Đánh giá kết quả điều trị nhược thị ở bệnh nhân trên 7 tuổi - Pdf 48

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhược thị là tình trạng thị lực kém gây ra do kích thích thị giác bất
thường trong những năm đầu phát triển của thị giác, làm ảnh hưởng đến sự
phát triển thần kinh bình thường của trung tâm thị giác ở vỏ não. Kích thích
bất thường có thể do hình ảnh trên võng mạc bị mờ hoặc do lác có định thị
một mắt và ức chế vỏ não ở mắt kia[1].
Nhược thị là bệnh hay gặp và là một trong những nguyên nhân hàng
đầu gây giảm thị lực ở trẻ em. Theo Von Noorden G.K tỷ lệ nhược thị chiếm
2 - 2,5% dân số [2], theo Stevens A và cộng sự tỷ lệ này dao động 2-5% [3].
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Hà Huy Tiến cho thấy tỷ lệ nhược thị
trong số trẻ em lác cơ năng là 50-60% [4] và theo Nguyễn Xuân Hồng là
27,4% [5], còn với nghiên cứu của Phạm Ngọc Bích tỷ lệ nhược thị ở những
bệnh nhân có tật khúc xạ là 30% [6].
Phần lớn các trường hợp nhược thị nếu được phát hiện sớm và điều trị
kịp thời đều có khả năng cải thiện được thị lực. Ngược lại, nhược thị nếu
không được điều trị sẽ gây ra giảm thị lực vĩnh viễn ảnh hưởng đến cuộc sống,
học tập và sinh hoạt của bệnh nhân.
Các nghiên cứu trước đây cho thấy nhược thị nếu được điều trị trước 8
tuổi, khi chức năng thị giác hai mắt đang hình thành và phát triển thì khả năng
hồi phục sẽ nhanh và nhiều hơn. Còn nếu nhược thị phát hiện và điều trị sau 8
tuổi thì khả năng phục hồi chức năng thị giác rất kém, nhiều tác giả cho rằng
nếu điều trị nhược thị được tiến hành sau 11 tuổi sẽ không mang lại kết quả [7].
Tuy nhiên, gần đây trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu cho
thấy việc điều trị nhược thị cho trẻ sau 8 tuổi, thậm chí sau 11 tuổi vẫn mang
lại kết quả [8]. Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào


2


Hợp thị phụ thuộc vào hai yếu tố:
+ Giác quan: thể hiện khả năng hợp nhất hai hình ảnh thành một
hình ảnh hoàn chỉnh duy nhất.
+ Vận động: thể hiện bằng khả năng hợp thị khi hai mắt cùng vận
động và ở một biên độ nhất định. Biên độ hợp thị bình thường từ - 40 đến
+250 (một số trường hợp có thể đến + 300).


4

- Phù thị: là khả năng nhận thức của hai mắt hai ảnh khác nhau một số
chi tiết tạo thành một hình ảnh duy nhất ba chiều không gian.
1.1.2. Cơ chế của thị giác hai mắt
Muốn cho vỏ não ghi nhận được một hình ảnh duy nhất, trước hết mỗi
mắt phải truyền lên não một hình ảnh chính xác của vật. Đó là giai đoạn thứ
nhất của cơ chế thị giác hai mắt [9]. Để hoàn tất được giai đoạn thứ nhất này
cần phải có các yếu tố sau đây:
- Sự toàn vẹn về giải phẫu và quang học của hai nhãn cầu để cho các ảnh
được tạo ra giống nhau, bằng nhau.
- Vật tiêu phải được hai mắt nhìn cùng lúc, do đó phải có một thị trường
chung của hai mắt.
- Cả hai võng mạc và đường dẫn truyền thị giác xuất phát từ võng mạc
phải hoạt động hài hòa (tương ứng võng mạc bình thường).
- Các cơ vận nhãn cũng như sự vận động nhãn cầu phải bình thường về
mặt giải phẫu và sinh lý.
- Trung khu thị giác phải hoạt động bình thường.
Giai đoạn hai vỏ não nhận hai xung động thần kinh xuất phát từ hai mắt
là khởi đầu giai đoạn thứ hai của cơ chế thị giác hai mắt nghĩa là hợp nhất hai
xung động thần kinh và bắt đầu một nhận thức duy nhất cuối cùng. Giai đoạn
này chưa được biết rõ hoàn toàn [9].


1.2.1. Định nghĩa
Nhược thị là tình trạng giảm thị lực ở một mắt hoặc hai mắt dưới mức
20/25 hoặc có sự khác biệt thị lực giữa hai mắt trên hai dòng của bảng thị lực, đã
được điều chỉnh kính tối ưu và không có nguyên nhân thực thể phù hợp [11].
Theo Kenneth W.Wright thì nhược thị là tình trạng thị lực kém gây ra do
kích thích thị giác bất thường trong những năm đầu phát triển của thị giác,
làm ảnh hưởng đến sự phát triển thần kinh bình thường của trung tâm thị giác
ở vỏ não [1].


6

1.2.2. Cơ chế bệnh sinh của nhược thị
Nhược thị là hậu quả của một quá trình sinh lý chỉ xảy ra ở thời kỳ cơ
quan thị giác chưa trưởng thành. Bất kỳ một nguyên nhân nào cản trở sự tạo
ảnh rõ nét trên võng mạc đặc biệt xảy ra trong giai đoạn từ sau khi sinh đến 6
tuổi đều có thể gây ra nhược thị[2].
Thị lực ở trẻ sơ sinh chỉ đạt mức bóng bàn tay đến đếm ngón tay do sự
chưa trưởng thành của hệ thần kinh và trung tâm thị giác trên vỏ não. Sự rõ
nét của hình ảnh trên võng mạc sẽ kích thích sự phát triển của hệ thần kinh thị
giác và làm cho thị lực tăng trong vài tháng đầu đời. Do vậy thị lực muốn phát
triển bình thường đòi hỏi sự tạo ảnh trên cả hai võng mạc phải rõ nét, sự thẳng
trục của hai nhãn cầu và sự phát triển bình thường của trung tâm thị giác trên
vỏ não. Sự phát triển này diễn ra nhanh và tích cực nhất trong ba tháng đầu
đời của trẻ và sự phát triển còn tiếp tục diễn ra cho đến 7, 8 tuổi nhưng chậm
hơn. Do vậy bất kỳ nguyên nhân nào ngăn cản sự phát triển bình thường này
và đặc biệt nếu xảy ra trong giai đoạn dưới 6 tuổi đều có thể gây nhược thị.
Cơ chế bệnh sinh của nhược thị rất phức tạp, còn nhiều vấn đề chưa rõ
ràng và có thể do nhiều cơ chế phối hợp:

Theo Rouse M.W và cộng sự tỷ lệ nhược thị do lác và do lệch khúc xạ
chiếm tới 90% trong số các nguyên nhân nhược thị nói chung [14].
 Nhược thị do lác
Là hình thái nhược thị phổ biến nhất. Xuất hiện rất sớm trước 6 tuổi,
trong giai đoạn cơ quan thị giác đang phát triển chưa hoàn chỉnh. Nhược thị
trong lác trước hết là do sự ức chế ở mắt lác (do lệch trục nhãn cầu tức là lệch
trục thị giác) và tiếp sau đó là do cơ chế dập tắt, hai cơ chế này chồng lên
nhau làm cho nhược thị ngày càng nặng và nếu kéo dài không điều trị sẽ mất
khả năng phục hồi.
Một đặc điểm của nhược thị trong lác là gây ra những rối loạn về định
thị như định thị ngoại tâm và những khó khăn trong phân tách các chữ cái
trong bảng thị lực khiến cho bệnh nhân đọc chữ rời tốt hơn chữ nằm trong
hàng hoặc thị lực góc đo bằng chữ rời hoặc vòng tròn hở Landolt rời, đạt cao


8

hơn thị lực hình. Những trường hợp này thị lực nhìn gần thường tốt hơn thị
lực nhìn xa và trong quá trình điều trị nhược thị, thị lực nhìn xa cũng dễ
dàng hồi phục hơn.
 Nhược thị do tật khúc xạ
Trong trường hợp tật khúc xạ cao, hình ảnh của vật sẽ không nằm ở võng
mạc, ảnh tạo nên ở võng mạc sẽ mờ (nằm trước võng mạc nếu là cận thị, sau
võng mạc nếu là viễn thị hoặc tạo một vòng tròn khuếch tán nếu là loạn thị kép
và loạn thị hỗn hợp hoặc là một đường thẳng nhỏ trong loạn thị đơn thuần [15].
Khi võng mạc không nhận được hình ảnh rõ nét, thị giác sẽ phát triển bất
thường gây ra nhược thị. Hình thái này hay gặp đối với loạn thị và viễn thị, có
thể bị cả hai mắt. Theo Rouse M .W. [14], nguy cơ gây nhược thị ở mắt có tật
khúc xạ thường gặp là:
> 2.50D với loạn thị hai mắt

1.2.4.1. Phương pháp bịt mắt
Bịt mắt tốt hơn là phương pháp kinh điển được sử dụng rất phổ biến.
Phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện, hiệu quả cao, đã được nhà khoa học
người Pháp là Count de Buffon đề xuất từ năm 1974 [17].
Bịt mắt nhằm loại trừ sự tham gia của mắt tốt, buộc người bệnh phải sử
dụng mắt nhược thị [18]. Quan sát của Vereecken và Brabant trên bệnh nhân
bị mất mắt có thị lực tốt hơn, tác giả đã thấy có sự cải thiện thị lực ở 28,5%
bệnh nhân trên mắt còn lại. Đây là bằng chứng cho thấy giới hạn của tuổi đối
với đáp ứng điều trị nhược thị có thể không cứng nhắc [19].
 Cách thức bịt mắt
Có nhiều cách bịt mắt khác nhau [18].
- Dán băng lên kính
Ưu điểm: Phương pháp này không bịt trực tiếp lên mắt nên ít gây khó
chịu cho trẻ.


10

Nhược điểm: Trẻ có thể nhìn qua phía trên kính hoặc khe hở giữa da và
kính, mắt kính hoặc trẻ tự bỏ kính ra làm tác dụng của bịt mắt bị hạn chế.
- Dán băng trực tiếp lên mắt
Ưu điểm: Là phương pháp có hiệu quả cao, thị lực tăng nhanh, tác dụng
tốt đối với trường hợp nhược thị sâu.
Nhược điểm: Có thể gây kích ứng ở bệnh nhân có da nhạy cảm và gây khó
chịu cho trẻ. Trẻ thường tự tháo gỡ ra khi đến trường hoặc bị bạn chế diễu.
- Phương pháp dùng kính lọc màu đỏ
Bệnh nhân đeo kính màu đỏ ở mắt tốt hơn và dùng bút chì vạch theo
những hình màu đỏ. Chỉ mắt nhược thị nhìn được màu đỏ.
Phương pháp này áp dụng cho trường hợp nhược thị nhẹ và tránh được
nhược thị đảo ngược ở mắt tốt hơn [20].

- Mắt nhược thị cho đeo kính thặng chỉnh từ +1 đến + 3D.
- Tác dụng: Mắt nhược thị chỉ đựơc nhìn gần và mắt tốt hơn nhìn xa, tạo
ra tư thế ‘bập bềnh’ giữa hai mắt, làm cho mắt nào cũng được sử dụng tránh
nhược thị do bịt mắt [21].


Gia phạt xa: Đeo kính thặng chỉnh +3D ở mắt tốt làm giảm thị lực

nhìn xa và kính đủ số ở mắt nhược thị, khuyến khích trẻ dùng mắt nhược thị
để nhìn xa [22].


Gia phạt toàn bộ: Buộc mắt này nhìn mờ cả xa và gần.



Gia phạt luân phiên: Đeo kính thặng chỉnh +3D luân phiên ở cả hai

mắt (dùng 2 cặp kính).
1.2.4.3. Phương pháp phục thị
Phương pháp này được giới thiệu bởi Bangerter và sau đó được Cuppers
cải tiến. Cho đến nay, nhiều tác giả đã đề cập tới và cũng là một trong những
phương pháp phổ biến để điều trị nhược thị [2]. Phục thị là phương pháp dùng
chớp sáng mạnh để kích thích võng mạc nhằm tăng thị lực cho mắt bị nhược
thị. Các máy (Euthyscope, Projectoscope và Pleotophore) để điều trị theo
phương pháp phục thị đều dựa trên nguyên tắc của đèn soi đáy mắt, dùng ánh
sáng mạnh để kích thích võng mạc chu biên trong khi bảo vệ võng mạc vùng
hoàng điểm. Phương pháp này đòi hỏi có sự hợp tác tốt của bệnh nhân do đó




13

1.2.4.6. Phần mềm điều trị nhược thị
Trên thế giới đã có một số tác giả phát triển phần mềm để hỗ trợ điều trị
nhược thị [22], phần mềm này có các ưu điểm:
- Quản lí và theo dõi được quá trình điều trị của bệnh nhân: các phần
mềm đều tích hợp phần quản lí bệnh nhân về hành chính, bệnh tật và tiền sử
cũng như liệu pháp điều trị.
- Có thể áp dụng cho mọi lứa tuổi
- Có thể hướng dẫn tự luyện tập tại nhà, nếu trẻ có điều kiện trang bị
máy tính nối mạng internet.
- Các bài tập phong phú đa dạng, tạo cho trẻ hứng thú tham gia.
- Có thể thiết kế bài tập riêng biệt để luyện tập từng chức năng thị giác
như thị giác nổi, thị giác tương phản…
Bên cạnh đó, phần mềm cũng có những nhược điểm:
- Cần phải trang bị máy tính.
- Trẻ phải ở độ tuổi nhất định và có khả năng sử dụng được máy tính.
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NHƯỢC THỊ

1.3.1. Tuổi điều trị
Vấn đề tuổi trong điều trị nhược thị vẫn còn nhiều tranh luận. Friedberg
M.A và cộng sự cho rằng điều trị nhược thị không đem lại kết quả nếu tiến hành
sau 11 tuổi. Quan niệm này đã bị bác bỏ bởi một số tác giả: Birnham và cộng sự ,
Wick B và Wingard (1992) [24], Mintz Hittner H.A. (2001) [25]đã cho rằng: sự
cải thiện thị lực và chức năng thị giác hai mắt ở bệnh nhân nhược thị do lệch
khúc xạ có thể đạt được ở bất kì lứa tuổi nào. Tuy nhiên, nếu nhược thị được
phát hiện và điều trị càng sớm thì tỷ lệ thành công càng cao [26].




1.3.5. Thời gian và sự tuân thủ điều trị
- Thời gian điều trị nhược thị thường không cố định, tuỳ thuộc vào từng
bệnh nhân, vào mức độ nhược thị và tuổi bắt đầu điều trị. Qua nhiều nghiên
cứu điều trị nhược thị bằng phương pháp bịt mắt hoàn toàn các tác giả cho
thấy rằng: mỗi tuổi bịt mắt tương ứng với 1 tuần và theo dõi thường xuyên
hoặc 1 tháng một lần để đánh giá mức độ cải thiện thị lực, sự tuân thủ điều trị,
phát hiện tình trạng nhược thị đảo ngược nếu có.
- Đồng thời, quá trình điều trị nhược thị đòi hỏi phải có sự tuân thủ điều
trị của bệnh nhân mới có thể đem lại kết quả cải thiện thị lực. Một số nghiên
cứu đã chứng minh rằng, khi tuân thủ điều trị tốt, tỷ lệ thành công tăng đáng
kể [32], [33], [34]. Tác giả Park H tiến hành điều trị nhược thị ở trẻ trên 9 tuổi
đã kết luận, có thể điều trị nhược thị cho trẻ lớn nhưng cần tuân thủ điều trị.
Mặt khác quá trình điều trị cần được duy trì và theo dõi lâu dài, có thể vài
tháng, thậm chí vài năm.
Ngoài ra những bệnh nhân nhược thị do tật khúc xạ có phối hợp bệnh lý
khác tại mắt như lác, sụp mi, rung giật nhãn cầu tiên lượng điều trị khó khăn
hơn nhược thị chỉ do tật khúc xạ đơn thuần. Nghiên cứu của tác giả Erdem
[34] đã cho kết quả cải thiện thị lực 88,9% của bệnh nhân lệch khúc xạ, 75%
của bệnh nhân lác và 62,5% của nhóm nhược thị do nguyên nhân hỗn hợp.
1.4. TÌNH HÌNH ĐIỀU TRỊ NHƯỢC THỊ Ở TRẺ EM TRÊN THẾ GIỚI VÀ
TẠI VIỆT NAM

Vấn đề điều trị nhược thị ở trẻ em trên thế giới đã có nhiều tác giả quan
tâm nghiên cứu và đưa ra các chuẩn mực, các phương pháp điều trị, các lứa


16

tuổi nghiên cứu khác nhau, một số tác giả còn so sánh với kết quả điều trị

võng mạc giảm một cách rõ rệt: từ 8 đến 10 tuổi kết quả giảm hơn 50% so với
lứa tuổi trước đó, từ 11-15 tuổi kết quả chỉ còn 8% và trên lứa tuổi đó hoàn
toàn không có kết quả.
Năm 2002, Nguyễn Hồng Phượng đánh giá kết quả điều trị nhược thị do
lệch khúc xạ ở trẻ em, kết quả cho thấy: tỷ lệ khỏi ở nhóm tuổi trên 7 tuổi
không khác biệt so với lứa tuổi nhỏ hơn [31].
Năm 2003, Nguyễn Thanh Vân nghiên cứu về kết quả điều trị nhược
thị do viễn thị ở trẻ em cho thấy tỷ lệ đạt kết quả tốt đạt trên 70% và không có
sự khác biệt nhiều giữa nhóm ở nhóm trên 7 tuổi và dưới 7 tuổi [30].
Năm 2010, Nguyễn Hải Hùng nghiên cứu về kết quả điều trị nhược
thị sau phẫu thuật đặt thể thuỷ tinh nhân tạo ở trẻ em, kết quả cho thấy
nhóm trên 7 tuổi không có kết quả tốt mà chỉ đạt mức trung bình và kém
với tỷ lệ 44,57% [37].
Năm 2012, Nguyễn Thanh Vân nghiên cứu về kết quả điều trị nhược thị
do tật khúc xạ ở trẻ em cho thấy các lứa tuổi đều đáp ứng với điều trị, tuy
nhiên mức độ nhược thị càng nặng thì kết quả càng kém [38].


18

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Địa điểm nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Mắt
Trung ương.
Đối tượng nghiên cứu: bệnh nhân bị nhược thị tuổi từ 8 đến 18.
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2014 đến tháng 7/2014.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bệnh nhân được chẩn đoán là nhược thị tuổi từ 8 đến 18.

Z1-/2=1.96 ở ngưỡng =0.05 (tra bảng). Độ tin cậy bằng 95%.
: sai lệch mong muốn tương đối = 0,15.
Thay vào công thức trên có n = 48 bệnh nhân, chúng tôi dự kiến cộng
thêm 10% trong nghiên cứu này, như vậy cỡ mẫu tối thiểu là 53 bệnh nhân.
Cách chọn mẫu: chọn mẫu tuần tự đến khi đủ cỡ mẫu nghiên cứu.
2.2.3. Phương tiện nghiên cứu
2.2.3.1. Phương tiện phục vụ khám
- Bảng thị lực Snellen.
- Hộp kính thử và gọng thử kính.
- Bộ test hình nổi Titmus.
- Máy soi đáy mắt trực tiếp.
- Thuốc liệt điều tiết: cyclogyl 1%.
- Máy soi bóng đồng tử (retinoscope).
- Thước Parent gồm các thấu kính hội tụ và phân kỳ.
- Máy synoptophore.
- Máy sinh hiển vi.
2.2.3.2. Phương tiện theo dõi
Bệnh án nghiên cứu (phụ lục).
2.2.3.3. Phương tiện điều trị
- Dụng cụ bịt mắt.
- Phương tiện tập: bút mầu và giấy tập tô, hạt vòng, kim chỉ, máy chơi
game, máy tính...
- Kính gọng.
2.2.4. Các bước tiến hành
2.2.4.1. Khám lâm sàng
Hỏi bệnh: nhằm xác định các thông tin về:


20



Khám toàn thân: khám toàn diện để loại trừ các bệnh toàn thân.
2.2.4.2. Điều trị
- Giải thích cho bệnh nhân và người nhà hiểu rõ về tình trạng và tiên lượng bệnh
để cùng hợp tác trong quá trình điều trị.
- Cho bệnh nhân đeo kính.
-Điều trị nhược thị:
+ Trường hợp nhược thị một mắt:
Áp dụng phương pháp bịt mắt lành (dán băng trực tiếp lên mắt): Tiến
hành bịt mắt tốt hơn với thời gian 4 giờ mỗi ngày với mắt nhược thị nhẹ,
6h với nhược thị trung bình, hoàn toàn những giờ thức với nhược thị nặng
kết hợp với hoạt động nhìn gần của mắt nhược thị.
Kích thích mắt nhược thị bằng cách luyện tập các hoạt động nhìn gần
như chơi game trên máy tính hoặc điện thoại, tập tô mầu, luyện chữ, xâu hạt
vòng với nhiều mầu sắc và kích thước khác nhau…
Khi thị lực mắt nhược thị ≥ 20/25 cho bệnh nhân giảm số giờ bịt mắt
xuống 2 giờ/24 giờ.
+ Trường hợp nhược thị hai mắt
Không bịt mắt
Bệnh nhân phải đeo kính thường xuyên (trừ lúc ngủ) kết hợp tập luyện với
các hoạt động nhìn gần như xâu hạt vòng với nhiều mầu sắc và kích thước khác
nhau, tập tô mầu, chơi game trên máy tính, điện thoại...
+ Mỗi đợt tập liên tục trong 1 tháng.
Trong quá trình điều trị nếu từ nhược thị hai mắt chuyển thành nhược thị
một mắt thì bệnh nhân sẽ được bịt mắt tốt hơn để tập trung điều trị mắt kém hơn.
2.2.4.3. Theo dõi trong quá trình điều trị
Khám đánh giá định kỳ tại các thời điểm: 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng.
Đánh giá kết quả điều trị theo các chỉ số:




23

Tình trạng đã điều trị nhược thị trước đó: đã điều trị, chưa điều trị.
Mức độ thị lực: ≤ 20/200; 20/160 - 20/60; ≥ 20/50
Đánh giá mức độ nhược thị: dựa theo bảng phân loại của Quéré [12]:
- Nhược thị nhẹ: thị lực với kính 20/40 đến 20/30.
- Nhược thị trung bình: thị lực với kính 20/50 đến 20/160.
- Nhược thị nặng: thị lực với kính ≤ 20/200.
Đánh giá tình trạng mắt nhược thị: một mắt, hai mắt.
Xác định tật khúc xạ:[40]
Phân loại dựa vào tương đương cầu (SE).
SE = công suất cầu + ½ công suất trụ.
- Xác định là cận thị khi SE ≤ -0,5D.
- Xác định là viễn thị khi SE ≥ 2,0D.
- Xác định là chính thị khi -0,5D < SE < +2,0D
- Xác định là chính thị kèm loạn thị khi: mắt được coi là chính thị theo
kính cầu tương đương kèm theo có loạn thị ≥ - 0,75D,
- Xác định là lệch khúc xạ khi khúc xạ hai mắt chênh nhau 1,0D, chia
thành 3 nhóm:
 Lệch khúc xạ ≤ 2,0 D.
 Lệch khúc xạ 2,25D – 4,0D.
 Lệch khúc xạ >4D.
Đánh giá nguyên nhân nhược thị:
- Tật khúc xạ đơn thuần: bệnh nhân chỉ bị tật khúc xạ.
- Nguyên nhân phối hợp: bệnh nhân bị tật khúc xạ có kèm theo lác, rung
giật nhãn cầu.
Đánh giá tình trạng thị giác hai mắt: phân thành 2 mức độ.
- Có thị giác hai mắt: ít nhất phải có đồng thị (+).
- Không có thị giác hai mắt: đồng thị (-).



25

- Thị giác hai mắt: có thị giác hai mắt; không có thị giác hai mắt.
- Kiểu định thị: trung tâm; không trung tâm.
- Kết quả cải thiện thị lực: có cải thiện; không cải thiện.
- Kết quả điều trị theo 3 mức: tốt, trung bình, xấu.
- Mức độ tuân thủ điều trị: tốt, không tốt.
- Thời gian điều trị: 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng.
2.2.6. Xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được của nghiên cứu được xử lý theo các thuật toán
thống kê y học trên máy tính với sự trợ giúp của phần mềm SPSS phiên bản
16.0 để tính toán các thông số bao gồm:
- Các biến định lượng được khảo sát dưới dạng trung bình, độ lệch.
- Các biến định tính được phân nhóm và khảo sát dưới dạng tỷ lệ phần trăm.
Sử dụng test T khi so sánh các biến định lượng, test khi bình phương cho
các biến định tính, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi giá trị p < 0,05.
2.2.7. Tính đạo đức trong nghiên cứu
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá kết quả
điều trị nhược thị ở trẻ trên 7 tuổi với các phương pháp điều trị đã được áp dụng
ở Việt Nam và trên thế giới vì vậy không gây nguy hiểm gì đối với bệnh nhân.
Tất cả những bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều được giải thích kỹ mục
đích và các phương pháp điều trị, các bước tiến hành nghiên cứu, đều tự
nguyện tham gia nghiên cứu và có thể rút khỏi nghiên cứu bất kỳ lúc nào.
Đề cương nghiên cứu được thông qua hội đồng khoa học của trường Đại
học Y Hà Nội.
Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Mắt Trung ương với sự đồng ý
của hội đồng khoa học kỹ thuật và lãnh đạo bệnh viện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status