đoạn bệnh kể trên.
1.5. Các phương pháp điều trị ung thư biểu mô tế bào gan
Trước đây, phần lớn các bệnh nhân HCC được chẩn đoán bệnh ở giai
đoạn đã muộn, khi triệu chứng lâm sàng đã rõ, chức năng gan đã suy giảm
đáng kể. Vì vậy điều trị thường mang lại hiệu quả thấp. Tuy nhiên ngày nay
với sự phát triển của các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh cùng với việc mở rộng
các chương trình khám sàng lọc cho các đối tượng có nguy cơ cao, nhiều bệnh
nhân được phát hiện khi còn ở giai đoạn sớm, chưa có triệu chứng, u gan có
kích thước nhỏ và chức năng gan còn tốt; cùng với việc phát triển của nhiều
phương pháp điều trị mới thì việc điều trị u gan đang ngày một hiệu quả và
đem lại nhiều hi vọng mới cho bệnh nhân.
Trong các phương pháp điều trị u gan, được chia 2 nhóm chính: phương
pháp điều trị triệt căn và phương phương pháp điều trị tạm thời.
1.5.1. Điều trị triệt căn
1.5.1.1. Phẫu thuật cắt gan [32], [43]
Phẫu thuật cắt gan là chỉ định điều trị tối ưu cho các trường hợp HCC trên
nền gan lành. Các trường hợp này lại chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ ~5% số bệnh nhân.
Phương pháp cắt gan có thể cắt gan hạn chế, cắt hạ phân thùy, một thùy
gan. Các chống chỉ định của cắt gan bao gồm: nhiều khối, đã có di căn, xâm
lấn tĩnh mạch cửa hoặc tĩnh mạch gan, suy chức năng gan: vàng da, giảm
albumin, rối loạn đông máu, tăng áp lực tĩnh mạch cửa.
22
Chức năng gan, vị trí, kích thước khối u là những yếu tố chính ảnh
hưởng đến tiên lượng sau phẫu thuật. Những bệnh nhân có xơ gan Child –
Pugh A, Child – Pugh B, tỷ lệ sống sau phẫu thuật 3 năm tương ứng là 50%,
[32], [47], [48], [49]
Nguyên lý: Cồn tuyệt đối được tiêm trực tiếp vào khối u qua da. Cồn
tuyệt đối (Ethanol 98%) làm hoại tử tế bào theo hai cơ chế: gây mất nước cấp
làm nguyên sinh chất tế bào bị đông vón dẫn đến xơ hoá, cồn còn xâm nhập
vào mạch máu gây hoại tử tế bào nội mạc, gây ngưng kết tiểu cầu tạo hiện
tượng tắc mạch quanh u gây thiếu máu tổ chức u.
Thường sử dụng cồn 99,5%, lượng cồn mỗi lần tiêm từ 2-10ml.
Việc tiêm cồn có thể lặp lại 2 lần một tuần đến khi vùng tăng âm chiếm
toàn bộ khối u. Với khối u 3cm thường cần 6 lần, tối đa là 12 lần.
Đây là phương pháp khá an toàn, tỷ lệ biến chứng rất thấp (1-2%) , kỹ
thuật đơn giảm, rẻ tiền. Trong điều kiện nước ta hiện nay phương pháp này
đang được áp dụng tương đối rộng rãi.
Phương pháp tiêm Acid acetic qua da [32], [47], [50]
Tiêm acid acetic nồng độ 40%-50% vào khối u qua da cũng có tác dụng
gây hoại tử tổ chức u. Ngoài cơ chế giống Ethanol, còn có tác dụng phá hủy
các sợi Collagen tạo nên các vách trong và vỏ khối u, là nơi tiềm ẩn các tế bào
ung thư. Acid acetic còn có khả năng khuếch tán vào khối u tốt hơn cồn vì
vậy làm tăng khả năng tiêu hủy khối u gấp 3 lần so với tiêm Ethanol.
24
Phá huỷ bằng đông lạnh (Cryoablation) [47], [51]
Nguyên lý: Phương pháp này tiêu hủy khối u bằng cách hạ nhiệt độ tổ
chức u xuống thấp, nước trong tế bào, ngoài tế bào, những mạch máu nhỏ
đông vón lại dưới dạng tinh thể gây chết tế bào và hoại tử tổ chức. Quá trình
tan đông đột ngột làm các tế bào bị vỡ.
Cho đến nay việc áp dụng phương pháp này trong điều trị HCC vẫn còn
hạn chế vì chưa có thử nghiệm lâm sàng chứng minh. Ngoài ra, một số tác giả
khuyến cáo đề phòng biến chứng “ sốc lạnh - cryoshock” của phương pháp
mạch cửa. Khi gây tắc động mạch gan, khối u sẽ mất nguồn nuôi dưỡng dẫn
đến bị hoại tử và giảm phát triển. Hóa chất chống ung thư trộn đều với
lipiodol tạo thành nhũ dịch và được bơm vào nhánh động mạch nuôi khối u
đến khi khối u ngấm đầy thuốc. Nhánh động mạch này được gây tắc bằng
spongel. Spongel gây tắc dòng máu nuôi khối u, làm chậm tẩy rửa hỗn hợp
lipiodol- hóa chất. Tổ chức HCC có ái lực với lipiodol nên hỗn hợp trên được
lưu giữ lại và tác động vào tế bào ung thư.
Chỉ định: TACE được áp dụng cho HCC không có chỉ định phẫu thuật
hoặc bệnh nhân từ chối phẫu thuật. Chống chỉ định: xơ gan Child C, huyết
khối tĩnh mạch cửa, có di căn ngoài gan, tắc mạch, suy thận, dị ứng với iod và
có các bệnh phối hợp.
1.5.3. Điều trị hệ thống toàn thân [32], [48]
Đối với các trường hợp ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn tiến triển
mà không còn phù hợp với điều trị triệt căn và điều trị tạm thời hóa tắc mạch,
các phương pháp điều trị toàn thân
- Hóa trị liệu đường tĩnh mạch: hóa chất thường được sử dụng là
Doxorubicin, 5-Fluouracil, Cisplatin, Mitomicin C, Fluorodeoxyuridin.. Các
hóa chất chống ung thư cũng có thể dùng qua đường động mạch gan, tuy
nhiên hiệu quả không hơn nhiều so với dùng bằng đường toàn thân.