Tổ chức và hoạt động của TAND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ VĂN VƯƠNG

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

…………/…………

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ VĂN VƯƠNG

LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu
lý luận và tích lũy kinh nghiệm thực tế của tác giả. Trước hết, cho phép tôi
được gửi tới Ban giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia; các thầy, cô giáo
Khoa sau đại học trường Học viện Hành chính Quốc gia lời chúc sức khỏe và
lời cảm ơn chân thành. Những kiến thức mà các thầy, cô giáo đã truyền đạt
trong quá trình học tập vô cùng hữu ích đối với tôi trong học tập, công tác và
trong đời sống; đặc biệt là trong quá trình tôi thực hiện luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc đến TS. Nguyễn
Quang Vỹ - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ và động viên tôi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này.
Luận văn của tôi chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định.
Tôi rất mong nhận được sự đánh giá và góp ý của quý thầy, cô trong Hội đồng
đánh giá luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật
Hành chính – Học viện Hành chính Quốc gia để tôi tiếp tục hoàn thiện tốt hơn
luận văn của mình.
Xin trân trọng cảm ơn!
Quảng Ngãi, ngày 23 tháng 7 năm 2017
Học viên

Lê Văn Vương


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1

Chương 2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI .............. 39
2.1. Khái quát về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện từ năm
1945 đến năm 2013 .......................................................................................... 39
2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 ............................................... 39
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980 ............................................... 45
2.1.3. Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992 ............................................... 47
2.1.4. Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2002 ............................................... 49
2.1.5. Giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2013 ............................................... 50
2.2. Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh
Quảng Ngãi ...................................................................................................... 53
2.2.1. Tình hình tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện ...... 53
2.2.2. Đánh giá về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện
trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ................................................................ 59
Tiểu kết chương 2................................................................................................. 71
Chương 3. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC, BẢO ĐẢM
HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG NGÃI .......................................................................................... 72


3.1. Quan điểm về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện đáp
ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ...... 72
3.1.1. Về quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng ................... 73
3.1.2. Về thẩm quyền xét xử và công tác nhân sự ....................................... 74
3.1.3. Về điều kiện cơ sở vật chất ................................................................ 75
3.2. Giải pháp hoàn thiện tổ chức, bảo đảm hoạt động của Tòa án nhân dân
cấp huyện đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam .......................................................................................................... 76
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân cấp huyện76

số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020”, Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/07/2010 của Bộ Chính
trị, Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục thực
hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khoá IX về
1


Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XI xác định việc tổ chức và hoạt động của Tòa án cần hoàn thiện
đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và tiến trình cải cách
tư pháp. Trong đó nhấn mạnh: kiện toàn tổ chức và cán bộ, nghiên cứu tăng
thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân cấp huyện theo hướng việc xét xử sơ
thẩm được thực hiện chủ yếu ở Toà án cấp này. Tòa án nhân dân (TAND) cấp
huyện chiếm số lượng lớn nhất và có vị trí rất quan trọng trong hệ thống
TAND, vì vậy việc tổ chức và hoạt động như thế nào, hiệu quả ra sao nhằm
nâng cao vị trí và thực hiện tốt vai trò của TAND cấp huyện cũng như đáp
ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là vấn đề được Đảng, nhà
nước và nhân dân ta vô cùng quan tâm; đặc biệt trong điều kiện xây dựng:
“Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của
Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” [49, tr.8].
Tuy nhiên, tổ chức và hoạt động của TAND nói chung và TAND cấp
huyện nói riêng trong thời gian qua cũng đặt ra những vấn đề cần giải quyết
có tính khoa học cả về mặt lý luận và thực tiễn. Cụ thể, về thành lập các Tòa
chuyên trách tại TAND cấp huyện; vấn đề đổi mới việc tranh tụng tại phiên
tòa; về thủ tục rút gọn quy định trong tố tụng dân sự; về cải cách thủ tục hành
chính tư pháp... Vì vậy, đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND các cấp nói
chung, của TAND cấp huyện nói riêng có ý nghĩa quan trọng nhằm đáp ứng
yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Đề tài luận văn cao học: “Tổ
chức và hoạt động của TAND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đáp

nghiên cứu đề tài “Tổ chức và hoạt động của TAND cấp huyện trên địa bàn
tỉnh Quảng Ngãi đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam” không trùng lặp với bất kỳ đề tài nào trước đây và là đề tài có tính lý
luận, thực tiễn cao trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
hiện nay.
3


3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Mục đích của Luận văn là làm sáng tỏ vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức
và hoạt động của TAND cấp huyện trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam; đánh giá một cách có căn cứ và khoa học về thực
trạng tổ chức và hoạt động của TAND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu
quả tổ chức và hoạt động của TAND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi,
đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
- Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn đặt ra các nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động TAND trong điều
kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt
động của TAND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; đánh giá những
thành công, đặc biệt tìm ra những bất cập, vướng mắc trong tổ chức và hoạt
động của TAND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
+ Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm khắc phục những tồn tại,
vướng mắc để hoàn thiện cơ cấu tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của
TAND cấp huyện nói chung và TAND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi nói riêng đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt

- Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện nhiệm vụ nêu trên, Luận văn sử dụng các phương pháp
chủ yếu sau: Phương pháp phân tích tài liệu, thu thập và xử lý thông tin, so
sánh, thống kê, tổng hợp, sử dụng phương pháp phân tích định tính để từ đó
phân tích định lượng làm rõ những kết quả đạt được.
5


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận:
Đề tài luận văn sẽ hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động
của TAND cấp huyện để có cái nhìn tổng thể, cụ thể về cơ cấu tổ chức và
phương thức hoạt động của TAND cấp huyện, từ đó làm rõ những điểm phù
hợp, cũng như hạn chế, chưa phù hợp cần hoàn thiện trong điều kiện xây
dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quan điểm lý luận và thực trạng tổ
chức và hoạt động của TAND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, Luận
văn xây dựng hệ thống quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện
cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của TAND cấp huyện trên địa bàn
tỉnh Quảng Ngãi đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của TAND cấp huyện
trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của TAND cấp huyện trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt

ban hành hiến pháp, pháp luật; của cơ quan hành pháp là tổ chức thực hiện
pháp luật để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trong giới hạn mà pháp
7


luật quy định. Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, hiện tượng
xâm phạm hiến pháp và pháp luật luôn là một nguy cơ trong đời sống xã hội.
Để bảo vệ pháp luật, khôi phục trật tự pháp luật bị xâm phạm là một đòi hỏi
khách quan của xã hội, từ đó hình thành nên hoạt động bảo vệ pháp luật là nội
dung cơ bản của quyền tư pháp.
Hoạt động xét xử của Tòa án là lĩnh vực thể hiện tập trung của quyền tư
pháp. TAND là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ
công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo
vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
1.1.2. Đặc điểm của Tòa án nhân dân cấp huyện
Thứ nhất, TAND cấp huyện là một bộ phận của TAND
Tòa án được thành lập để nhân danh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
thực hiện chức năng xét xử.
Tổ chức TAND gồm có: TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương (gọi tắt TAND cấp tỉnh), TAND huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (gọi tắt TAND cấp huyện),
Tòa án quân sự. Tổ chức Tòa án quân sự gồm có: Tòa án quân sự trung ương,
Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực [41].
Như vậy, TAND cấp huyện là một bộ phận của hệ thống TAND thực
hiện chức năng xét xử ở phạm vi lãnh thổ cấp huyện. Đây là cấp Tòa án thực
hiện xét xử thấp nhất tại địa phương đối với các vụ án được pháp luật quy
định. Vì vậy, TAND cấp huyện cần phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ
trong việc giải quyết những vụ việc thuộc thẩm quyền của mình theo yêu cầu
của cá nhân, tổ chức hoặc theo các trường hợp khác mà pháp luật quy định để
vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật tố tụng hành chính năm 2015 và một số
văn bản pháp luật có liên quan khác.
9


Thứ ba, TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
TAND cấp huyện có vị trí quan trọng trong việc giữ vững an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh
tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; TAND là chỗ dựa của nhân
dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, đồng thời là công cụ
hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế XHCN, đấu tranh có hiệu quả với các
loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời nâng cao ý thức pháp
luật và giáo dục trong xã hội. Nhiệm vụ này của TAND cấp huyện được
khẳng định trong Hiến pháp năm 2013 và cũng là nhiệm vụ của hệ thống
TAND nói chung. TAND cấp huyện là cơ quan nhân danh nhà nước ra các
phán quyết ảnh hưởng đến lợi ích của tổ chức, cá nhân, nhà nước trong phạm
vi thẩm quyền của mình, vì vậy TAND cấp huyện cần thực hiện tốt chức năng
này của mình để lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người
dân, tổ chức được bảo đảm.
Những đặc điểm trên cho thấy Tòa án nói chung, TAND cấp huyện nói
riêng đóng vai trò quan trọng, chủ chốt trong bộ máy nhà nước ta. Tòa án
nhân danh nhà nước đưa ra phán quyết khi xét xử, thể hiện quan điểm của nhà
nước ta về quyền công dân, quyền con người, những giá trị được pháp luật
bảo vệ và đưa pháp luật do nhà nước ban hành áp dụng vào xã hội. Phán
quyết của TAND cấp huyện thể hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà
nước và cụ thể hóa cho khẳng định mà Hiến pháp đặt ra “Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” [49, tr.8]. Việc quy định về số lượng

Trên cơ sở những thành tựu mới của khoa học xã hội, trong đó có triết
học, sử học và xã hội học, với phương pháp luận duy vật biện chứng và duy
11


vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ănghen đã xây dựng luận thuyết về nguồn gốc nhà
nước. Theo đó, nhà nước không phải là hiện tượng xã hội vĩnh cữu và bất
biến, nhà nước cũng không phải là lực lượng từ bên ngoài áp đặt vào xã hội,
nó xuất hiện một cách khách quan, khi xã hội đã phát triển đến một giai đoạn
nhất định. Có nhiều nhân tố tác động dẫn đến sự ra đời của nhà nước, trong đó
nhân tố kinh tế và xã hội giữ vai trò quyết định.
Về kinh tế, lực lượng sản xuất phát triển không ngừng và đến giai đoạn
nhất định thì chế độ tư hữu xuất hiện thay cho chế độ công hữu nguyên thủy
đã tồn tại rất lâu trong hình thái kinh tế xã hội đầu tiên của loài người. Tình
trạng bất bình đẳng về kinh tế, khả năng người này có thể chiếm đoạt lợi ích
kinh tế của người khác đã làm phát sinh những mâu thuẫn và đối kháng, đòi
hỏi phải có thiết chế nhà nước có đủ sức mạnh để duy trì trật tự xã hội. Về xã
hội, những thay đổi về kinh tế đã tác động làm biến đổi quan hệ xã hội. Kết
cấu xã hội thay đổi, chế độ thị tộc được xây dựng trên cơ sở huyết thống bị
phá vỡ, gia đình xuất hiện và dần dần thay thế chế độ thị tộc. Sự xuất hiện
giai cấp đã dẫn tới mâu thuẫn và đối kháng. Đấu tranh giai cấp diễn ra không
ngừng và ngày càng gay gắt, trật tự xã hội bị đe dọa, đòi hỏi phải có nhà nước
có khả năng làm dịu bớt các xung đột và giữ cho sự xung đột đó xảy ra trong
vòng trật tự. Như vậy, trong xã hội công xã nguyên thủy nhà nước chưa xuất
hiện.
Xã hội chế độ thị tộc không biết đến mâu thuẫn nội tại và chỉ thích hợp
với những đặc điểm của xã hội đó thì khi xã hội có những đặc điểm mới với
sự phân công giai cấp, các giai cấp mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt với nhau
để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình. Tổ chức thị tộc đã trở nên bất lực, không
phù hợp để quản lý xã hội nữa. Xã hội đòi hỏi phải có tổ chức mới đủ mạnh

được chuyển tải đến các đối tượng khác trong xã hội, giúp họ nhận thức, nâng
cao ý thức pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
13


TAND cấp huyện là một bộ phận trong hệ thống TAND, có vị trí rất
quan trọng trong bộ máy nhà nước, là nơi thể hiện công lý trong xã hội. Hoạt
động xét xử là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước để xem xét, đánh giá
và phán quyết tính đúng đắn của hành vi pháp luật hay tính công bằng trong
các tranh chấp giữa các bên liên quan. Đặc trưng cơ bản của hoạt động xét xử
là Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước và sự nhân danh quyền lực nhà nước
đã làm cho các bản án, quyết định do Tòa án ban hành được bảo đảm thực thi
bởi nhà nước thông qua các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Bằng hoạt động
của mình, TAND cấp huyện còn góp phần giáo dục công dân trung thành với
Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những nguyên tắc của
cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các hành
vi vi phạm pháp luật khác.
1.3. Nhiệm vụ, thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
Tòa án nhân danh nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam xét xử các vụ
án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động,
hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét
đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong
quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có
tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư
pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân. Bản án,
quyết định của TAND có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá
nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp
hành.
TAND cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự
về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất

TAND năm 2014 thì nhiều nội dung quan trọng về cơ cấu tổ chức của TAND,
về Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên đã được sửa đổi, bổ sung, cụ
15


thể như sau:
Thứ nhất, về cơ cấu tổ chức: Điều 3 của Luật Tổ chức TAND năm
2014 quy định cơ cấu tổ chức TAND bao gồm: TAND tối cao, TAND cấp
cao, TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh và tương đương và Tòa án quân sự. Như vậy, Tòa án
được tổ chức trong một hệ thống thống nhất là hệ thống TAND, gồm các
TAND và các Tòa án quân sự. Trong đó, các TAND được tổ chức gồm 4 cấp
theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính theo định
hướng đã được xác định trong Nghị quyết số 49-NQ/TW và Kết luận số 79KL/TW của Bộ Chính trị. Việc tổ chức các TAND theo hướng này là phù hợp
với các nguyên tắc về tổ chức của cơ quan thực hiện quyền tư pháp, đó là tổ
chức theo thẩm quyền xét xử, bảo đảm độc lập xét xử, góp phần khắc phục
những hạn chế, bất cập trong cơ cấu tổ chức của Tòa án hiện nay. Đây cũng là
phương thức để nâng cao vị trí, vai trò của Tòa án trong nhà nước pháp quyền
XHCN.
Thứ hai, về Thẩm phán: Ngạch của Thẩm phán TAND gồm Thẩm phán
TAND tối cao, Thẩm phán cao cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp;
nhiệm kỳ đầu của các Thẩm phán là 05 năm, trường hợp được bổ nhiệm lại
hoặc được bổ nhiệm vào ngạch Thẩm phán khác thì nhiệm kỳ tiếp theo là 10
năm; Về chế độ, chính sách đối với Thẩm phán: Công việc xét xử của Thẩm
phán là một loại lao động đặc biệt, khi xét xử, Thẩm phán không nhân danh
cá nhân hay Hội đồng xét xử mà nhân danh nhà nước để định tội danh, hình
phạt trong các vụ án hình sự, để phân định đúng, sai trong các vụ việc, tranh
chấp dân sự, hành chính, lao động, kinh doanh thương mại, hôn nhân và gia
đình. Khi xét xử, Thẩm phán phải tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc
nhất định, trong đó nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất là độc lập, chỉ tuân

vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích
17


của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Khi xét xử vụ
án hình sự, Tòa án có quyền xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành
vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá
trình điều tra, truy tố, xét xử; xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện
pháp ngăn chặn; đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; xem xét, kết luận về tính hợp
pháp của các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm
sát, Kiểm sát viên thu thập, do Luật sư, bị can, bị cáo và những người tham
gia tố tụng khác cung cấp; khi xét thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm
sát điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc
Tòa án kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự; yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người
khác trình bày về các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa; khởi tố vụ
án hình sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm. Khi giải quyết việc xử lý vi
phạm hành chính, Tòa án có quyền xem xét đề nghị của cơ quan quản lý nhà
nước và quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính liên quan đến
quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Tòa án có quyền ra quyết định hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ chấp
hành biện pháp xử lý hành chính do Tòa án áp dụng và thực hiện các quyền
hạn khác theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Thứ hai, về nhiệm vụ, quyền hạn, Chánh án có nhiệm vụ, quyền hạn
sau: Tổ chức công tác xét xử của TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh và tương đương; chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nguyên tắc Thẩm
phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; báo cáo công tác
trước Hội đồng nhân dân (HĐND) có thẩm quyền theo luật định và TAND
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo
quy định của luật tố tụng; giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status