Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố thuận lợi ở bệnh nhân viêm bể thận cấp tại khoa thận tiết niệu BV bạch mai - Pdf 48

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn tiết niệu (NKTN) là trạng thái bệnh lý thường gặp trên
lâm sàng, có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, mọi chuyên ngành trong Y khoa. Bệnh
phổ biến ở cả các nước đang phát triển và các nước phát triển. Ở Mỹ năm 2005,
trong số bệnh nhân (BN) bị nhiễm khuẩn phải nhập viện thì NKTN đứng hàng
đầu với 31% [1]. Theo thống kê tình hình bệnh tật 3 năm (1997- 2000) tại khoa
Thận Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai, trong tổng số 974 BN suy thận mạn tính
phải nhập viện có 17% BN có nguyên nhân do viêm thận bể thận mạn tính. Theo
tác giả Đoàn Văn Thoại (2009) nghiên cứu trên 89 BN điều trị nội trú tại Khoa
Thận- Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai thì thấy có 7% số BN bị NKTN, đứng
hàng thứ hai sau bệnh lý cầu thận [2].
Viêm thận bể thận (VTBT) là tình trạng NKTN cao, thể hiện trên lâm
sàng với nhiều hình thái khác nhau. Tình trạng nhiễm khuẩn đó có thể là cấp
tính hay mạn tính, riêng lẻ hay thường phối hợp với các bệnh lý khác và
thường kèm theo các yếu tố nguy cơ làm cho bệnh có biến chứng và hay tái
phát. Bệnh có thể tái phát nếu lựa chọn kháng sinh không đúng hoặc dùng
không đủ liều, không đủ thời gian. Mặt khác do chỉ định quá rộng rãi các thủ
thuật như nội soi tiết niệu, đặt sonde bàng quang, thủ thuật sản khoa hay việc
sử dụng bừa bãi các chế phẩm có corticoid cũng là những yếu tố nguy cơ
thường gặp, gây tình trạng nhiễm khuẩn dai dẳng rất khó điều trị khỏi. Viêm
thận bể thận cấp là một cấp cứu nội khoa, có nhiều biến chứng và cần phải
điều trị nội trú. Những trường hợp VTBT cấp không được điều trị đúng
thường bị tái phát và có nguy cơ dẫn đến viêm thận bể thận mạn và sau đó là
suy thận mạn tính.
Đã có nhiều tác giả đề cập đến NKTN ở trẻ em và người lớn, đặc biệt là
phụ nữ có thai, NKTN ở BN hồi sức có đặt ống thông bàng quang, NKTN ở


2

bàng quang của những phụ nữ bị NKTN [4].
– Năm 1884, Encheris đã cấy và phát hiện được trực khuẩn Coli
trong nước tiểu của trẻ em bị NKTN [4].
– Năm 1917, Lohein phát hiện có sự liên quan giữa NKTN tái phát và
sự gia tăng của viêm thận bể thận và suy thận.
– Vào những năm 1980, việc phát hiện vi khuẩn tức thì thường dựa
vào xét nghiệm vi sinh qua kính hiển vi ở độ phóng đại cao (x400). Với
phương pháp đơn giản này người ta có thể xác định được ở nước tiểu giữa
dòng hoặc nước tiểu chọc hút bàng quang có sự xuất hiện của các vi khuẩn
như trực khuẩn, liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn [5].
1.2. ĐỊNH NGHĨA VÀ MỘT SỐ THUẬT NGỮ CỦA NHIỄM KHUẨN TIẾT NIỆU.

1.2.1. Định nghĩa.
Bình thường nước tiểu trong bàng quang là vô khuẩn. Nhiễm khuẩn
đường tiết niệu là một thuật ngữ chung dùng để chỉ có sự phát triển của VK
trong nước tiểu và nhiễm khuẩn các cấu trúc của đường tiết niệu từ thận
đến lỗ miệng sáo bao gồm cả các tổ chức lân cận như tuyến tiền liệt và mào
tinh hoàn.


4

Theo vị trí giải phẫu, người ta chia ra hai loại nhiễm khuẩn đường tiết niệu:
– Nhiễm khuẩn tiết niệu cao: đó là nhu mô thận và bể thận, còn gọi là
viêm thận bể thận. Viêm thận bể thận cấp là tình trạng nhiễm khuẩn cấp tính ở
đài thận, bể thận, ống thận và nhu mô thận.
– Nhiễm khuẩn tiết niệu thấp: gồm viêm bàng quang, viêm niệu đạo,
viêm tuyến tiền liệt.
1.2.2. Một số thuật ngữ của NKTN.
* Vi khuẩn niệu: Chỉ sự hiện diện của VK trong nước tiểu. Tuy nhiên

1.3.1.1. Các vi khuẩn gây VTBT cấp thường gặp.
Phổ vi khuẩn gây viêm thận bể thận cấp cũng giống như phổ vi khuẩn
gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu nói chung, thường là vi khuẩn gram âm, cầu
khuẩn gram dương, vi khuẩn bệnh viện, nấm…
* Vi khuẩn Gram âm
Các VK gây bệnh đường niệu phổ biến nhất là các trực khuẩn Gram âm
ái khí và yếm khí, chủ yếu là Escherichia coli và các Enterobacteriaceae khác
như Proteus mirabilis, Klebsiella pneumoniae.
– E. coli là nguyên nhân thường gặp nhất, chỉ khoảng 6 type huyết
thanh của E.coli cũng chiếm khoảng 85% nguyên nhân của NKTN cấp [6].
Các tác giả đã tìm hiểu khả năng gây NKTN cao của E.coli là do khả năng
bám dính của E.coli vào tế bào niêm mạc đường tiết niệu. Các lông mao hay
còn gọi là pili (P-fimbria) của E.coli kết dính một cách đặc biệt với phân tử
đường đôi (digalactoside), phân tử đường đôi này thường hiện diện trên bề
mặt tế bào biểu mô của đường niệu đặc biệt là ở thận [7]. Động lực cao của
E.coli còn do yếu tố tan máu và khả năng xâm nhập biểu mô, khả năng gây
độc tế bào của E.coli [8].
– Proteus mirabilis: Là VK có men urease biến ure thành NH3 làm
kiềm hóa nước tiểu gây sỏi struvite. Vấn đề điều trị ở nhóm bệnh nhân này
khó khăn vì sự kiềm hóa nước tiểu chính là điều kiện thúc đẩy cho vi khuẩn
phát triển [9].


6

– Pseudomonas aeruginosa: Thường gặp trong nhiễm khuẩn mô.
Theo các tác giả tỷ lệ gặp từ 10-15%. Vi khuẩn này đóng vai trò quan trọng
trong nhiễm khuẩn bệnh viện, thường rất khó khăn trong điều trị do tỷ lệ đề
kháng kháng sinh rất cao [3].
* Vi khuẩn Gram dương: Chiếm tỉ lệ thấp.

cao hơn. Vi khuẩn đường ruột thường xuyên đi lên đường sinh dục tiết niệu vì
lý do nào đó chưa thực sự rõ ràng, có thể một phần do hậu môn phụ nữ nằm
gần niệu đạo, sau đó vi khuẩn sẽ bám vào và nhân lên ở tế bào biểu mô đường
tiết niệu, tạo điều kện cho vi khuẩn tồn tại. Ở nam giới, niệu đạo dài hơn và
sự kháng vi khuẩn hữu hiệu từ các chất tiết của tuyến tiền liệt có tác dụng
ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn theo đường ngược dòng, do đó tỉ lệ nhiễm
khuẩn tiết niệu thường ít hơn ở nữ [6] [10] [11].
Các vi sinh vật ở bàng quang có thể ngược dòng lên xa hơn, thậm chí
kháng lại cả dòng chảy của nước tiểu, đặc biệt khi có yếu tố thuận lợi là trào
ngược bàng quang niệu quản. Theo dòng nước tiểu trào ngược, vi sinh vật có
thể lên đến đài bể thận rồi thâm nhập vào trong vùng tủy thận [6].
* Nhiễm khuẩn theo đường máu
Nhiễm khuẩn tiết niệu theo đường máu ít gặp hơn đường ngược dòng
và thường liên quan đến một số vi sinh vật gây bệnh đường niệu không phổ
biến như Staphyloccus aureus, nấm Candida, Salmonella và Mycobacterium
tuberculosis. Các vi sinh vật này gây nên nhiễm khuẩn khởi đầu ở bất cứ nơi
nào trong cơ thể, sau đó đi theo đường máu gây nhiễm khuẩn ở đường niệu.
* Nhiễm khuẩn theo đường bạch huyết
Vi khuẩn cũng có thể xâm nhập theo đường bạch huyết gây NKTN.
Một số tác giả cho rằng các nhiễm khuẩn vùng manh tràng, ruột thừa có thể lan
tới thận phải qua hệ thống bạch mạch hoặc viêm cổ tử cung cũng có thể gây
nhiễm khuẩn thận qua đường bạch mạch niệu quản. Tuy nhiên các giả thuyết
NKTN qua đường bạch mạch hiện nay vẫn còn đang được nghiên cứu và bàn cãi.


8

* Nhiễm khuẩn lan truyền trực tiếp từ thủ thuật nội soi và rò rỉ từ
các ổ mủ ở các cơ quan phụ cận
 Nhiễm khuẩn đường tiết niệu có thể do thủ thuật trên đường niệu

viền P của vi khuẩn làm cho vi khuẩn không nhân lên được. Dòng nước tiểu
cùng với sự co bóp của bàng quang cũng ngăn ngừa sự ứ đọng nước tiểu và
sự sinh sôi của vi khuẩn [19].
 Niệu quản: nhu động của niệu quản có tác dụng làm cho nước tiểu
chảy dễ dàng từ thận xuống bàng quang và ngăn cản VK đi ngược dòng lên
thận. Do đó ở phụ nữ có thai, sự giảm nhu động niệu quản làm tăng nguy cơ
bị NKTN [15]. Trào ngược bàng quang niệu quản do bẩm sinh hay mắc phải,
sự tắc nghẽn đường niệu do chèn ép (sỏi, u, dị dạng đường tiết niệu bẩm sinh,
phì đại tiền liệt tuyến) đều làm gia tăng nguy cơ mắc NKTN.
 Thận: Vùng vỏ thận có khả năng đề kháng lại VK cao hơn vùng tủy
thận cả với VK gram âm và VK gram dương xâm nhập vào thận theo đường
máu hay đường ngược dòng.
 pH acid, phổ vi khuẩn bình thường ở âm đạo và các kháng thể
đặc hiệu vùng âm đạo – cổ tử cung cũng là yếu tố bảo vệ của cơ thể.
b) Cơ chế bảo vệ đặc hiệu.
Đáp ứng miễn dịch tỏ ra có một vai trò tương đối trong bảo vệ nhiễm
khuẩn thận và bàng quang. Khi thận bị nhiễm khuẩn, cả kháng thể hệ thống
và kháng thể tại chỗ đều được tạo ra. Đó là các kháng thể đặc hiệu được tìm
thấy trong nước tiểu thậm chí trước khi xuất hiện trong huyết tương.
Các kháng thể tự nhiên như IgG và IgA ở niệu đạo tạo ra một hàng rào
ngăn cản các vi sinh vật gây nhiễm khuẩn ngược dòng. Kháng thể trong nước
tiểu xuất hiện giúp ngăn cản sự kết dính của VK vào niêm mạc đường tiết niệu
[20]. Mặt khác còn có vai trò làm tăng cường hoạt động của hệ thống bổ thể,
phục hồi lại sự bảo vệ của tế bào và chống lại sự phát triển nhanh chóng của VK.


10

1.4. CÁC YẾU TỐ THUẬN LỢI GÂY NHIỄM KHUÂN TIẾT NIỆU.



 Tắc nghẽn đường dẫn niệu và ứ đọng nước tiểu
Tắc nghẽn đường dẫn niệu tại bất cứ vị trí nào của đường niệu, cũng
làm tổn thương đến sự bảo vệ của đường niệu chống lại sự nhiễm khuẩn. Tắc
nghẽn đường dẫn niệu gây nên ứ đọng nước tiểu, tạo điều kiện cho VK phát
triển, gây viêm nhiễm tại chỗ và ngược dòng hậu quả là có thể gây thận ứ mủ
hoặc viêm thận bể thận mạn và suy thận.
Các nguyên nhân hay gặp gây tắc nghẽn đường niệu
* Sỏi: Sỏi làm cản trở dòng chảy của nước tiểu, nếu không gây tắc
nghẽn sỏi cũng có thể gây ra tổn thương niêm mạc của đường tiết niệu, làm
tăng sự nhạy cảm của niêm mạc đường tiết niệu, tạo điều kiện cho VK kết
dính và xâm nhập vào đường tiết niệu gây ra sự nhiễm khuẩn kéo dài [6].
* Khối u bàng quang và u tuyến tiền liệt gây nên sự suy giảm khả
năng làm trống bàng quang hoàn toàn, tạo nên thể tích nước tiểu tồn đọng.
Đây là một nguy cơ lớn gây NKTN. Khi lượng nước tiểu còn tồn dư >100ml
được xem như là điều kiện quan trọng tạo nên NKTN [12].
* Chít hẹp niệu quản do chèn ép hoặc tật bẩm sinh như chít hẹp
miệng nối niệu quản – bàng quang hay miệng nối bể thận – niệu quản là
nguyên nhân chính gây ứ nước, ứ mủ bể thận với biến chứng nhiễm trùng.
 Thủ thuật đường niệu không đảm bảo vô khuẩn
Đây là một yếu tố thuận lợi hay gặp trong điều kiện nước ta hiện nay.
Theo Pierc F. Gardnar có 40% các bệnh lây chéo tại bệnh viện xảy ra trong
đường tiết niệu và thường là hậu quả của việc luồn catheter hay dụng cụ vào
niệu đạo, bàng quang hay thận [13].
 Bệnh nhân tiểu đường
Những người bị tiểu đường có tần suất NKTN gấp 2 - 4 lần những
người khác. Hầu hết NKTN ở những người bị bệnh tiểu đường là không có


12

13

 Hội chứng bàng quang: đái buốt, đái rắt, cảm giác buồn tiểu khiến
bệnh nhân phải đi tiểu liên tục, đau vùng trên xương mu có thể gặp gợi ý có
viêm bàng quang. Triệu chứng viêm bàng quang thường đi trước, khi có viêm
thận bể thận có thể triệu chứng viêm bàng quang vẫn còn hoặc đã giảm, cũng
có thể không còn triệu chứng lâm sàng mà chỉ còn triệu chứng xét nghiệm.
 Dấu hiệu nhiễm khuẩn: có thể biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau
từ nhẹ đến hội chứng nhiễm khuẩn huyết. Triệu chứng thường xuất hiện rầm
rộ, bệnh nhân sốt cao kèm theo rét run, môi khô, lưỡi bẩn, thể trạng suy sụp.
Gleckman và cộng sự đã báo cáo những trường hợp nhiễm khuẩn huyết và
sốc thường có biểu hiện viêm thận bể thận ở người lớn tuổi [21]. Tuy nhiên
cần lưu ý có thể có một số ít bệnh nhân không sốt, nhất là người cao tuổi.
 Đau: điển hình là đau vùng hông lưng, góc sườn – cột sống, thường
đau một bên nhưng có khi đau cả hai bên. Một số bệnh nhân có đau lan xuống
dưới. Có thể có cơn đau quặn thận nhưng thường đau tức, âm ỉ.
 Thận bên bệnh thường to lên, một số trường hợp có thể sờ thấy thận to,
đau, có dấu hiệu vỗ hông lưng, chậm thận, bập bềnh thận dương tính. Dấu hiệu vỗ
hông lưng là triệu chứng rất có giá trị, nhất là trường hợp chỉ đau một bên.
 Nước tiểu đục do có nhiều bạch cầu và vi khuẩn, một số trường hợp
có thể đái ra mủ, đái máu.
1.5.2. Dấu hiệu cận lâm sàng.
– Xét nghiệm nước tiểu:
+ Bạch cầu niệu nhiều ≥ 104 VK/ml nước tiểu, có bạch cầu đa nhân
thoái hóa.
+ Cấy nước tiểu có số lượng VK niệu ≥ 105 VK/ml, là xét nghiệm có
tính chất quyết định chẩn đoán NKTN.
+ Có protein niệu, nhưng điển hình là số lượng ít (

15

định dựa vào kết quả xét nghiệm nước tiểu trong đó số lượng bạch cầu niệu
≥104/ml, kết quả cấy nước tiểu cho số lượng vi khuẩn ≥ 105/ml.
1.5.3.2. Chẩn đoán viêm thận bể thận cấp ở một số cơ địa.
– Phụ nữ có thai: đối với phụ nữ có thai, khi chỉ có dấu hiệu viêm
bàng quang vẫn cần phải loại trừ viêm thận bể thận cấp. Trong thời kỳ có thai
thường có các triệu chứng gây khó chịu như tiểu nhiều lần, tiểu đêm nên
không chú ý đến tình trạng có vi khuẩn trong nước tiểu. PNCT có vi khuẩn
niệu không triệu chứng có nguy cơ cao trở thành nhiễm khuẩn tiết niệu có
triệu chứng và gây các biến chứng cho mẹ và thai như: nhiễm khuẩn huyết,
thiếu máu, rối loạn chức năng chuyển hóa của thận, trẻ nhẹ cân, non tháng
[22]. Theo Toye B và Ronald A.R 40% vi khuẩn niệu không triệu chứng ở
PNCT sẽ tiến triển thành viêm thận bể thận cấp nếu không được điều trị [7].
– Bệnh nhân đái tháo đường: có nguy cơ bị viêm thận bể thận khí và
hoại tử núm thận, dẫn đến sốc và suy thận.
– Bệnh nhân suy giảm miễn dịch thường biểu hiện triệu chứng viêm
thận bể thận kín đáo, không rầm rộ.
1.5.4. Chẩn đoán căn nguyên [23].
a) Phương pháp lấy bệnh phẩm.
 Nước tiểu được lấy giữa dòng vào lọ vô khuẩn lúc sáng sớm là thích
hợp nhất và tốt nhất là được nuôi cấy ngay trong vòng 2h sau khi lấy.
 Những phương pháp lấy mẫu nước tiểu bằng các thủ thuật như chọc
hút nước tiểu bàng quang trên khớp mu, hay đặt ống thông bàng quang qua
đường niệu đạo cũng được đề cập đến, nhưng các phương pháp này không
được khuyến khích áp dụng mặc dù giá trị chẩn đoán khá cao, bởi những tai
biến và nguy cơ gây NKTN do thủ thuật.
b) Các phương pháp chẩn đoán căn nguyên.
* Nhuộm soi trực tiếp:

hoặc < 4 G/l, có thể kèm theo tiểu cầu giảm, rối loạn đông máu.
– Xét nghiệm sinh hóa: CRP tăng, procalcitonin tăng và các xét
nghiệm đánh giá tổn thương các cơ quan.
1.6.2. Ứ nước thận [24].
Thận ứ nước có rất nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính gây
biến chứng thận ứ nước là do sự tắc nghẽn đường tiết niệu trên. Sỏi gây cản


17

trở đường dẫn lưu nước tiểu dù tắc hoàn toàn hay không hoàn toàn vẫn gây
hiện tượng ứ đọng nước tiểu trên sỏi. Thận ứ nước làm giãn đài bể thận, nhu
mô thận, dần phá hủy chức năng thận.
Biểu hiện lâm sàng:
– Đau vùng thắt lưng rất hay gặp, đau là do thận ứ nước, thận và bao
thận bị căng cấp tính, đau thường liên tục âm ỉ hoặc cảm giác nặng tức, đau
thường khởi phát khu trú vùng mạn sườn hay hông lưng rồi lan xuống dưới.
– Thiểu niệu hoặc vô niệu thường gặp ở những bệnh nhân ứ nước thận
hai bên do tắc nghẽn cả hai bên.
– Thận to tự bệnh nhân sờ thấy là dấu hiệu rất hay gặp. Khám thấy hố
thận đầy, ấn tức, chạm thận và bập bềnh thận rõ.
Cận lâm sàng:
– Chụp hệ tiết niệu không chuẩn bị: thấy được hình ảnh của bóng thận
to, phát hiện được sỏi cản quang gây tắc nghẽn đường niệu.
– Siêu âm: là phương pháp tin cậy và hiệu quả để thăm dò. Khi thận ứ
nước, hình thể kích thước thận to, dài bể thận giãn, còn phân biệt được hay
không các nhóm đài hoặc thận giãn ứ nước toàn bộ nhu mô mỏng chỉ vài mm
hay không đo được. Siêu âm còn phát hiện được độ đậm âm của dịch trong
xoang thận, qua đó hướng tới thận ứ nước nhiễm khuẩn hay thận ứ mủ, siêu
âm cũng cho biết tình trạng giãn của một phần niệu quản khi bị tắc hay chít

>45 µmol/l trong khoảng thời gian 24 giờ [25].
1.6.5. Viêm thận bể thận mạn.
Viêm thận bể thận mạn là tổn thương thận do tình trạng nhiễm khuẩn
dai dẳng hoặc tái đi tái lại nhiều lần. Viêm thận bể thận cấp có thể tái phát nếu
lựa chọn kháng sinh không đúng hoặc dùng không đủ liều, không đủ thời
gian. Nếu không loại bỏ được các yếu tố thuận lợi bệnh cũng sẽ tái phát nhiều
lần và chuyển thành mạn tính.
Tiền sử bệnh nhân thường có những đợt nhiễm khuẩn tiết niệu tái đi tái
lại nhiều lần. Bệnh nhân thường đến khám vì các triệu chứng của một đợt


19

viêm thận bể thận cấp như sốt, mệt mỏi, đau lưng hoặc của một đợt viêm bàng
quang như đái buốt, đái rắt, đái đục, đôi khi có đái máu. Thông thường các
dấu hiệu này đã tái đi tái lại nhiều lần.
Xét nghiệm nước tiểu có nhiều bạch cầu, có thể có tế bào mủ, vi khuẩn
niệu, protein niệu dương tính là dấu hiệu tiên lượng không tốt. Có thể tăng ure
và creatinin máu. Phân ly chức năng cầu thận và ống thận, biểu hiện bằng khả
năng cô đặc nước tiểu giảm (giảm tỷ trọng, giảm áp lực thẩm thấu niệu) trong
khi mức lọc cầu thận bình thường. Thăm dò hình ảnh thấy bờ thận gồ ghề,
biến dạng hệ thống đài bể thận, kích thước thận nhỏ hơn bình thường nhưng
không đồng đều hai bên [19].
1.6.6. Suy thận mạn tính.
Viêm thận bể thận mạn tính kèm theo quá trình sẹo hóa thận từ từ, và
có thể dẫn đến tình trạng suy thận mạn tính. Suy thận mạn tính là tình trạng
suy giảm chức năng thận mạn tính không hồi phục theo thời gian nhiều tháng,
nhiều năm, do tổn thương không hồi phục về số lượng và chức năng của các
nephron làm giảm dần mức lọc cầu thận [26]. Khi mức lọc cầu thận giảm
xuống dưới 50% (60 ml/phút) so với mức bình thường (120 ml/phút) thì được

37,8% và tỷ lệ này tăng lên 40-50% sau tuổi 24 [32].
Phương pháp tin cậy để chẩn đoán NKTN một cách chính xác là nuôi
cấy nước tiểu tìm vi khuẩn. Tuy nhiên để đưa ra chỉ định nuôi cấy, nhiều tác
giả cũng đã tiến hành nghiên cứu vai trò của những xét nghiệm đơn giản hơn
trong việc chẩn đoán NKTN. Guillermo Aguilar Arenas và cộng sự (2005)
nghiên cứu vai trò của tổng phân tích nước tiểu trước khi cấy nước tiểu thì
thấy độ đặc hiệu của bạch cầu niệu là 94,2% và độ nhạy là 72,2% [33].
1.7.2. Tại Việt Nam.
Tại Việt Nam, NKTN cũng là vấn đề được quan tâm của ngành Y tế.
Theo Nguyễn Văn Xang và cộng sự thì BN bị NKTN được điều trị tại khoa
Thận – Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai từ năm 1981-1985 đứng hàng thứ hai
sau bệnh lý cầu thận và nữ giới chiếm tỷ lệ 70% [34].


21

Tại Bệnh viện Bạch Mai thống kê từ năm 1991-1996 tỷ lệ BN nhập
viện điều trị nội trú do NKTN chiếm 1/5 tổng số BN vào khoa Thận – Tiết
niệu. Còn ở Bệnh viện Thanh Nhàn (Hà Nội) trong 03 năm (1996-1998) tỉ lệ
BN bị NKTN vào điều trị nội trú chiếm 48,5% tổng số BN bị bệnh liên quan
tới Thận – Tiết niệu [35]. Năm 2001 Phan Thị Bích Hồng nghiên cứu 107 BN
có biểu hiện NKTN được điều trị tại khoa Thận – Tiết niệu thấy rằng lứa tuổi
hay gặp là 20-45 tuổi, nữ nhiều gấp đôi nam, E.coli là vi khuẩn gây nhiễm
khuẩn hàng đầu. Đái buốt, đái rắt, đái đục là những triệu chứng hay gặp nhất
với tỷ lệ lần lượt là 55,1%; 64,5% và 63,6% [36].
Nhiễm khuẩn tiết niệu không triệu chứng chiếm tỷ lệ khá cao. Nghiên
cứu của Võ Tam qua điều tra 3 xã thuộc 3 vùng đồng bằng, miền núi và đầm
phá ven biển năm 2003 nhận thấy tỷ lệ NKTN ở vùng đồng bằng là 22,7%,
vùng trung du là 2,38% và vùng đầm phá ven biển là 2,5%. Tỷ lệ NKTN
chung là 2,4% [37].

2.1.2. Các tiêu chuẩn chẩn đoán.
a) Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm thận bể thận cấp [19].
Chẩn đoán xác định dựa vào:
 Các dấu hiệu lâm sàng gợi ý: Sốt, rét run, đau hông lưng, đái buốt,
đái rắt, đái đục.
 Kết quả xét nghiệm nước tiểu: BC niệu ≥104 BC/ml, VK niệu ≥105
VK/ml.
b) Chẩn đoán đợt cấp viêm thận bể thận mạn tính [19]: Dựa vào một
số yếu tố:
 Tiền sử có nhiều đợt bệnh tái đi tái lại.
 Có yếu tố thuận lợi chưa hoặc không loại bỏ được.
 Đợt bệnh có triệu chứng lâm sàng của viêm thận bể thận cấp hoặc
viêm bàng quang cấp.
 BC niệu nhiều có thể có tế bào mủ, VK niệu và protein niệu.
 Siêu âm: Bờ thận gồ ghề, biến dạng hệ thống đài bể thận, kích thước
thận nhỏ hơn bình thường nhưng không đồng đều hai bên.


23

c) Chẩn đoán sỏi tiết niệu.
Dựa vào các thăm dò chẩn đoán hình ảnh:
 Chụp Xquang hệ thận tiết niệu không chuẩn bị: Có hình ảnh cản
quang ở vị trí tương đương nhu mô thận, đài bể thận, trên đường đi của niệu
quản hoặc vị trí bàng quang.
 Siêu âm hệ thận tiết niệu: Hình ảnh của sỏi tiết niệu là hình đậm âm
kèm bóng cản nằm trong thận, niệu quản hoặc bàng quang.
 Chụp UIV: Đối với một số trường hợp không có suy thận nhằm
đánh giá chức năng thận, hình thái đài bể thận và khẳng định thêm chính xác
vị trí của sỏi.

 Thực thể: dấu hiệu thận to, vỗ hông lưng, điểm đau niệu quản, cầu
bàng quang, thăm trực tràng thấy tiền liệt tuyến to.
2.3.1.3. Đặc điểm cận lâm sàng.
a) Xét nghiệm huyết học: Thực hiện tại Khoa Huyết học Bệnh viện Bạch
Mai nhằm đánh giá số lượng hồng cầu, nồng độ hemoglobin, số lượng bạch cầu.
b) Xét nghiệm sinh hóa máu: Thực hiện tại Khoa Sinh hóa Bệnh viện Bạch
Mai nhằm đánh giá các chỉ số: Nồng độ urê, creatinin, CRP, Procalcitonin.
c) Xét nghiệm nước tiểu: Thực hiện tại Khoa Sinh hóa và Khoa Vi sinh
Bệnh viện Bạch Mai.
* Các xét nghiệm được tiến hành
 Tổng phân tích nước tiểu: Protein niệu (g/l hoặc g/24h), hồng cầu
niệu (tế bào/µl), bạch cầu niệu (tế bào/µl), pH nước tiểu.
 Xét nghiệm vi khuẩn niệu và làm kháng sinh đồ: Mẫu nước tiểu sau
khi lấy được chuyển đến khoa Vi sinh để nuôi cấy định danh vi khuẩn bằng
máy Phoenix và làm kháng sinh đồ.
* Đánh giá kết quả xét nghiệm vi khuẩn niệu
 Tiêu chuẩn chẩn đoán là số lượng vi khuẩn ≥105 VK/ml nước tiểu.
 Kháng sinh đồ được đánh giá theo ba mức:
+ Nhạy cảm (S- Sensitivity).
+ Trung gian (I – Intermediate).
+ Đề kháng (R – Resistant).


25

d) Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh: Được thực hiện tại Khoa
Chẩn đoán hình ảnh và Khoa Thận - Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai như siêu
âm thận – tiết niệu, chụp X quang hệ tiết niệu không chuẩn bị, chụp cắt lớp vi
tính, chụp cộng hưởng từ, soi bàng quang trong một số trường hợp có chỉ định
cụ thể.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status