LỜI MỞ ĐẦU
Tỉnh Bắc Ninh được tái lập từ ngày 01 tháng 01 năm 1997 và là tỉnh
nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và tam giác tăng trưởng kinh tế lớn
là Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh. Mặc dù là tỉnh nhỏ, có diện tích tự nhiên
rất hẹp khoảng 807,6km2, dân số là 998,4 nghìn người với 8 đơn vị hành chính
là Thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Tiên Du, Yên Phong, Quế Võ,
Gia Bình, Lương Tài, Thuận Thành, là một tỉnh tiếp giáp với các địa phương
như Thủ đô Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Giang có đường giao thông
đường bộ, đường sắt và đường sông thuận lợi. Với truyền thống văn hoá lâu
đời, Bắc Ninh là vùng quê có nhiều lễ hội truyền thống, hàng năm thu hút hàng
vạn khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm các khu di tích lịch sử, văn
hoá, thăm các làng nghề truyền thống cùng các hoạt động buôn bán, giao lưu
kinh tế, văn hoá.
Từ khi tái lập tỉnh đặc biệt là sau Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ
XVI năm 2000 và Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ XVII năm 2005, nền
kinh tế tỉnh Bắc Ninh đã và đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, từ một tỉnh thuần nông, cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng
công nghiệp và dịch vụ. Bắc Ninh cũng là một tỉnh có tốc độ đô thị hoá khá
nhanh, nếu như trước đây thành phố Bắc Ninh chỉ bao gồm các phường Tiền
An, Ninh Xá, Thị Cầu, Đáp Cầu nằm dọc theo quốc lộ IA thì cho đến nay số
lượng các phường đã mở rộng thêm bao gồm các phường mới như phường Đại
Phúc, Suối Hoa, Hoà Đình, Kinh Bắc. Trong điều kiện chung của đất nước,
nền kinh tế của tỉnh Bắc Ninh có sự phát triển, đời sống nhân dân được
nâng lên cùng với tác động của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tình hình
tội phạm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói chung, tội phạm về ma tuý và tệ
nạn ma tuý nói riêng luôn có chiều hướng gia tăng, tính chất và mức độ
phạm tội cũng như hình thức sử dụng ngày càng tinh vi và đa dạng hơn.
Diễn biến của tình hình tội phạm nói chung cũng như tình hình tội phạm
1
2
làm và khoảng 4.000 học sinh đang độ tuổi đi học nhưng không có điều kiện đi
học. Tỷ lệ thất nghiệp ở Bắc Ninh tính đến năm 2002 là 7,08%. Vấn đề trên tạo
gánh nặng về xã hội mà chưa thể giải quyết được ngay và cũng ảnh hưởng trực
tiếp đến tình hình tội phạm nói chung và các tội phạm về ma tuý cũng như các
tệ nạn về ma tuý nói riêng.
3
NỘI DUNG
I. Số liệu tình hình các tội phạm về ma tuý tại tỉnh Bắc Ninh từ năm
1998 đến tháng 6/2008.
1. Tình hình tội phạm về ma tuý:
Theo số liệu thống kê được từ nguồn thống kê của Công an tỉnh Bắc
Ninh, từ năm 1998 đến tháng 6 năm 2008, trên địa bàn tỉnh xảy ra 5467 vụ
phạm tội. Trong đó, Công an tỉnh Bắc Ninh đã điều tra, khám phá được 3809
vụ chiếm tỷ lệ 69,67%. Trong số đó các vụ án về ma tuý đã được điều tra, truy
tố là 1297 vụ, bắt giữ 1665 đối tượng.
Bảng 1: So sánh tình hình tội phạm về ma tuý với tình hình tội phạm nói
chung trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 1998 đến hết năm 2007.
Năm
Số liệu tình hình tội phạm
Tổng số vụ phạm tội
Số vụ phạm tội về ma tuý
172
148
154
165
141
235
1297
Tỷ lệ %
18,48
20,29
14,02
18,78
37,64
33,04
34,30
33,54
28,31
41,37
34,05%
Xét tương quan giữa tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội phạm
về ma tuý trong thời gian qua, diễn biến không ổn định, tăng, giảm thất thường
không theo quy luật. Diễn biến của các tội phạm về ma tuý không giống như
diễn biến của các tội phạm nói chung mặc dù qua các năm số tội phạm đều có
chiều hướng gia tăng và đều có sự tăng đột biến vào năm 2007. Nếu như các
tội phạm nói chung có sự tăng đột biến vào năm 1999 (tăng 78 vụ) thì các tội
4
172
196
2003
148
169
2004
154
178
2005
165
189
2006
141
157
2007
235
285
Tổng số
1297
1665
Nguồn: Phòng PC 17 - Công an tỉnh Bắc Ninh
Tỷ lệ
1,97
2,05
2,08
1,02
1,14
1,14
1,16
2007
2008
Tổng
Số khởi tố
Vụ
Đối
62
72
44
85
163
158
133
129
122
111
127
1206
tượng
85
88
49
93
172
169
141
143
128
126
1240
94,61%
Vụ
62
69
43
74
140
155
140
114
109
104
117
1127
Số xét xử
Bị cáo Tỷ lệ
85
85
48
77
150
164
146
126
115
- Một số vụ án đã bị khởi tố nhưng đến giai đoạn truy tố hoặc xét xử thì
bị đình chỉ do một số nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan như bị cáo chết
hoặc căn cứ để khởi tố không còn…
Theo số liệu thống kê của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh từ năm 1998
đến tháng 6 năm 2008, tình hình xét xử các vụ án về ma tuý như sau:
Bảng 4: Tình hình xét xử các vụ án về ma tuý
Tội danh
Vụ
Bị cáo
Hình phạt
Từ 7 - 15 Từ 15 -
Từ 7
năm trở
năm
Chung
Tử
thân
hình
20 năm
0
TPCMT
Vận chuyển 21
23
13
6
2
2
0
TPCMT
Sử
dụng 31
35
30
5
0
0
0
SDTRCMT
Tổng cộng
1084
1201
962
178
50
8
2
Xem xét các vụ án được đưa ra xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, chúng
ta thấy, các vụ án phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" chiếm số lượng
cao nhất là 609 vụ với 637 bị cáo, chiếm tỷ lệ 56,18% so với tổng số các vụ án
được đưa ra xét xử. Các vụ án phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" là 364
vụ với 435 bị cáo, chiếm tỷ lệ 33,58%. Đây là hai loại tội chiếm tỷ lệ cao nhất
(89,76%) so với các vụ án về ma tuý được đưa ra xét xử và cũng là loại tội có
7
tỷ lệ đồng phạm cao nhất 1,20 bị cáo/1 vụ, còn lại các vụ án về "Vận chuyển
trái phép chất ma tuý", "Sử dụng trái phép chất ma tuý", chỉ chiếm một tỷ lệ
nhỏ hơn 10%.
Về mức hình phạt, chúng ta thấy đa số các bị cáo phạm tội có mức hình
phạt từ 7 năm tù trở xuống (962 bị cáo ), chiếm tỷ lệ 80,09% trong đó tội "tàng
xét phân bổ, quy hoạch các chính sách hợp lý để tạo việc làm cho người lao
động, có như vậy mới giảm thiểu tình trạng phạm tội trên địa bàn tỉnh.
- Về trình độ học vấn:
Nhìn vào biểu đồ trên, chúng ta thấy, đa số các bị cáo phạm tội có trình
độ học vấn ở mức Tiểu học (247 bị cáo) và Trung học cơ sở (641 bị cáo). Số bị
cáo có trình độ Trung học cơ sở là 191 bị cáo, và trên trung học cơ sở là 14 bị
cáo, đây là số bị cáo được coi là có trình độ nhận thức nhưng chỉ chiếm tỷ lệ
17, 06% so với tổng số bị cáo phạm tội về ma tuý, điều này có thể nói trình độ
nhận thức ảnh hưởng rất lớn đến hành vi phạm tội. Nghèo đói và không hiểu
biết chính là một trong những nguyên nhân dẫn con người tới sự phạm tội. Vì
vậy, giáo dục con người sao cho hiệu quả, hạn chế tình trạng bỏ học, tình trạng
trẻ em không được đến trường, tạo việc làm cho người lao động, xoá bỏ đói
nghèo… sẽ hạn chế được phần lớn tội phạm có thể xảy ra. Nâng cao trình độ
văn hoá cho mọi người dân là một nội dung quan trọng của phòng ngừa các tội
phạm về ma tuý nói riêng và tội phạm nói chung.
2. Đặc điểm về địa bàn, phương thức, thủ đoạn phạm tội.
Tình hình hoạt động của tội phạm ma tuý trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh vẫn
còn diễn biến phức tạp trên cả 08 huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh, tập trung
ở một số địa bàn trọng điểm như: thành phố Bắc Ninh, thị xã từ Sơn và huyện
Gia Bình (đặc biệt đối với địa bàn huyện Gia Bình các đối tượng phạm tội về
ma tuý không chỉ hoạt động trên địa bàn huyện mà còn hoạt động trên các địa
11
bàn trọng điểm trong cả nước như Lạng Sơn, Sơn La, Điện Biên…). Nguồn ma
tuý được vận chuyển vào Bắc Ninh gồm Hêrôin, thuốc phiện, ma túy tổng hợp
và tập trung ở các tuyến, địa bàn như: Tây Bắc - Hà Nội - Bắc Ninh; Bắc
Giang - Bắc Ninh và vận chuyển đi tỉnh ngoài tiêu thụ các tuyến: Bắc Ninh Quảng Ninh; Bắc Ninh - Lạng Sơn.
Bọn cầm đầu còn dụng cả trẻ em, người già, phụ nữ có thai tham gia vận
chuyển và mua bán ma tuý hòng đối phó với cơ quan Công an, hoặc dùng ngay
cả các con nghiện không có tiền tham gia vào việc mua bán, vận chuyển.
3. Tình hình tội phạm ẩn.
Về nguyên tắc, mọi hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế đều phải được
phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật. Tuy nhiên, trên thực
tế công tác thống kê của các cơ quan tư pháp chưa được đầy đủ, chính xác về
số vụ phạm tội đã xảy ra, số vụ khởi tố, truy tố, xét xử. Trong số đó, một lượng
tội phạm nhất định đã xảy ra nhưng chưa được phát hiện và xử lý, tức là chưa
được thống kê của bất kỳ cơ quan chuyên trách nào, khoa học pháp lý gọi đó là
tội phạm ẩn.
Tội phạm ẩn chính là những hành vi phạm tội thực tế đã xảy ra nhưng
chưa bị các cơ quan chức năng phát hiện, chưa được thống kê hình sự và do đó
chưa bị xử lý về mặt hình sự. Thực tiễn cho thấy, không có một tỷ lệ tội phạm
ẩn chung cho mọi tội phạm mà mỗi loại tội phạm có một tỷ lệ ẩn khác nhau và
ở từng thời gian thì tỷ lệ đó cũng khác nhau.
Theo thống kê của Công an tỉnh Bắc Ninh, hàng năm có khoảng hơn 40
vụ phạm tội về ma tuý không bị phát hiện so với số vụ phạm tội nói chung.
Trong khoảng 10 năm, tội phạm hình sự xảy ra trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh là
5467 vụ, số vụ án được điều tra, khám phá là 3809 vụ, như vậy có khoảng
1658 vụ không điều tra, khám phá được, tính trung bình mỗi năm số vụ án
không điều tra, khám phá được là hơn 160 vụ.
Nhìn chung, mức độ tiềm ẩn của tội phạm về ma tuý thường cao hơn so
với các loại tội phạm khác. Vì các đối tượng phạm tội về ma tuý thường có
hành vi lén lút, nguỵ trang, che giấu bằng nhiều thủ đoạn khác nhau nên việc
phát hiện loại tội này cũng gặp rất nhiều khó khăn, đôi khi phải sử dụng đến
những phương tiện hiện đại mới phát hiện được. Nguyên nhân của tình trạng
các tội phạm về ma tuý không bị phát hiện là do:
13
II. Tình hình tệ nạn về ma tuý.
14
1. Tình hình tệ nạn nghiện ma tuý.
Theo hồ sơ quản lý của phòng PC 17 - Công an tỉnh Bắc Ninh, tình hình
tệ nạn nghiện hút ma tuý từ năm 2002 đến nay trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có
1246 người nghiện ma tuý (tính đến hết tháng 6 năm 2008) ở 103/125 xã,
phường trong toàn tỉnh, cụ thể theo từng năm như sau:
Bảng số 6: Tình hình nghiện ma tuý trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Năm
2002
2003
2004
2005
2006
2007
Tháng
Số người nghiện
912
1022
1182
1117
1139
1136
1246
Số xã, phường, thị trấn
78
người;
- Huyện Thuận Thành: 11/18 xã, thị trấn có người nghiện, với tổng số là
45 người;
15
- Huyện Quế Võ: 15/24 xã, thị trấn có người nghiện, với tổng số là 84
người;
- Tại Trung tâm 06: có 142 người;
- Tại Trại tạm giam: có 152 người.
Nhìn chung, số liệu các đối tượng nghiện ma tuý trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh không phải là cao so với các tỉnh, thành khác như Hà Nội, Hải Phòng,
Thành phố Hồ Chí Minh… Tuy nhiên, đây cũng là điều đáng báo động vì hầu
hết các xã, phường, trị trấn trên toàn tỉnh đều có các đối tượng nghiện hút. Số
liệu này trên thực tế cũng chưa phản ánh được đầy đủ tình trạng số người
nghiện trên địa bàn tỉnh, vì còn có rất nhiều đối tượng chưa được đưa vào hồ
sơ quản lý của cơ quan công an, nhiều gia đình còn bao che, che giấu cho hành
vi của con, cháu mình. Nghiện ma tuý sẽ kéo theo những tệ nạn khác như cớ
bạc, mại dâm… cũng là nguồn gốc nảy sinh các tội phạm khác trong xã hội
như các tội phạm xâm phạm sỡ hữu, tội phạm xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ…
2. Tình hình công tác cai nghiện.
Theo số liệu do Chi cục phòng chống tệ nạn xã hội và Trung tâm giáo
dục dạy nghề và hướng thiện tỉnh Bắc Ninh cung cấp, tình hình công tác cai
nghiện tại Bắc Ninh được thể hiện như sau:
Bảng số 7: Tình hình công tác cai nghiện tại tỉnh Bắc
Ninh.
Năm
nguyệ
cộng
n
đồn
nghiệ
g
p
khác
199
79
20
24
35
1
75
131
104
27
9
200
148
85
26
37
3
154
0
0
148
112
36
200
176
98
38
40
0
171
5
1
175
129
47
2
200
230
131
2
198
16
4
212
163
53
4
200
182
109
73
0
0
167
15
178
68
6
200
260
129
91
40
0
135
25
6
254
187
73
7
352
14
181
110
26
197
2082
550
200
8
2
7
0
Nhìn vào bảng thống kê trên, chúng ta thấy trong vòng hơn 10 năm, tỉnh
Bắc Ninh đã tổ chức cai nghiện cho 2032 người với các hình thức cai nghiện
bắt buộc (1112 người), tự nguyện là 574 người và cai nghiện tại cộng đồng là
352 người. Ngoài các hình thức cai nghiện trên, còn có hình thức cai nghiện tại
gia đình, các gia đình tự nguyện cai nghiện cho người thân. Hình thức cai
nghiện này không được nhà nước hỗ trợ kinh phí, các gia đình phải tự túc hoàn
toàn. Số liệu của hình thức cai nghiện này các cơ quan chức năng không nắm
được.
Theo số liệu thống kê trên, chúng ta thấy đa số các đối tượng cai nghiện
bị nhiễm bệnh là 829 người chiếm tỷ lệ 51,5%, còn lại là các đối tượng khác.
Số liệu cụ thể tại một số địa bàn như sau:
- Thành phố Bắc Ninh: có 975 người nhiễm HIV, trong đó có 565 người
nghiện ma tuý;
- Huyện Tiên Du: có 145 người nhiễm HIV, trong đó có 57 người nghiện
ma tuý;
18
- Huyện Từ Sơn: có 115 người nhiễm HIV, trong đó có 63 người nghiện
ma tuý;
- Huyện Yên Phong: có 26 người nhiễm HIV, trong đó có 6 người
nghiện ma tuý;
- Huyện Thuận Thành: có 56 người nhiễm HIV, trong đó có 22 người
nghiện ma tuý;
- Số người ngoại tỉnh ở trên địa bàn tỉnh bị nhiễm HIV là 13 người.
Đánh giá theo nhóm tuổi người bị nhiễm bệnh thì:
- Dưới 18 tuổi: chiếm tỷ lệ 3,94%;
- Từ 18 đến 40 tuổi: chiếm 88%;
- Từ 40 tuổi trở lên: chiếm 7,06%.
Nhìn vào các số liệu trên cho thấy, tình trạng nhiễm HIV, AISD trên địa
bàn tỉnh là tương đối cao. Đây là điều báo động vì nó là căn bệnh rất nguy
hiểm, có tính lây truyền từ người này sang người khác, hơn nữa trên địa bàn
tỉnh có cả những người dưới 18 tuổi đã mắc căn bệnh thế kỷ này.
III. Kết quả công tác đấu tranh, phòng chống các tội phạm về ma
tuý và tệ nạn về ma tuý.
1. Những kết quả đạt được trong đấu tranh, phòng chống các tội
phạm về ma tuý và tệ nạn về ma tuý.
Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 06/CT-TW ngày 31-11-1996 của Bộ Chính
có hiệu quả về các biện pháp xây dựng xã, phường, thị trấn, khu dân cư,
trường học lành mạnh không có ma tuý; các chủ trương, chính sách, chế độ và
giải quyết sau cai nghiện ma tuý có hiệu quả cho học sinh, sinh viên, thanh
thiếu niên. Sở Y tế cũng đã tích cực phối hợp với các ngành, cơ quan chức
năng như Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, Sở Giáo dục và Đào tạo; Công
an tỉnh tuyên truyền về hiểm hoạ ma tuý với sức khoẻ con người; những loại
thuốc dược liệu có chứa chất ma tuý cần quản lý chặt chẽ trong quá trình điều
trị; các phác đồ, phương pháp, loại thuốc cai nghiện có hiệu quả. Nhân các
ngày lễ lớn như ngày thành lập đoàn 26 tháng 3; ngày quốc tế phòng, chống
ma tuý 26 tháng 6…tỉnh đoàn đã tổ chức các hoạt động tuyên truyền gây ấn
tượng như: mít tinh, điễu hành, tổ chức hội trại, hội thảo, các cuộc thi tìm hiểu,
biểu diễn văn nghệ về phòng, chống ma tuý với các thông điệp hướng dẫn, kêu
gọi “Thanh thiếu niên sống lành mạnh, hãy tránh xa ma tuý”. Ngoài ra, còn
20
phát động các phong trào như “Thể thao đẩy lùi ma tuý”; tổ chức cho các chi
đoàn đăng ký “Không giữ, không thử; không sử dụng ma tuý”. Mặt trận tổ
quốc tỉnh đã chỉ đạo Mặt trận tổ quốc các huyện, thành phố đặc biệt là các cấp
xã, phường, thị trấn chủ động đề xuất, tham mưu với đảng uỷ, chính quyền các
cấp trong việc tuyên truyền về phòng, chống ma tuý. Các tổ chức chính trị phối
hợp với đoàn thể các cấp cùng với ngành Văn hoá thông tin, Đài truyền thanh
cơ sở đã phát và đưa hàng trăm lượt tin bài mỗi năm, kẻ vẽ nhiều panô-áp fích,
băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền về các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, pháp
luật của Nhà nước liên quan đến công tác đấu tranh, phòng ngừa tệ nạn ma tuý.
Ví dụ như trong đợt cao điểm phòng chống ma tuý năm 2008 diễn ra từ ngày
06 tháng 6 năm 2008 đến 31 tháng 8 năm 2008 đã đưa 250 tin, bài, kẻ vẽ 50
panô-ap fích, băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền về ma tuý. Đã tổ chức 8 đợt ra
quân diễu hành trên các trục đường chính, nơi đông người qua lại những địa
bàn phức tạp về tệ nạn ma tuý của 8/8 huyện, thị xã, thành phố. Đã có hơn
ma tuý và các tệ nạn xã hội để xây dựng kế hoạch phòng chống ma tuý của đơn
vị mình. Các trường trong toàn tỉnh đã tổ chức cho 100% học sinh, sinh viên
trong trường ký cam kết không tàng trữ, vận chuyển, buôn bán và sử dụng ma
tuý; Phát động phong trào xây dựng mô hình “Nhà trường không ma tuý”; Xây
dựng các câu lạc bộ, văn nghệ và thể dục thể thao trong nhà trường để thu hút
học sinh, sinh viên; Tổ chức các buổi sinh hoạt ngaòi giờ để truyền thông,
tuyên truyền cho học sinh hiểu biết được tác hại của ma tuý. Tổ chức cho học
sinh xem đĩa hình “Vì một nhà trường không ma tuý” do Bộ Giáo dục và Đào
tạo cung cấp; Xây dựng và duy trì hòm thư “Vì tương lai bè bạn” để tận dụng,
nắm bắt các nguồn thông tin của tất cả các đối tượng để kịp thời xử lý đối
tượng vi phạm; Duy trì và phát triển tốt phong trào “Rèn luyện phong cách
thanh lịch của học sinh Kinh Bắc”; Duy trì thường xuyên khẩu hiệu “Vì môi
trường không ma tuý”; Chủ động phối hợp với Công an địa phương dẹp bỏ các
hàng quán và các tụ điểm cà phê, nhà hàng Karaoke quanh khu vực cổng
trường.
Trong điều tra xử lý tội phạm về ma tuý, Công an tỉnh Bắc Ninh đã phối
hợp chặt chẽ với Viện Kiểm sát và Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh để thống
nhất trong đường lối xử lý, xác định các vụ án điểm. Lực lượng Công an đã
22
hoàn thành hồ sơ chuyển Viện Kiểm sát thụ lý hơn một nghìn vụ án về ma tuý
với 1665 đối tượng.
Viện kiểm sát hai cấp đã làm tốt công tác phân loại xử lý, kiểm sát khởi
tố đối với các vụ án về ma tuý. Đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử các đối
tượng phạm tội về ma tuý được đúng người, đúng tội, đúng qui định của pháp
luật, không có oan sai, lọt tội.
Toà án hai cấp cũng đã làm tốt công tác xét xử của mình, đảm bảo các vụ
án đều được xét xử đúng theo thời gian luật định, không có vụ án nào bị để quá
hạn. Các bị cáo đều được xét xử nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Trong các
một cách tích cực.
- Thực hiện những biện pháp chủ động nhằm ngăn chặn ý đồ phạm tội
của người có tiền án, tiền sự cần phải được thực hiện một cách thường xuyên,
có hiệu quả hơn. Trong quá trình thực hiện chính sách pháp luật, vai trò của
người dân, tổ chức chính quyền tham gia quản lý giáo dục người phạm tội tại
cộng đồng dân cư cần phát huy hơn nữa.
- Công tác quản lý, giáo dục phạm nhân tại các trại cải tạo, công tác giáo
dục pháp luật, lao động cải tạo còn chưa đạt được kết quả như ý muốn. Những
người phạm tội ra tù thường không có việc làm, thu nhập không ổn định, đời
sống khó khăn, thiếu sự quan tâm của chính quyền, xã hội dẫn đến khả năng tái
phạm rất cao.
- Về công tác kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố: Trong giai
đoạn điều tra, các kiểm sát viên đôi khi chỉ chú trọng kiểm sát hồ sơ về tố tong
mà chưa thực sự sắc sảo trong nội dung vụ án để từ đó định hướng điều tra,
phối hợp điều tra các hành vi phạm tội. Viện kiểm sát nhiều khi không tham
gia thực sự suốt quá trình điều tra mà chỉ giám sát một số hoạt động thu thập
chứng cứ như khám nghiệm hiện trường, đối chất… hoặc chỉ ở các vụ án đặc
biệt nghiêm trọng. Do đó dẫn đến tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung, việc đấu
tranh với các đối tượng phạm tội ma tuý còn chưa kịp thời.
- Về công tác xét xử của Toà án: Tại phiên toà, việc xét xử còn nhiều hạn
chế, vai trò của hội thẩm nhân dân chưa được phát huy. Việc áp dụng hình phạt
của Toà cũng không thống nhất, chưa đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật
cũng như chính sách pháp luật hình sự.
24
- Cơ chế tổ chức của các cơ quan tiến hành tố tong còn nhiều hạn chế:
Đội ngũ cán bộ ở các cơ quan tư pháp còn thiếu và yếu. Cơ quan điều tra còn
thiếu lực lượng ở các cấp cơ sở. Trình độ, năng lực của đội ngũ điều tra viên và