Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn Tp.HCM (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
……………….../……………..

BỘ NỘI VỤ
……/………

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ MINH DUẨN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

TP Hồ Chí Minh - Năm 2017

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
……………….../……………..

BỘ NỘI VỤ
……/………

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ MINH DUẨN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG TRÊN

3


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................. 7
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................ 7
2. Tình hình nghiên cứu luận văn............................................................ 10
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn ....................................................... 11
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn .............. 11
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn ............ 12
6. Đóng góp của luận văn ........................................................................ 12
7. Kết cấu của luận văn ........................................................................... 13
CHƯƠNG I ............................................................................................ 14
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI MÔI
TRƯỜNG ............................................................................................... 14
1.1. Tổng quan về quản lý nhà nước đối với môi trường .................. 14
1.1.1.Khái niệm môi trường ................................................................. 14
1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về môi trường .............................. 17
1.1.3. Những thách thức, các sự kiện và quan điểm của quốc tế về môi
trường ................................................................................................... 18
1.2. Quản lý nhà nước đối với môi trường .......................................... 23
1.2.1. Mục tiêu của quản lý nhà nước về môi trường .......................... 23
1.2.2. Nguyên tắc của quản lý nhà nước về môi trường ...................... 24
1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về môi trường ................................ 25
1.2.4. Sự cần thiết của quản lý nhà nước về môi trường ..................... 26
1.3. Kinh nghiệm một số nước Châu Á trong quản lý nhà nước về bảo vệ
môi trường và bài học đối với thành phố Hồ Chí Minh .................... 27
1.3.1. Kinh nghiệm Singapore ............................................................. 27
1.3.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc.................................................... 31
1.3.3. Bài học đối với thành phố Hồ Chí Minh.................................... 34

2.2.2.8. Thiết lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực môi trường ...... 65
2.3. Đánh giá kết quả quản lý nhà nước về môi trường .................... 68
2.3.1. Các kết quả đạt được .................................................................. 68
2.3.2. Các mặt hạn chế trong việc quản lý nhà nước về môi trường ... 72
2.3.3. Nguyên nhân hạn chế ................................................................. 74
CHƯƠNG 3: .......................................................................................... 78
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .. 78

5


3.1. Quan điểm cơ bản của Đảng và nhà nước ta về bảo vệ môi trường
................................................................................................................. 78
3.1.1. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc ........................................ 78
3.1.2. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương khóa X tại đại hội
XI.......................................................................................................... 79
3.1.3. Nghị quyết và Chỉ thị của Bộ Chính trị ................................... 80
3.1.4. Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020 và định
hướng đến năm 2030 ............................................................................ 83
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi
trường tại thành phố Hồ Chí Minh ..................................................... 85
3.2.1. Các giải pháp chung................................................................. 85
3.2.2. Các giải pháp cụ thể ................................................................. 87
3.2.2.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về môi
trường tại thành phố Hồ Chí Minh....................................................... 87
3.2.2.2. Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí
Minh ..................................................................................................... 89
3.2.2.3. Kiện toàn cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ....... 89
3.2.2.4. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức

nước biển dâng …đang từng ngày, từng giờ tác động xấu đến cuộc sống, sinh
hoạt của con người. Để phòng ngừa, ứng phó với những vấn đề trên, các quốc
gia đã cùng nhau thảo luận, thống nhất đưa ra những quy định chung làm căn
cứ để mỗi nước có nghĩa vụ chấp hành, tuân thủ. Căn cứ vào luật pháp quốc
tế và điều kiện thực tế về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, phong tục tập
quán riêng của mỗi nước… đã xây dựng, ban hành Luật và các văn bản hướng
dẫn thi hành để điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân, tổ chức. Nhưng để các
văn bản pháp luật mới ban hành đi vào cuộc sống thì cần phải tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục để mọi người biết và thực hiện; khi hiểu rõ, hiểu đúng các
quy định của pháp luật thì hành động mới đúng; Nhận thức đúng về tầm quan
trọng của tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường
nên Đảng và Nhà nước đã quy định cụ thể trong các chủ trương, đường lối,
nghị quyết và các văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể (Khoản 1 Điều 6, và
Điều 154, Luật Bảo vệ môi trường 2014; giải pháp thực hiện trong Nghị quyết

7


số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước).
Quản lý nhà nước về môi trường ở nước ta trong thời gian qua đã đạt
được những kết quả quan trọng. Nhiều chính sách, văn bản pháp luật về bảo
vệ môi trường đã được ban hành như Luật Bảo vệ môi trường năm 2014;
Nghị định số 117/2009/NĐ-CP của Chính phủ thay thế Nghị định số
81/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 28 tháng 6 năm
1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong quá
trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 41-NQ/TW
của Bộ Chính trị ngày 15 tháng 11 năm 2004 về bảo vệ môi trường trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Hệ thống bộ máy

cuộc xây dựng và đổi mới đất nước. Song cũng chính trong quá trình ấy đã
phát sinh rất nhiều vấn đề tác động đến môi trường nói chung và môi trường
thành phố nói riêng. Hoạt động của các khu công nghiệp, khu chế xuất; các
dự án đầu tư, rác thải y tế… đã được các ngành chức năng khảo sát và lên
tiếng cảnh báo, trong đó loại ô nhiễm do các khu công nghiệp, khu chế xuất
gây ra đã đến mức báo động, làm ô nhiễm nguồn nước, tạo ra nhiều khí thải,
bụi và rác. Chính từ đó, càng khẳng định phát triển kinh tế - xã hội nếu không
đặt trong yếu tố bền vững, không lồng ghép hữu cơ với bảo vệ môi trường thì
sẽ dẫn đến hậu quả thiệt hại nghiêm trọng đối với môi trường sống của con
người, cũng như đối với bản thân nền kinh tế - xã hội đó. Phát triển kinh tế xã hội là con đường đi lên tất yếu của mỗi nước, nhất là các nước đang phát
triển như nước ta, nhưng cần phát triển theo mô hình bền vững, đó là sự phát
triển mạnh mẽ, liên tục của nền kinh tế, đồng thời với việc lành mạnh hóa xã
hội và bảo vệ môi trường.
Qua đó, có thể thấy rằng, để xây dựng và phát triển đất nước theo định
hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, không thể vì

9


mục đích kinh tế và lợi nhuận trước mắt mà chấp nhận hy sinh môi trường,
bởi lẽ nếu đánh mất môi trường cũng đồng nghĩa với việc sự sống không phát
triển. Con người cũng như tất cả mọi sinh vật khác không thể đình chỉ tiến
hóa và ngừng sự phát triển của mình. Con đường để giải quyết mâu thuẫn
giữa môi trường và phát triển là phải chấp nhận phát triển, nhưng giữ sao cho
phát triển không tác động một cách tiêu cực tơi môi trường, hướng tới phát
triển bền vững.
Với những thực tiễn nêu trên, vấn đề quản lý nhà nước về môi trường
hiện nay ở một số địa phương còn nhiều bất cập, trong đó có thành phố Hồ
Chí Minh. Vì lý do đó, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về môi
trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn thạc sỹ quản

Đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về môi trường
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ:
- Hệ thống lý luận: Xây dựng cơ sở lý luận về môi trường, quản lý nhà
nước về môi trường, phát triển bền vững.
- Đánh giá tác động: đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về môi
trường tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất: Tác giả đưa ra những phương hướng và các giải pháp làm tốt
công tác quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Quản lý nhà nước về môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: tác giả nghiên cứu đề tài trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh.
- Thời gian: Giai đoạn 2014-2016

11


- Nội dung: Quản lý nhà nước về môi trường tại thành phố Hồ Chí
Minh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1. Phương pháp luận:
Cơ sở phương pháp luận cho đề tài nghiên cứu là học thuyết chủ nghĩa
duy vật lịch sử.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu.

trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

13


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI MÔI
TRƯỜNG
1.1. Tổng quan về quản lý nhà nước đối với môi trường
1.1.1. Khái niệm môi trường
“Môi trường” là khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều cách
khác nhau bởi nhiều tác giả và ở những thời điểm khác nhau, đặc biệt là sau
Hội nghị Stockhom về môi trường năm 1972.
Theo tác giả S.V Kalenski (1959,1970) thì: môi trường chỉ là môi
trường có quan hệ một cách gần gủi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất
của con người. Định nghĩa này về môi trường là muốn nói đến môi trường địa
lý; Nhưng I.P Ghenraximou (1972) thì định nghĩa về môi trường có khác hơn:
Môi trường là khung cảnh của lao động, của cuộc sống riêng tư của con
người, trong đó môi trường tự nhiên là cơ sở cho sự cần thiết cho sự tồn tại
của nhân loại; R.G Shama (1998) đã đưa ra định nghĩa về môi trường như
sau: “Môi trường là tất cả những gì xung quanh con người”.
Báo cáo toàn cầu công bố năm 1982 đã nêu ra định nghĩa sau đây:
“Môi trường là những vật thể vật lý và sinh học bao quanh con người…mối
quan hệ giữa loài người và môi trường của nó chặt chẽ đến mức mà sự phân
biệt giữa cá thể con người với môi trường bị xóa nhòa đi”.
Trong cuốn “Địa lý hiện tại và tương lai, hiểu biết về quả đất hành tinh
của chúng ta” Magnard. P (1980) đã nêu khái niệm về môi trường như sau:
“Môi trường là tổng hợp, ở một thời điểm nhất định – các trạng thái vật lý –
hóa học sinh học và các yếu tố xã hội có khả năng gây ra một tác động trực
tiếp hay gián tiếp tức là theo thời kỳ ngắn hạn hay dài hạn đối với các sinh vật

đất là bộ phận có ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất. Trong môi trường sống
này luôn tồn tại sự tương tác giữa các thành phần vô sinh và hữu sinh.

15


Môi trường luôn chịu sự tác động của con người theo một trong hai
chiều, có thể là tiêu cực, có thể là tích cực. Con người sử dụng các tài nguyên
thiên nhiên phục vụ cho lợi ích của mình nhưng con người cũng có những tác
động gây ra những hậu quả tiêu cực cho môi trường; các hoạt động công
nghiệp hóa, phát triển kinh tế đã gây ra những hậu quả suy thoái môi trường
một cách trầm trọng, làm cho tài nguyên môi trường ngày càng cạn kiệt, ô
nhiễm nặng nề.
Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một
môi trường. Nói đến môi trường tức là nói đến môi trường của một vật thể,
một sự kiện nhất định. Khái niệm chung như vậy về môi trường được cụ thể
hóa đối với từng đối tượng và mục đích nghiên cứu.
Trong nghiên cứu về cơ thể sống người ta quan tâm tới “Môi trường
sống của con người”, đó là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học,
xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của các cá nhân
và cộng đồng con người. Đối tượng nghiên cứu của khoa học môi trường nêu
trong tài liệu này chính là môi trường sống của con người. Thuật ngữ “Môi
trường” thường được dùngng một cách phổ biến để nói “môi trường sống của
con người”.
Các định nghĩa nêu trên tuy khác nhau về quy mô, giới hạn và thành
phần của môi trường, nhưng điều thống nhất ở bản chất hệ thống của môi
trường và mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Các bản chất đó là:
Tính cấu trúc phức tạp: Hệ thống môi trường bao gồm nhiều phần tử hợp
thành. Các phần tử đó có bản chất khác nhau (tự nhiên, kinh tế, dân cư, xã
hội) và bị chi phối bổi các quy luật khác nhau, đôi khi đối lập nhau. Các phần

chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi
trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội của quốc gia.

17


1.1.3. Những thách thức, các sự kiện và quan điểm của quốc tế về môi
trường
- Những thách thức
Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế với các nước trong
khu vực và thế giới, Việt Nam đang đức trước các thách thức về phát triển
kinh tế cũng như những thách thức về môi trường. Tuy nền kinh tế nước ta đã
có bước phát triển trong những năm đổi mới, song vẫn đang ở trình độ thấp,
mức sống của người dân còn thấp, khả năng cạnh tranh trên thị trường thế
giới và khu vực còn yếu. Kinh tế khó khăn dẫn đến việc khai thác bừa bãi tài
nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế, đảm bảo nhu cầu tối thiểu của cuộc
sống.
Áp lực dân số, việc làm và quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước dẫn tới việc khai thác, sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên;
chất thải công nghiệp và sinh hoạt ngày một tăng. Đây là nguy cơ đe dọa đến
môi trường sinh thái. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ,
nhân dân thiếu ý thức tự giác và bộ máy quản lý kém hiệu lực có ảnh hưởng
tiêu cực đến chiến lược phát triển bền vững cũng như vấn đề bảo vệ môi
trường ở nước ta.
Công việc bảo vệ tài nguyên và môi trường không phải là những hành
động quá to lớn, xa vời mà bảo vệ môi trường bất đầu từ những hành động
nhỏ thường ngày. Ở Việt Nam, chúng ta không thể phủ nhận những thành quả
mà việc phát triển kinh tế thị trường đã mang lại như: khai thác được tiềm lực
của các thành phần kinh tế, thúc đẩy sự cạnh tranh làm tăng năng suất lao
động, nâng cao chất lượng hàng hóa, giảm giá thành sản phẩm, bước đầu điều

tội vạ vào môi trường. Kinh tế thị trường làm cho chủ các cơ sở sản xuất lóa
mắt vì lợi nhuận thu được và họ cố tình làm ngơ trước sự phá hoại môi trường
của mình.

19


Một thách thức lớn đối với quản lý Nhà nước về môi trường hiện nay
đó là sự tăng trưởng dân số. Đến năm 2020 ở nước ta xắp xỉ 100 triệu người.
Có nghĩa là nước ta phải bảo đam cuộc sống cho thêm gần 20 triệu người,
tương đương với số dân của cả nước năm 1945. Điều này gây sức ép quá tải
đối với tài nguyên môi trường của nước ta.
Chính sách di dân và phân bố lại dân cư trong thời kỳ đổi mới, phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước đã góp phần tạo công ăn việc làm cho
người dân, phát triển kinh tế vùng, góp phần tăng trưởng và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế. Song mặt trái của nó cũng rất lớn do công tác xây dựng và thực
hiện kế hoạch di dân chưa đầy đủ và đồng bộ nên nạn chặt phá rừng bừa bãi
làm vật liệu xây dựng nhà ở mới, tự lập các khu định cư không có cơ sở hạ
tầng đã gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội.
Công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước với tốc độ nhanh sẽ đòi hỏi
nhu cầu về năng lượng và nguyên liệu ngày càng lớn, đồng thời tình trạng suy
thoái và ô nhiễm môi trường cũng theo xu thế phát triển tăng lên. Chất lượng
môi trường có khả năng xấu đi mà ngày càng nghiêm trọng nếu không có biện
pháp quản lý đồng bộ theo quy hoạch, có hiệu quả như: Các đô thị và các khu
công nghiệp, các cảng biển, vùng biển ven bờ, vùng bị khai thác trắng chưa
được quan tâm, đầu tư thỏa đáng về bảo vệ, gìn giữ môi trường sinh thái và
tài nguyên.
Sự không đồng điều về quy mô và mức độ phát triển giữa các vùng
trong thời gian tới sẽ cao hơn, phạm vi suy thoái ô nhiễm môi trường rộng
hơn, làm tăng tính bức xúc của công tác quản lý môi trường. Việc tiếp cận

nặng nề, khoáng sản bị khai thác bừa bãi. Đất đai bị xói mòn và thoái hóa; đa
dạng trên đất liền và trên biển điều bị giảm. Nguồn nước mặt và nước ngầm
đang ngày càng bị ô nhiễm và cạn kiệt, vùng biển đã bắt đầu bị ô nhiễm.
Nhiều đô thị và khu công nghiệp bị ô nhiễm do nước thải, khí thải, chất thải
rắn…Điều kiện vệ sinh môi trường ở nông thôn quá thấp kém, tiêu chuẩn an

21


toàn lao động và an toàn thực phẩm còn bị vi phạm. Các sự cố môi trường
ngày càng gia tăng…đang là những thách thức gay gắt đối với sự nghiệp bảo
vệ môi trường ở nước ta hiện nay [1].
- Các sự kiện và quan điểm của quốc tế về môi trường
Năm 1972 tại Hội nghị quốc tế “Môi trường con người” ở Stockholm,
Thụy Điển, nhân loại nhận ra rằng Trái đất, cái nôi của sự sống đã bị tổn
thương, bị chính con người hủy hoại. Cho rằng, “việc bảo vệ và cải thiện môi
trường là vấn đề quan trọng tác động đến hạnh phác của mọi người và sự phát
triển kinh tế trên toàn thế giới”. Tuyên bố Stockholm xác nhận “bảo vệ và cải
thiện môi trường là là mục tiêu cấp bách của nhân loại”, rằng cần phải “tôn
trọng quyền con người được sống tron môi trường bảo đảm chất lượng, được
tôn trọng và hạnh phúc”.
Năm 1987, Ủy ban Môi trường và phát triển quốc tế đã công bố báo
cáo “Tương lai chung của chúng ta” khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa
môi trường và phát triển. Báo cáo đưa ra định nghĩa phát triển bền vững mà
đến nay vẫn được sử dụng rộng rãi: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp
ứng dược các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp
ứng các nhu cầu của các hệ thống tương lai”.
Năm 1992, tại Rio de Janeiro, Brazil, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất
“Môi trường và phát triển” đã xác nhận phát triển bền vững là con đường tất
yếu của nhân loại và thông qua Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21), chương

Mục tiêu cơ bản của quản lý nhà nước về môi trường là hướng tới sự
phát triển bền vững, đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và
bảo vệ môi trường. Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hệ
thống pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên của từng địa phương mà mục tiêu
quản lý môi trường thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên riêng.
Mục tiêu cơ bản của quản lý môi trường ở nước ta trong giai đoạn công
nghiệp háo và hiện đại hóa đất nước hiện nay là “ngăn ngừa ô nhiễm môi

23


trường, phục hồi và cải thiện môi trường ở những nơi, những vùng đã bị suy
thoái, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô
thị, nông thôn, góp phần phát triển kinh tế, xã hội bền vững, nâng cao chất
lượng đời sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nhiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước”.
Mục tiêu cụ thể:
Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường trong các
hoạt động đời sống của con người.
Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về môi trường, ban hành các
chính sách và phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với bảo vệ môi trường,
nghiêm chỉnh thi hành Luật Bảo vệ môi trường.
Phát triển đất nước theo các nguyên tắc phát triển bền vững được thông
qua tại Hội nghị môi trường do Liên Hợp Quốc tổ chức năm 1992 tại Rio de
Janeiro, Braxin và Johannesburg Nam Phi năm 2002.
Xây dựng các công cụ hữu hiệu vế quản lý môi trường quốc gia, các
vùng lãnh thổ riêng biệt.
1.2.2. Nguyên tắc của quản lý nhà nước về môi trường
Tiêu chí chung của quản lý môi trường là đảm bảo quyền được sống
trong môi trường trong lành, phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước,

Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi
trường; giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tồ cáo về bảo vệ môi trường; xử
lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường; giáo dục, tuyên
truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường.
Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh
vực về bảo vệ môi trường.
Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực về bảo vệ môi trường.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status