TRƯỜNG ĐHSP TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐỊA LÝ
BÀI TIỂU LUẬN MÔN ĐỊA LÝ DU LỊCH
TP. HỒ CHÍ MINH THÁNG 6/2010
MỤC LỤC:
MỤC LỤC:.....................................................................................................2
1. 1. ĐẶC ĐIỂM TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI CẦN
GIỜ....................................................................................................................... 4
1.1. KHÁI QUÁT VỀ CẦN GIỜ.................................................................4
1.2. TIỀM NĂNG RỪNG NGẬP MẶN.......................................................5
1.3. TIỀM NĂNG BIỂN..............................................................................5
2. ĐẶC ĐIỂM CỦA KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RỪNG NGẬP MẶN
CẦN GIỜ.............................................................................................................6
2.1. SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH.............................................6
2.2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN.......................................................................8
2.3. TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI.........................................................12
2.4. ĐẶC ĐIỂM HỆ SINH THÁI RỪNG NGẠP MẶN CẦN GIỜ...........13
3. HIỆN TRẠNG DU LỊCH SINH THÁI Ở RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ
............................................................................................................................ 16
3.1. CÁC DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN........................................................16
3.2. HỆ THỐNG CÁC ĐIỂM VÀ HÌNH THỨC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
SINH THÁI TẠI RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ.........................................18
3.3. CÁC DỊCH VỤ NGHỈ DƯỠNG.........................................................24
3.4. GIÁ TRỊ KINH TẾ TỪ HOẠT ĐỘNG SINH THÁI...........................24
4. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN TẠI KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN
RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ.........................................................................26
4.1. VỀ BẢO VỆ YẾU TỐ SINH THÁI MÔI TRƯỜNG ĐẶC THÙ CỦA
thái. Cần Giờ hội đủ các yếu tố cần cho phát triển du lịch sinh thái như: rừng,
biển, thủy hải sản, giao thông thủy, cảnh quan thiên nhiên, truyền thống lịch sử
cách mạng, văn hóa lễ hội dân gian. Là huyện duy nhất của thành phố Hồ Chí
Minh có rừng ngập mặn gắn với mạng lưới sông rạch quanh co uốn khúc. Hơn
nữa, Cần Giờ còn có khu di tích lịch sử cách mạng rừng Sác, khu du lịch Lăng
Cá Ông, bãi biển 30/4, khu nhà vườn cây trái và nuôi trồng thủy hải sản; khu
Lâm Viên Cần Giờ với nhiều khả năng thu hút khách du lịch, đặc biệt là du
khách nước ngoài.
Như vậy, ở Cần Giờ hai yếu tố rừng và biển là hai yếu tố quan trọng
quyết định, thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái nói riêng và phát triển kinh tế-xã
hội của huyện Cần Giờ nói chung. Trong những năm gần đây, chính nhờ lợi thế
4
phát triển du lịch mà Cần Giờ được đầu tư nhiều về cơ sở hạ tầng, trong đó các
tuyến đường giao thong được ưu tiên hàng đầu. Hiện nay, tuyến đường rừng Sác
là tuyến đường chính, xuyên suốt từ phà Bình Khánh đến mũi Cần Giờ đã được
nâng cấp đạt chất lượng cao.
1.2.TIỀM NĂNG RỪNG NGẬP MẶN
Nói đến du lịch Cần Giờ, yếu tố đầu tiên thu hút khách du lịch là cảnh
quan tuyệt vời của khu rừng ngập mặn Cần Giờ. Rừng ngập mặn Cần Giờ có
điều kiện môi trường rất đặc biệt, là hệ sinh thái trung gian giữa hệ sinh thái thủy
vực với hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái nước mặn. Rừng Cần Giờ nhận một
lượng lớn phù sa từ sông Đồng Nai, cùng với ảnh hưởng của biển kế cận và các
đợt thủy triều mà hệ thực vật nơi đây rất phong phú với trên 150 loài thực vật,
trở thành nguồn cung cấp thức ăn và nơi trú ngụ cho rất nhiều loài thủy sinh,cá
và động vật có xương sống khác. Động vật ở đây cũng đa dạng không kém thực
vật. Khu hệ động vật thủy sinh không xương sống trên 700 loài, khu hệ cá trên
NGẬP MẶN CẦN GIỜ
2.1. SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
Khu dự trữ sinh quyển Cần giờ còn gọi là rừng Sác là một quần thể gồm
cấc loài động, thực vật rừng trên cạn và thủy sinh được hình thành trên vùng
châu thổ rộng lớn của câc sông Đồng Nai, Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ
Tây.
Trước chiến tranh Cần Giờ thuộc tỉnh Đòng Nai, và nơi đây đã là khu
rừng ngập mặn với quần thể động thực vật phong phú. Rừng ngập mặn Cần Giờ
được che phủ dày trên diện tích hơn 40000 ha. Các loài cây rừng chịu mặn, chịu
lợ có chiều cao trung bình trên 20m, đường kính 25-40cm là nguồn cung cấp
chất đốt và gỗ gia dụng cho thành phố Sài Gòn xưa kia, Các loại chim, thú rừng
6
quý hiếm, các loại cua biển, tôm cá, nghêu sò nước lợ khá dồi dào, cung ứng hầu
hết cho các tỉnh miền Đong Nam Bộ. Trong các thời kỳ chiến tranh chống Pháp,
Mỹ, rừng Sác nằm trên con đường giao thông huyết mạch, là cửa ngõ đuongef
thủy yếu hầu của Sài Gòn. Nhân dân và bộ đội đặc công rừng Sác anh hung là
nỗi kinh hoàng của bọn xâm lược. Từ đó chúng cho rằng: Còn rừng Sác thì Sài
Gòn không ổn định. Cho nên với phương châm chiến tranh hiện đại, Mỹ quyết
tâm lột da rừng Sác. Từ năm 1964 đến 1970, Mỹ đã rải liên tục xuông khu rừng
này 1017515 galons chất khai hoang trong đó có 62,2% là hợp chất màu da cam.
Mất rừng đất trở nên cằn cỗi, sông rạch bị xói mòn nghiêm trọng, nhiều vùng đất
đã trở thành sa mạc mặn. Sau ngày đất nước giải phóng, cấc nhà sinh thái học
người Mỹ như Pleifer, Wasting sau khi xem tận mắt khu rừng Sác, đã phát biểu:
Phải cần khoảng 100 năm để khôi phục hệ sinh thái Cần Giờ. Năm 1978, Cần
Giờ được sáp nhập về thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1979, Ủy ban nhân dân
Thành phố Hồ Chí minh phát động chiến dịch trồng lại rừng Cần Giờ, thành lập
Lâm Trường Duyên Hải (đóng tại Cần Giờ, thuộc ty Lâm nghiệp) với nhiệm vụ
Từ Bắc xuống Nam dài 28km; từ Đông sang tây dài 30km.
Cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 70km, khu dự trữ sinh
quyển cần Giờ giáp tỉnh Tiền Giang và Long An ở phía Tây; và giáp tỉnh Bà Rịa
– Vũng Tàu ở phía Đông.
Tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ là 75740 ha,
trong đó vùng lõi 4721 ha, vùng đệm 41319 ha, và vùng chuyển tiếp 29880 ha.
2.2.2. ĐỊA HÌNH
Rừng ngập mặn Cần Giờ nằm trên vùng đất có địa hình không bằng
phẳng, không theo quy luật từ cao xuống thấp, từ trong ra ngoài, có dạng là vùng
trũng cao độ 0,0 – 1,5m, hướng nghiêng từ ba mặt Đông – Nam – Tây tạo thành
lòng chảo ở trung tâm và lệch về hướng Đông Bắc, trừ núi Giồng Chùa cao
10,1m. Có thể chia thành 5 dạng địa hình theo bảng sau:
8
Số thứ tự
1
Dạng địa hình
Ngập hai lần trong
Cao độ (m)
0,0 – 0,2
2
ngày
Ngập một lần trong
Rừng ngập mặn Cần Giờ phát triển trên một đầm mặn mới do phù sa
sông Sài Gòn và sông Đồng Nai mang đến và lắng đọng tạo thành nền đất. Đất ở
Cần Giờ được cấu tạo bởi các quá trình trầm tích sét, quá trình phèn hóa và quá
trình nhiễm mặn.
Có 5 loại đất cơ bản:
Đất mặn
Đất mặn phèn ít
9
Đất mặn phèn nhiều
Đất cát mịn có pha rất ít bùn ven biển
Đất phèn tiềm tàng
Trong đó, loại đất mặn phèn tiềm tàng chiếm trên diện tích lớn nhất với các
yếu tố hạn chế: lớp đất sâu chưa ổn định, đất chứa nhiều muối (Nacl), ở lớp đất
sâu chứa một lượng đáng kể Lưu Huỳnh ở dạng khử.
2.2.4. KHÍ HẬU-THỦY VĂN
Khí hậu rừng ngập mặn Càn Giờ mang đặc tính nóng ẩm và chịu chi phối
của qui luật gió mùa cận xích đạo, với 2 mùa mưa nắng rõ rệt.
2.2.4.a. LƯỢNG MƯA
Thấp nhất Thành phố Hồ Chí Minh, với lượng mưa trung bình từ 1300 –
1400 mm/năm, có xu hướng giảm dần từ bắc xuống Nam: Cần Giờ
1557mm/năm; Tam Thôn Hiệp 1504mm/năm; và ở Mũi Nhà Bè 1744mm/năm.
Số ngày mưa không quá 160 ngày/ năm. Mùa mưa thường bất đầu từ tháng 4 và
kết thúc vào tháng 10 hằng năm, tập trung vào tháng 6 và tháng 9.
2.2.4.b. CHẾ ĐỘ NHIỆT-BỨC XẠ
Biên độ nhiệt trong ngày từ 5 – 7 0c; biên độ nhiệt trung bình 25,8 0c; nhiệt
Cần Giờ. Sông Lòng Tàu là thủy lộ chính đưa các tàu có tải trọng đến 20000 tấn
vào Cảng Sài Gòn.
Tên sông
Nhà Bè
Soài Rạp
Đồng Tranh
Chiều dài (km)
29,50
14,50
67,50
Chiều rộng (m)
1670
3100
1800
11
Chiều sâu (m)
10 – 20
Tổng diện tích tự nhiên của huyện Cần Giờ là 71642 ha bao gồm 1 thị trấn
và 7 xã. Theo số liệu thống kê năm 1999 của huyện, dân số Cần Giờ có 58819
người. Trong đó, 31363 người trong độ tuổi lao động, lao động đang làm việc
24500 người. Tỷ lệ gia tăng dân số bình quân hằng năm là 1,23%. Mật độ dân số
trung bình toàn huyện là 82 người/km2.
12
Phân bố dân cư không đồng đều trên toàn huyện, các điểm tập trung dân
theo cụm dân cư ấp hoặc xã nằm ven bìa rừng ngập mặn cần Giờ. Trong địa
phận 24 tiểu khu rừng phòng hộ dân cư rất thưa thớt, chủ yếu khoảng 600 hộ gia
đình, gồm các hộ dân nhận khoán bảo vệ rừng và các hộ đang sản xuất ngư
nghiệp dưới tán rừng. Các cụm dân cư vẫn mang đậm tính chất nông thôn. Cụm
dân cư lớn nhất là xã Bình Khánh với 15805 dân, thấp nhất là xã Thạnh An với
4116 dân.
Về mức sống hiện nay, theo thống kê của huyện, mức thu nhập bình quân
đầu người là 294167 đ/ tháng. Hoạt động sản xuất chủ yếu là đánh bắt và nuôi
trồng thủy sản, nông nghiệp, muối, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, thương
nghiệp và dịch vụ.
2.4.ĐẶC ĐIỂM HỆ SINH THÁI RỪNG NGẠP MẶN CẦN GIỜ
2.4.1. VỀ THỰC VẬT
Rừng ngập mặn Cần Giờ có điều kiện môi trường rất đặc biệt, là hệ
sinh thái trung gian giữa hệ sinh thái thủy vực với hệ sinh thái trên cạn; giữa hệ
sinh thái nước ngọt với hệ sinh thái nước mặn. Rừng ngập mặn Cần Giờ nhân
một lượng lớn phù sa từ sông Đồng Nai, cùng với ảnh hưởng của biển kế cận và
các đợt thủy triều mà hệ thực vật nơi đây rất phong phú.
Theo điều tra của Ban quản lý Rừng phòng hộ môi trường Thành phố
Hồ Chí Minh năm 1999 có 35 loài thực vật thân gỗ ngập mặn gồm: Đước, Đưng,
rừng trồng.
Quần xã Mấm quăn (Avicennia lanata) phân bố ở các vùng đất chặt, ngập
triều cao, các ruộng muối bỏ hoang đã có Mấm quăn xuất hiện tự nhiên.
14
Quần xã Cóc vàng (Lumnitzera racemosa) phân bố trên vùng đất cao, sét chặt,
trên cả ruộng muối bỏ hoang.
Quần xã Chà Là nước (Phoenix paludosa) phân bố trên vùng đất cao, sét chặt,
ít ngập triều, thuần loại hoặc hỗn giao với Ráng đại (Acrostichum aurerum), Lức
(Pluchea indicas), Tra lâm Vồ (Thespesia populnea)…
Quần xã Dà (Ceriops tagal) – Cóc – Giá (Excoecaria agallocha) phân bố tren
đất sét chặt, ngập triều cao.
Quần xã Ráng phân bố khá rộng trên vùng đất từ mặn sang lợ, nơi đất cao chỉ
ngập khi triều cường.
Quần xã Bần chua (Sonnerarita caseolaris) phân bố ở vùng đất mới bồi dọc
sông, nước lợ. Quần xã Bần chua có thể mọc thuần loại hoặc hỗn giao với Mấm
trắng, Mấm đen tùy theo độ ccao cua đất.
Quần xã Dừa nước (nypa fruiticans) phân bố dọc theo kênh rạch có độ mặn
thấp ( nước lợ). Đất phù sa bồi đắp đã bắt đầu ổn định, chặt. Quần xà Dừa nước
có thể mọc thuần loại hoặc hỗn giao với Mái Dầm, Ô rô, Lác, Cói,…
2.4.2. VỀ ĐỘNG VẬT
Sau hơn 20 năm khôi phục và bảo vệ, rừng ngập mặn Cần Giờ có số
lượng loài cũng như số lượng cá thể đều tăng. Hiện nay, theo khảo sát sơ bộ của
dự án khả thi Khu bảo tồn thiên nhiên rừng ngập mặn Cần Giờ năm 1999, có kết
quả như sau:
Khu hệ động vật thủy sinh không xương sống có trên 700 loài thuộc 44 họ, 19
bộ, 6 lớp, 5 ngành.
Khu hệ cá có trê 137 loài thuộc 39 họ và 13 bộ.
thẳng khoảng 13km đến phà Bình Khánh. Sau khi qua phà Bình Khánh, khách
du lịch tiếp tục đi thẳng theo con đường độc đạo đến biển Cần Giờ. Đi khoảng
15km đến ngã ba Lý Nhơn quẹo phải. Tiếp tục đi thẳng qua cầu Vàm Sát, cầu
Gốc Tre quẹo phải là đền khu du lịch Vàm Sát. Tuyến đường đã được nhựa hóa
hoàn toàn, tạo điều kiện thuận lợi cho xe ô-tô khách đưa khách đến tận nơi.
16
Ngoài ra, khách du lịch còn có thể đi xe buýt đến khu du lịch sinh thái rừng
ngập mặn Cần Giờ bằng tuyến Bến Thành – Cần Giờ. Sau khi qua phà Bình
Khánh, khách tiếp tục mua vé lên tuyến Bình Khánh – Cần Thạnh. Trên đường
đi, đến cầu Dần Xây thì dừng lại đi vào trạm đón khách Vàm Sát và bắt đầu
chuyến tham quan.
3.1.2.
ĐƯỜNG THỦY
Khách du lịch đến trạm đón khách tại chân cầu Dần Xây thuộc huyện Cần
Giờ mua vé và lên tàu bắt đầu chuyến tham quan. Hành trình đường thủy sex có
nhiều thú vị vì khách có thể chiêm ngưỡng cảnh quan tuyệt đẹp hai bên bờ sông
và quan sát cuộc sống của những ngư dân địa phương.
3.1.3.
MỘT SỐ ĐIỂM HẠN CHẾ
Tuyến dường giao thông nối thành phố Hồ Chí Minh – Cần Giờ còn gây
nhiều trở ngại cho du khách như những đoạn đường hẹp, lồi lõm, ngập nước vào
mùa mưa. Tiến độ thực hiện các dự án đường Rừng Sác, các tuyến đường vào
các xã, trừ thị trấn Cần Thạnh, còn quá chậm.
hiện dựa theo Biển Chết ở
Jordan. Độ mặn trong hồ khá
cao – 30% - gấp 10 lần của
nước biển. Bằng cách này khối
lượng riêng của cơ thể người
HÌNH 1: Biển chết-Cần Giờ
18
sẽ nhỏ hơn khối lượng nước trong hồ,tại đây du khách có thể bơi theo mọi kiểu
thậm chí có thể nằm ung dung trên mặt nước để đọc báo.
3.2.4. CÂU CÁ SẤU
Khu du lịch cá sấu có một trại cá sấu đang nuôi khoảng 60 con.Du khách
đến đây để tham quan môi trường sống, tìm hiểu tập quán và cách săn mồi của
chúng. Nơi đây cũng có một trò chơi khá ấn tượng và thú vị: “Du thuyền câu cá
sấu”. Thuyền câu là một chiếc xuồng đặc biệt làm bằng chất liệu Composit có
các khoang không khí giữ thăng bằng. Thuyền còn được bao bọc bởi lưới B40,
bảo đảm an toàn cho du khách ưa mạo hiểm.
HÌNH 2: Câu cá sấu tại Cần Giờ
3.2.5. ĐẦM DƠI
Là một khoảng rừng đước rậm rạp, yên tĩnh. Nơi đây có hàng trăm con Dơi
Quạ với sải cánh từ 1 – 1,5m trú ngụ. Khu vực xung quanh Đầm Dơi ít người
sinh sống nhằm bảo đảm sự an toàn cho chúng. Tại đây du khách sẽ thấy hàng
19
ngàn con theo bầy sống tự nhiên nơi rừng đước giữa đầm như bán đảo, vào tham
nhiên và 2 loài nuôi). Cò và Vạc thường làm tổ tên cây Chà Là và Dà, trong đó
Chà Là là cây cò gai nên được chim chọn làm tổ nhiều hơn để giữ tổ chim chặt
không bi rơi và các loài nhủ rắn, khỉ không thể trèo lên lấy trứng hay bắt chim
non. Chim thường đẻ vào mùa mưa tù tháng 5 – 10, mỗi lần đẻ từ 1 – 3 trửng/ tổ.
Chim non sống trong tổ cho đến khi được chim bố mẹ tập bay. Nguồn thức ăn
21
nơi đây rất dễ tìm và phong phú nhờ hệ thống sông ngòi chằng chịt và các đầm
nuôi tôm xung quanh.
3.2.7. THÁP TANG BỒNG
Ngoài việc là một khu dự trữ sinh quyển thế giới, rừng ngập mặn Cần Giờ
trước đây còn là Căn cứ địa cách mạng, một di chỉ văn hóa – lịch sử nổi tiếng,
ghi dấu nhiều chiến công oanh liệt của quân dân ta trong 2 cuộc kháng chiến
chống Pháp và Mỹ.
Để tưởng nhớ đến các chiến sĩ đặc công rừng Sác đã làm nhiệm vụ tại đây.
Khu du lịch sinh thái Vàm Sát đã dựng lên một ngọn tháp cao 28 mét đặt tên
Tang Bồng, hình cánh cung. Đây là biểu tượng cho sức mạnh và ý chí của tuổi
trẻ các thế hệ cha anh trong chiến tranh. Khi lên đỉnh tháp, khách tham quan sẽ
chiêm ngưỡng được toàn cảnh vẻ đẹp hoang sơ và quyến rũ của rừng ngập mặn
Cần Giờ.
HÌNH 5: Tháp Tang Bồng
22
3.2.8. VƯỜN SƯU TẦM THỰC VẬT
Môi trường của Rừng ngập mặn Cần Giờ có điều kiện đặc biệt, nó là một
vang dội, tiêu diệt hàng trăm tàu chiến, phá hủy các kho tàng chiến lược, bí mật
tiếp nhận và phân phối hàng ngàn tấn vũ khí từ miền Bắc chi viện cho chiến
trường Đông Nam Bộ.
3.3. CÁC DỊCH VỤ NGHỈ DƯỠNG
Tại các khu du lịch Cần Giờ còn có hệ thống khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng
sang trọng cùng những dịch vụ phục vụ và các chương trình du lịch, thư giãn,
biểu diễn văn hóa, nghệ thuật cuối tuần thú vị.
Hiện tại, quy hoạch về một khu đô thị lấn biển ở khu vực này đã được
chính phủ phê duyệt có diện tích khoảng 872 ha với mục tiêu xây dựng đến năm
2010, đưa Cần Giờ trở thành trung tâm dịch vụ du lịch – thương mại, trong đó có
cả khu bảo tồn về sinh thái biển.
3.4.GIÁ TRỊ KINH TẾ TỪ HOẠT ĐỘNG SINH THÁI
Cùng với cảnh quan, môi trường nghỉ ngơi giải trí của mình, rừng ngập
mặn Cần Giờ đã tạo nên giá trị quan trọng nhất và vô giá của hệ sinh thái rừng
ngập mặn Cần Giờ đối với nhân dân thành phố hồ Chí Minh nói riêng, cả nước
và thế giới nói chunh. Đối với thành phố Hồ Chí Minh khu rừng này vừa là lá
24
phổi vừa là trái thận đồng thời với việc phonhf chống bão và điều hòa khí hậu
tiểu vùng.
Những năm qua, tất cả các thành phần kinh tế đều có mức tăng trưởng ổn
định, đảm bảo lượng hàng hóa, vật tư cung ứng cho tiêu dùng và sản xuất trên
địa bàn. Hoạt động dịch vụ du lịch trên địa bàn không ngừng phát triển, từng
bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng, hình thành nhiều cơ sở kinh doanh dịch vụ. Chỉ
riêng khu du lịch 30 tháng 4 là một trong những điểm du lịch chủ yếu thu hút
khách du lịch của huyện có số lượng ngày càng tăng, trong năm 2004 đã đón tiếp