Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố thuận lợi ở bệnh nhân viêm thận bể thận cấp tại khoa thận tiết niệu bệnh viện bạch mai - Pdf 36

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn tiết niệu (NKTN) là trạng thái bệnh lý thường gặp trên
lâm sàng, có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, mọi chuyên ngành trong Y khoa. Bệnh
phổ biến ở cả các nước đang phát triển và các nước phát triển. Ở Mỹ năm 2005,
trong số bệnh nhân (BN) bị nhiễm khuẩn phải nhập viện thì NKTN đứng hàng
đầu với 31% [1]. Theo thống kê tình hình bệnh tật 3 năm (1997- 2000) tại khoa
Thận Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai, trong tổng số 974 BN suy thận mạn tính
phải nhập viện có 17% BN có nguyên nhân do viêm thận bể thận mạn tính. Theo
tác giả Đoàn Văn Thoại (2009) nghiên cứu trên 89 BN điều trị nội trú tại Khoa
Thận- Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai thì thấy có 7% số BN bị NKTN, đứng
hàng thứ hai sau bệnh lý cầu thận [2].
Viêm thận bể thận (VTBT) là tình trạng NKTN cao, thể hiện trên lâm
sàng với nhiều hình thái khác nhau. Tình trạng nhiễm khuẩn đó có thể là cấp
tính hay mạn tính, riêng lẻ hay thường phối hợp với các bệnh lý khác và
thường kèm theo các yếu tố nguy cơ làm cho bệnh có biến chứng và hay tái
phát. Bệnh có thể tái phát nếu lựa chọn kháng sinh không đúng hoặc dùng
không đủ liều, không đủ thời gian. Mặt khác do chỉ định quá rộng rãi các thủ
thuật như nội soi tiết niệu, đặt sonde bàng quang, thủ thuật sản khoa hay việc
sử dụng bừa bãi các chế phẩm có corticoid cũng là những yếu tố nguy cơ
thường gặp, gây tình trạng nhiễm khuẩn dai dẳng rất khó điều trị khỏi. Viêm
thận bể thận cấp là một cấp cứu nội khoa, có nhiều biến chứng và cần phải
điều trị nội trú. Những trường hợp VTBT cấp không được điều trị đúng
thường bị tái phát và có nguy cơ dẫn đến viêm thận bể thận mạn và sau đó là
suy thận mạn tính.
Đã có nhiều tác giả đề cập đến NKTN ở trẻ em và người lớn, đặc biệt là
phụ nữ có thai, NKTN ở BN hồi sức có đặt ống thông bàng quang, NKTN ở


2

mới thực sự tìm ra căn nguyên của nó.


Năm 1881, Robert đã tìm thấy sự hiện diện của vi khuẩn trong nước tiểu của
bệnh nhân có triệu chứng về đường tiết niệu [4].



Năm 1882, Wagner mô tả những biến đổi mô bệnh học khu trú ở bàng quang
của những phụ nữ bị NKTN [4].



Năm 1884, Encheris đã cấy và phát hiện được trực khuẩn Coli trong nước
tiểu của trẻ em bị NKTN [4].



Năm 1917, Lohein phát hiện có sự liên quan giữa NKTN tái phát và sự gia
tăng của viêm thận bể thận và suy thận.



Vào những năm 1980, việc phát hiện vi khuẩn tức thì thường dựa vào xét
nghiệm vi sinh qua kính hiển vi ở độ phóng đại cao (x400). Với phương pháp
đơn giản này người ta có thể xác định được ở nước tiểu giữa dòng hoặc nước
tiểu chọc hút bàng quang có sự xuất hiện của các vi khuẩn như trực khuẩn,
liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn [5].
1.2. ĐỊNH NGHĨA VÀ MỘT SỐ THUẬT NGỮ CỦA NHIỄM KHUẨN
TIẾT NIỆU.

*

Vi khuẩn niệu có ý nghĩa: Dùng để phân biệt VK niệu do nhiễm khuẩn và VK
niệu do nhiễm bẩn mẫu nước tiểu. Vào năm 1991, Carolin C. Johnson đã đề
ra một số tiêu chuẩn xác định VK niệu có ý nghĩa như sau:



≥ 102 VK dạng Coli/ml nước tiểu hay 105 VK không phải dạng Coli/ml nước
tiểu ở phụ nữ có triệu chứng NKTN.



≥ 102 VK/ml nước tiểu ở những bệnh nhân có đặt ống thông bàng quang.



≥ 103 VK/ml nước tiểu ở nam giới có triệu chứng NKTN.



≥ 105 VK/ml nước tiểu ở những người không có triệu chứng NKTN trên hai
mẫu cấy nước tiểu liên tiếp.



Nếu nước tiểu được lấy qua chọc dò bàng quang trên xương mu thì sự hiện
diện với số lượng nào của vi khuẩn cũng có thể xem như có ý nghĩa bệnh lý.
1.3. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH.




E. coli là nguyên nhân thường gặp nhất, chỉ khoảng 6 type huyết thanh của
E.coli cũng chiếm khoảng 85% nguyên nhân của NKTN cấp [6]. Các tác giả
đã tìm hiểu khả năng gây NKTN cao của E.coli là do khả năng bám dính của
E.coli vào tế bào niêm mạc đường tiết niệu. Các lông mao hay còn gọi là pili
(P-fimbria) của E.coli kết dính một cách đặc biệt với phân tử đường đôi
(digalactoside), phân tử đường đôi này thường hiện diện trên bề mặt tế bào
biểu mô của đường niệu đặc biệt là ở thận [7]. Động lực cao của E.coli còn
do yếu tố tan máu và khả năng xâm nhập biểu mô, khả năng gây độc tế bào
của E.coli [8].


6



Proteus mirabilis: Là VK có men urease biến ure thành NH 3 làm kiềm hóa
nước tiểu gây sỏi struvite. Vấn đề điều trị ở nhóm bệnh nhân này khó khăn vì
sự kiềm hóa nước tiểu chính là điều kiện thúc đẩy cho vi khuẩn phát triển [9].



Pseudomonas aeruginosa: Thường gặp trong nhiễm khuẩn mô. Theo các tác
giả tỷ lệ gặp từ 10-15%. Vi khuẩn này đóng vai trò quan trọng trong nhiễm
khuẩn bệnh viện, thường rất khó khăn trong điều trị do tỷ lệ đề kháng kháng
sinh rất cao [3].
*

Vi khuẩn Gram dương: Chiếm tỉ lệ thấp.


Đường bạch huyết.

-

Nhiễm khuẩn lan truyền trực tiếp từ thủ thuật nội soi, rò rỉ ổ nhiễm
trùng lân cận.


7

*

Nhiễm khuẩn theo đường ngược dòng

Nhiễm khuẩn theo đường ngược dòng là quan trọng nhất. Kinh nghiệm
lâm sàng và các bằng chứng dựa trên thực nghiệm cho thấy nhiễm khuẩn theo
đường ngược dòng qua niệu đạo từ nguồn lây bên ngoài, là con đường thường
gặp nhất, đặc biệt là nhiễm khuẩn các loại E.coli và các Enterobacteriace
khác. Điều này giải thích vì sao phụ nữ và những bệnh nhân phải đặt ống
thông hoặc các phương tiện khác vào bàng quang lại có nguy cơ bị NKTN
cao hơn. Vi khuẩn đường ruột thường xuyên đi lên đường sinh dục tiết niệu vì
lý do nào đó chưa thực sự rõ ràng, có thể một phần do hậu môn phụ nữ nằm
gần niệu đạo, sau đó vi khuẩn sẽ bám vào và nhân lên ở tế bào biểu mô đường
tiết niệu, tạo điều kện cho vi khuẩn tồn tại. Ở nam giới, niệu đạo dài hơn và
sự kháng vi khuẩn hữu hiệu từ các chất tiết của tuyến tiền liệt có tác dụng
ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn theo đường ngược dòng, do đó tỉ lệ nhiễm
khuẩn tiết niệu thường ít hơn ở nữ [6] [10] [11].
Các vi sinh vật ở bàng quang có thể ngược dòng lên xa hơn, thậm chí
kháng lại cả dòng chảy của nước tiểu, đặc biệt khi có yếu tố thuận lợi là trào


Nhiễm khuẩn đường tiết niệu có thể do thủ thuật trên đường niệu đưa vi
khuẩn vào hệ tiết niệu như đặt sonde bàng quang, đặt sonde niệu quản, gắp
sỏi, tán sỏi nội soi… Đây là một trong những nhiễm khuẩn đường tiểu nguy
hiểm nhất vì vi khuẩn thường là vi khuẩn bệnh viện kháng thuốc.



Áp xe trong ổ bụng như áp xe ruột thừa, viêm túi thừa ở đại tràng sigma… có
thể gây nhiễm khuẩn ở bàng quang, từ đó theo đường ngược dòng lên gây
viêm thận bể thận.
1.3.2.2. Cơ chế bảo vệ của cơ thể trong NKTN.
Sau khi các vi sinh vật xâm nhập vào đường tiết niệu hậu quả của nó
phụ thuộc vào các yếu tố gây độc của VK và sự bảo vệ của cơ thể thông qua
từng thành phần: nước tiểu, bàng quang, niệu quản, thận và đáp ứng miễn
dịch của cơ thể.

a)

Cơ chế bảo vệ không đặc hiệu.



Nước tiểu: Trong những điều kiện nhất định, nước tiểu có thể là yếu tố ức
chế hoặc thậm chí tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh đường tiết niệu. Nước tiểu là
môi trường không thuận lợi cho vi khuẩn phát triển do có áp lực thẩm thấu và
nồng độ amoniac cao, có các đại thực bào.

+


đó ở phụ nữ có thai, sự giảm nhu động niệu quản làm tăng nguy cơ bị NKTN
[15]. Trào ngược bàng quang niệu quản do bẩm sinh hay mắc phải, sự tắc
nghẽn đường niệu do chèn ép (sỏi, u, dị dạng đường tiết niệu bẩm sinh, phì
đại tiền liệt tuyến) đều làm gia tăng nguy cơ mắc NKTN.



Thận: Vùng vỏ thận có khả năng đề kháng lại VK cao hơn vùng tủy thận cả
với VK gram âm và VK gram dương xâm nhập vào thận theo đường máu hay
đường ngược dòng.



pH acid, phổ vi khuẩn bình thường ở âm đạo và các kháng thể đặc hiệu
vùng âm đạo – cổ tử cung cũng là yếu tố bảo vệ của cơ thể.

b)

Cơ chế bảo vệ đặc hiệu.
Đáp ứng miễn dịch tỏ ra có một vai trò tương đối trong bảo vệ nhiễm
khuẩn thận và bàng quang. Khi thận bị nhiễm khuẩn, cả kháng thể hệ thống
và kháng thể tại chỗ đều được tạo ra. Đó là các kháng thể đặc hiệu được tìm
thấy trong nước tiểu thậm chí trước khi xuất hiện trong huyết tương.
Các kháng thể tự nhiên như IgG và IgA ở niệu đạo tạo ra một hàng rào
ngăn cản các vi sinh vật gây nhiễm khuẩn ngược dòng. Kháng thể trong nước
tiểu xuất hiện giúp ngăn cản sự kết dính của VK vào niêm mạc đường tiết niệu


10





Người cao tuổi (trên 65 tuổi)
Tuổi cao cũng liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ mắc NKTN. Có khoảng
10-20% người trên 65 tuổi mắc NKTN. Tuổi cao trên 65, tỷ lệ mắc NKTN
tăng lên một cách đáng kể đặc biệt là ở nam giới làm cho tỷ lệ mắc NKTN
tăng lên xấp xỉ ở cả hai giới. Nguyên nhân của hiện tượng này là do: (1) giảm
khả năng làm trống bàng quang sau khi tiểu tiện là hậu quả của bệnh lý thần


11

kinh bàng quang, (2) tắc nghẽn đường niệu do bệnh lý tuyến tiền liệt hoặc do
các can thiệp vào đường tiết niệu, (3) giảm khả năng tiết các chất diệt VK của
tuyến tiền liệt, (4) tăng các yếu tố xâm nhập từ đáy chậu ở phụ nữ.


Tắc nghẽn đường dẫn niệu và ứ đọng nước tiểu
Tắc nghẽn đường dẫn niệu tại bất cứ vị trí nào của đường niệu, cũng
làm tổn thương đến sự bảo vệ của đường niệu chống lại sự nhiễm khuẩn. Tắc
nghẽn đường dẫn niệu gây nên ứ đọng nước tiểu, tạo điều kiện cho VK phát
triển, gây viêm nhiễm tại chỗ và ngược dòng hậu quả là có thể gây thận ứ mủ
hoặc viêm thận bể thận mạn và suy thận.
Các nguyên nhân hay gặp gây tắc nghẽn đường niệu

*

Sỏi: Sỏi làm cản trở dòng chảy của nước tiểu, nếu không gây tắc nghẽn sỏi
cũng có thể gây ra tổn thương niêm mạc của đường tiết niệu, làm tăng sự

Những người bị tiểu đường có tần suất NKTN gấp 2 - 4 lần những
người khác. Hầu hết NKTN ở những người bị bệnh tiểu đường là không có
triệu chứng và thường có biến chứng nặng nề như hoại tử nhú thận, viêm thận
bể thận cấp có tràn khí, áp xe quanh thận.


Hiện tượng trào ngược bàng quang niệu quản:

+

Cấu trúc “van” của hệ thống tiết niệu bao gồm: “van” niệu quản-bàng quang
và “van” bàng quang-niệu đạo. “Van” niệu quản-bàng quang cho phép nước
tiểu chảy đều đặn từ niệu quản xuống bàng quang, nhưng nó có tác dụng ngăn
dòng nước tiểu trào ngược từ bàng quang lên niệu quản khi có tăng áp lực quá
mức trong bàng quang [14].

+

Tất cả nhứng biến đổi làm ảnh hưởng chức năng của van sẽ làm nước tiểu
trào ngược từ bàng quang lên niệu quản và kéo theo vi khuẩn, sẽ dẫn đến tình
trạng nhiễm khuẩn tiết niệu dai dẳng phức tạp đặc biệt là viêm thận bể thận
[15].

+

Hiện tượng trào ngược bàng quang niệu quản hay gặp ở trẻ em [16]. Hiện
tượng trào ngược có thể là nguyên nhân và cũng có thể là hậu quả của nhiễm
khuẩn. Độc tố của vi khuẩn Gram âm có tác dụng ức chế nhu động của niệu
quản [17]. Ở người lớn trong giai đoạn cấp của nhiễm khuẩn tiết niệu thấp,
thường có sự hiện diện của trào ngược bàng quang niệu quản và hiện tượng


Dấu hiệu nhiễm khuẩn: có thể biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau từ nhẹ đến
hội chứng nhiễm khuẩn huyết. Triệu chứng thường xuất hiện rầm rộ, bệnh
nhân sốt cao kèm theo rét run, môi khô, lưỡi bẩn, thể trạng suy sụp. Gleckman
và cộng sự đã báo cáo những trường hợp nhiễm khuẩn huyết và sốc thường có
biểu hiện viêm thận bể thận ở người lớn tuổi [21]. Tuy nhiên cần lưu ý có thể
có một số ít bệnh nhân không sốt, nhất là người cao tuổi.



Đau: điển hình là đau vùng hông lưng, góc sườn – cột sống, thường đau một
bên nhưng có khi đau cả hai bên. Một số bệnh nhân có đau lan xuống dưới.
Có thể có cơn đau quặn thận nhưng thường đau tức, âm ỉ.



Thận bên bệnh thường to lên, một số trường hợp có thể sờ thấy thận to, đau, có
dấu hiệu vỗ hông lưng, chậm thận, bập bềnh thận dương tính. Dấu hiệu vỗ hông
lưng là triệu chứng rất có giá trị, nhất là trường hợp chỉ đau một bên.



Nước tiểu đục do có nhiều bạch cầu và vi khuẩn, một số trường hợp có thể đái
ra mủ, đái máu.
1.5.2. Dấu hiệu cận lâm sàng.



Xét nghiệm nước tiểu:


Máu lắng, CRP cũng tăng.

+

Cấy máu có thể dương tính.

+

Ure, creatinin tăng khi có suy thận.



Thăm dò chẩn đoán hình ảnh: thường được chỉ định để phát hiện các tình
trạng bệnh lý gây tắc nghẽn và ứ trệ dòng nước tiểu như sỏi tiết niệu, phụt
ngược bàng quang niệu quản... Phương pháp hiện nay được chỉ định đầu tay
là siêu âm và Xquang bụng không chuẩn bị.

+

Siêu âm thận-tiết niệu: kích thước thận thường to hơn bình thường. Đài bể
thận giãn nhẹ, nếu có tắc nghẽn thì đài bể thận giãn nhiều. Có thể phát hiện
được sỏi đài bể thận, sỏi niệu quản, thận đa nang…

+

Xquang bụng không chuẩn bị: có thể thấy bóng thận to, sỏi cản quang đường
tiết niệu.

+


loạn chức năng chuyển hóa của thận, trẻ nhẹ cân, non tháng [22]. Theo Toye
B và Ronald A.R 40% vi khuẩn niệu không triệu chứng ở PNCT sẽ tiến triển
thành viêm thận bể thận cấp nếu không được điều trị [7].



Bệnh nhân đái tháo đường: có nguy cơ bị viêm thận bể thận khí và hoại tử
núm thận, dẫn đến sốc và suy thận.



Bệnh nhân suy giảm miễn dịch thường biểu hiện triệu chứng viêm thận bể
thận kín đáo, không rầm rộ.
1.5.4. Chẩn đoán căn nguyên [23].

a)

Phương pháp lấy bệnh phẩm.



Nước tiểu được lấy giữa dòng vào lọ vô khuẩn lúc sáng sớm là thích hợp nhất
và tốt nhất là được nuôi cấy ngay trong vòng 2h sau khi lấy.



Những phương pháp lấy mẫu nước tiểu bằng các thủ thuật như chọc hút nước
tiểu bàng quang trên khớp mu, hay đặt ống thông bàng quang qua đường niệu
đạo cũng được đề cập đến, nhưng các phương pháp này không được khuyến
khích áp dụng mặc dù giá trị chẩn đoán khá cao, bởi những tai biến và nguy

Hiện nay có nhiều phương pháp cấy xác định số lượng vi khuẩn trong nước
tiểu. Tùy theo điều kiện từng labo có thể áp dụng được phương pháp nào.



Phương pháp cấy đếm của Kass (1956).



Phương pháp dùng que cấy chuẩn (Hoeprich 1960).



Phương pháp in giấy thấm (Leight – Williamss 1994).
1.6. BIẾN CHỨNG CỦA VIÊM THẬN BỂ THẬN CẤP.

1.6.1. Nhiễm khuẩn huyết.
Vi khuẩn vào máu gây vãng khuẩn huyết và nặng hơn là nhiễm khuẩn huyết.
Ngoài triệu chứng của ổ nhiễm khuẩn khởi điểm (viêm thận bể thận, áp
xe thận, sỏi tiết niệu có biến chứng), bệnh nhân sốt cao 39-40 oC, có thể kèm
theo rét run hoặc không, trong những trường hợp nặng có thể hạ thân nhiệt;
mạch nhanh, nhịp thở nhanh, có thể thay đổi tình trạng ý thức. Triệu chứng
rối loạn chức năng các cơ quan: suy gan, suy thận. Nặng hơn bệnh nhân có
thể rơi vào tình trạng sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng.
Xét nghiệm:


Cấy máu dương tính là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết. Tuy
nhiên, kết quả cấy máu âm tính cũng không loại trừ được nhiễm khuẩn huyết.





Thận to tự bệnh nhân sờ thấy là dấu hiệu rất hay gặp. Khám thấy hố thận đầy,
ấn tức, chạm thận và bập bềnh thận rõ.
Cận lâm sàng:



Chụp hệ tiết niệu không chuẩn bị: thấy được hình ảnh của bóng thận to, phát
hiện được sỏi cản quang gây tắc nghẽn đường niệu.



Siêu âm: là phương pháp tin cậy và hiệu quả để thăm dò. Khi thận ứ nước,
hình thể kích thước thận to, dài bể thận giãn, còn phân biệt được hay không
các nhóm đài hoặc thận giãn ứ nước toàn bộ nhu mô mỏng chỉ vài mm hay
không đo được. Siêu âm còn phát hiện được độ đậm âm của dịch trong xoang
thận, qua đó hướng tới thận ứ nước nhiễm khuẩn hay thận ứ mủ, siêu âm cũng
cho biết tình trạng giãn của một phần niệu quản khi bị tắc hay chít hẹp phía
dưới.
1.6.3. Ứ mủ thận.
Thận ứ mủ là hậu quả của tình trạng nhiễm khuẩn để quá muộn không
được điều trị. Thận ứ nước nếu kèm theo nhiễm khuẩn kết hợp thì dần chuyển
thành thận ứ mủ [24]. Nhu mô thận bị phá hủy, hoại tử nhu mô thận có thể
không hoàn toàn nhưng do ổ áp xe rải rác nên làm giảm chức năng thận.


18



Tiền sử bệnh nhân thường có những đợt nhiễm khuẩn tiết niệu tái đi tái
lại nhiều lần. Bệnh nhân thường đến khám vì các triệu chứng của một đợt
viêm thận bể thận cấp như sốt, mệt mỏi, đau lưng hoặc của một đợt viêm
bàng quang như đái buốt, đái rắt, đái đục, đôi khi có đái máu. Thông thường
các dấu hiệu này đã tái đi tái lại nhiều lần.
Xét nghiệm nước tiểu có nhiều bạch cầu, có thể có tế bào mủ, vi khuẩn
niệu, protein niệu dương tính là dấu hiệu tiên lượng không tốt. Có thể tăng ure
và creatinin máu. Phân ly chức năng cầu thận và ống thận, biểu hiện bằng khả
năng cô đặc nước tiểu giảm (giảm tỷ trọng, giảm áp lực thẩm thấu niệu) trong
khi mức lọc cầu thận bình thường. Thăm dò hình ảnh thấy bờ thận gồ ghề,
biến dạng hệ thống đài bể thận, kích thước thận nhỏ hơn bình thường nhưng
không đồng đều hai bên [19].
1.6.6. Suy thận mạn tính.
Viêm thận bể thận mạn tính kèm theo quá trình sẹo hóa thận từ từ, và
có thể dẫn đến tình trạng suy thận mạn tính. Suy thận mạn tính là tình trạng
suy giảm chức năng thận mạn tính không hồi phục theo thời gian nhiều tháng,
nhiều năm, do tổn thương không hồi phục về số lượng và chức năng của các
nephron làm giảm dần mức lọc cầu thận [26]. Khi mức lọc cầu thận giảm
xuống dưới 50% (60 ml/phút) so với mức bình thường (120 ml/phút) thì được
coi là có suy thận mạn. Thận không còn đủ khả năng duy trì tốt sự cân bằng
nội môi và sẽ dẫn đến hàng loạt những biến loạn về lâm sàng và sinh hoá của
các cơ quan trong cơ thể [27].
1.7. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHIỄM KHUẨN TIẾT NIỆU.

1.7.1. Trên thế giới.
Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và thống kê cho
thấy NKTN là một trong những bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất. Điều tra
năm 2003 tại Canada có khoảng trên 50% số phụ nữ được hỏi cho biết họ đã




21

Thận – Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai từ năm 1981-1985 đứng hàng thứ hai
sau bệnh lý cầu thận và nữ giới chiếm tỷ lệ 70% [34].
Tại Bệnh viện Bạch Mai thống kê từ năm 1991-1996 tỷ lệ BN nhập
viện điều trị nội trú do NKTN chiếm 1/5 tổng số BN vào khoa Thận – Tiết
niệu. Còn ở Bệnh viện Thanh Nhàn (Hà Nội) trong 03 năm (1996-1998) tỉ lệ
BN bị NKTN vào điều trị nội trú chiếm 48,5% tổng số BN bị bệnh liên quan
tới Thận – Tiết niệu [35]. Năm 2001 Phan Thị Bích Hồng nghiên cứu 107 BN
có biểu hiện NKTN được điều trị tại khoa Thận – Tiết niệu thấy rằng lứa tuổi
hay gặp là 20-45 tuổi, nữ nhiều gấp đôi nam, E.coli là vi khuẩn gây nhiễm
khuẩn hàng đầu. Đái buốt, đái rắt, đái đục là những triệu chứng hay gặp nhất
với tỷ lệ lần lượt là 55,1%; 64,5% và 63,6% [36].
Nhiễm khuẩn tiết niệu không triệu chứng chiếm tỷ lệ khá cao. Nghiên
cứu của Võ Tam qua điều tra 3 xã thuộc 3 vùng đồng bằng, miền núi và đầm
phá ven biển năm 2003 nhận thấy tỷ lệ NKTN ở vùng đồng bằng là 22,7%,
vùng trung du là 2,38% và vùng đầm phá ven biển là 2,5%. Tỷ lệ NKTN
chung là 2,4% [37].
Một nghiên cứu NKTN không triệu chứng ở phụ nữ có thai của tác giả Ngô
Thị Thùy Dương (2005) cho thấy tỷ lệ NKTN không triệu chứng ở phụ nữ có thai
là 6,54%, E.coli (13,39%) đứng thứ 4 trong số những vi khuẩn phân lập được sau
S.saprophyticus (22,83%), Enterococcus sp (15,75%) và S.aureus (14,96%) [38].
Theo Nguyễn Thị Vinh và cộng sự (2006) thống kê kết quả cấy bệnh
phẩm của các chuyên khoa ở 3 bệnh viện lớn của ba miền Bắc – Trung – Nam
của Việt Nam đã đưa ra kết quả E.coli vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong những
vi khuẩn phân lập được [39].
Gần đây nhất theo nghiên cứu của tác giả Đoàn Văn Thoại (2010) trên
89 bệnh nhân có biểu hiện NKTN trên lâm sàng thấy độ tuổi hay gặp nhất là


Cấy nước tiểu: có thể có vi khuẩn hoặc không.
2.1.2. Các tiêu chuẩn chẩn đoán.

a)

Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm thận bể thận cấp [19].
Chẩn đoán xác định dựa vào:



Các dấu hiệu lâm sàng gợi ý: Sốt, rét run, đau hông lưng, đái buốt, đái rắt, đái
đục.



Kết quả xét nghiệm nước tiểu: BC niệu ≥104 BC/ml, VK niệu ≥105 VK/ml.

b)

Chẩn đoán đợt cấp viêm thận bể thận mạn tính [19]: Dựa vào một số yếu
tố:



Tiền sử có nhiều đợt bệnh tái đi tái lại.



Có yếu tố thuận lợi chưa hoặc không loại bỏ được.


Siêu âm hệ thận tiết niệu: Hình ảnh của sỏi tiết niệu là hình đậm âm kèm bóng
cản nằm trong thận, niệu quản hoặc bàng quang.



Chụp UIV: Đối với một số trường hợp không có suy thận nhằm đánh giá chức
năng thận, hình thái đài bể thận và khẳng định thêm chính xác vị trí của sỏi.



Chụp CT Scan: Một số trường hợp sỏi nhỏ không quan sát được trên X quang
hoặc siêu âm thì bệnh nhân được tiến hình chụp CT scan để chẩn đoán xác
định sỏi.

d)

Chẩn đoán trào ngược bàng quang-niệu quản.
Chụp bàng quang cản quang kèm rặn đái là phương pháp tiến hành
thuận tiện và cho kết quả đánh giá có trào ngược bàng quang niệu quản hay
không một cách chính xác nhất, ngoài ra còn cho phép chẩn đoán xác định
trào ngược bàng quang niệu quản ở giai đoạn nào [40].
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Nghiên cứu hồi cứu trên 103 bệnh nhân được chẩn đoán viêm thận bể
thận cấp điều trị nội trú tại khoa Thận - Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai trong
thời gian từ tháng 01/2013 đến tháng 12/2013.
2.3. NỘI DUNG, CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU VÀ KỸ THUẬT THU THẬP
THÔNG TIN.


2.3.1.3. Đặc điểm cận lâm sàng.
a) Xét nghiệm huyết học: Thực hiện tại Khoa Huyết học Bệnh viện Bạch
Mai nhằm đánh giá số lượng hồng cầu, nồng độ hemoglobin, số lượng bạch cầu.
b) Xét nghiệm sinh hóa máu: Thực hiện tại Khoa Sinh hóa Bệnh viện Bạch
Mai nhằm đánh giá các chỉ số: Nồng độ urê, creatinin, CRP, Procalcitonin.
c) Xét nghiệm nước tiểu: Thực hiện tại Khoa Sinh hóa và Khoa Vi sinh
Bệnh viện Bạch Mai.
* Các xét nghiệm được tiến hành



Tổng phân tích nước tiểu: Protein niệu (g/l hoặc g/24h), hồng cầu niệu (tế
bào/µl), bạch cầu niệu (tế bào/µl), pH nước tiểu.



Xét nghiệm vi khuẩn niệu và làm kháng sinh đồ: Mẫu nước tiểu sau khi lấy
được chuyển đến khoa Vi sinh để nuôi cấy định danh vi khuẩn bằng máy
Phoenix và làm kháng sinh đồ.
* Đánh giá kết quả xét nghiệm vi khuẩn niệu



Tiêu chuẩn chẩn đoán là số lượng vi khuẩn ≥105 VK/ml nước tiểu.



Kháng sinh đồ được đánh giá theo ba mức:
+ Nhạy cảm (S- Sensitivity).


Nghiên cứu này được tiến hành nhờ sự đồng ý của khoa Thận – Tiết niệu và
Phòng Kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Bạch Mai.



Tất cả các thông tin về người bệnh được đảm bảo bí mật và chỉ sử dụng
cho mục đích nghiên cứu khoa học, không vì bất cứ một mục đích nào
khác.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status