LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp “ Bảo tồn và phát huy giá trị di
sản văn hóa chùa Trăm Gian xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, thành
phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết quả
nghiên cứu trong đề tài là hoàn toàn trung thực.
Hà Nội, ngày 30 tháng 7 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Thức
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu
nhà trường, Khoa Văn hóa Thông tin và xã hội, cũng như Quý thầy cô giáo
trong Khoa đã giúp đỡ tạo điều kiện cho em trong quá trình thực hiện đề tài
khóa luận tốt nghiệp tại địa bàn xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, thành
phố Hà Nội. Đặc biệt em xin cảm ơn giảng viên cô Phạm Quỳnh Hương luôn
quan tâm cả về tinh thần lẫn chuyên môn nghiệp vụ, nhiệt tình hướng dẫn chỉ
bảo tận tình cho đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của em.
Tôi xin gửi lời cám ơn tới Ủy ban nhân dân xã Tiên Phương, Uỷ ban
nhân dân huyện Chương Mỹ nơi đã tạo điều kiện tốt nhất về cung cấp tài liệu
cũng như chuyến điền dã tại địa bàn huyện của tôi được thực hiện thuận lợi,
áp dụng kiến thức được học tập tại trường Đại học Nội Vụ Hà Nội vào những
công việc cụ thể thiết thực, chuẩn bị cho công việc trong tương lai.
Em xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Trước xu hướng đô thị hóa
– hiện đại hóa và quá trình mở cửa hội nhập và giao lưu văn hóa với bạn bè
quốc tế, nền văn hóa dân tộc đang trong đứng trước thời kỳ tiếp cận nhiều cơ
hội phát triển nhưng cũng đứng trước nhiều thách thức trong quá trình tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại cũng như bảo tồn và phát huy những giá trị văn
hóa truyền thống của dân tộc.
Trong những năm gần đây đối với các di tích lịch sử - văn hóa trên cả
nước nói chung và chùa Trăm Gian nói riêng. Việc bảo tồn và phát huy giá trị
di sản văn hóa chùa Trăm Gian là một vấn đề cấp thiết mang tính thời sự cao
bởi không chỉ bị ảnh hưởng từ những tác động của thời gian, khí hậu và sự
xâm phạmm tiêu cực thiếu ý thức của con người đã đặt di tích, đứng trước
nguy cơ bị mất đi giá trị nguyên gốc bất cứ lúc nào nếu không nhận được sự
quan tâm và quản lý chặt chẽ của các cơ quan có thẩm quyền quản lý, bảo vệ
và tôn tạo. Từ góc độ của một sinh viên chuyên ngành Quản lý văn hóa, trên
cơ sở tiếp thu những kiến thức trên giảng đường kết hợp với tri thức của
những nhà quản lý, nhà nghiên cứu trước đây, cá nhân tôi mong muốn những
vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý Nhà nước đối với di tích chùa Trăm
Gian sẽ được tháo gỡ, giá trị về văn hóa – lịch sử được phát huy. Vì vậy tôi
chọn đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa chùa Trăm Gian xã
Tiên Phương - huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội” làm khóa luận tốt
nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu
Chùa Trăm Gian là di tích lịch sử vô cùng độc đáo, mang đậm bản sắc
phật giáo miền Bắc kết hợp hài hòa với tín ngưỡng dân gian, chùa được xây
dựng và tồn tại đó là những sản phẩm văn hoá truyền thống của nhân dân
Chương Mỹ nói riêng và là sản phẩm văn hoá của dân tộc Việt Nam nói
chung. Đặc biệt chùa Trăm Gian thu hút hàng trăm ngàn lượt khách gần xa
đến tham quan hàng năm bởi những giá trị vô cùng đặc bởi hoạt động lễ hội,
Chương Mỹ nói riêng và của cả nước nói chung. Những giá trị di sản lịch sủ,
văn hóa, nghệ thuật, cảnh quan và tính thiêng linh của lễ hội đã nên bức tranh
6
con người Việt Nam với những bản sắc vô cùng bình dị nhưng rất đỗi độc đáo
đã tạo nên sức hút với du khách. Những vấn đề đặt ra làm sao để những giá trị
di sản văn hóa này được bảo tồn và phát huy, tuyên truyền phổ biến rộng rãi
hơn? Để tìm lời đáp cho câu hỏi trên là một vấn đề cấp thiết. Vì vậy cần có
những công trình nghiên cứu về việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn
hóa chùa Trăm Gian để góp phần phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc sánh ngang với bạn bè quốc tế.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị di sản
văn hoá chùa Trăm Gian tại xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, thành phố
Hà Nội trong thời gian qua, đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao
chất lượng, hiệu quả của công tác này trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập và
giao lưu quốc tế, góp phần phát triển bền vững một cách toàn diện về kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường và an ninh quốc phòng gắn liền với việc
bảo tồn di sản văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống vấn đề lý luận về di sản văn hoá, bảo tồn và phát huy giá trị di
sản văn hóa, vai trò của việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa chùa
Trăm Gian trên địa bàn xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà
Nội.
Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá
chùa Trăm Gian tại xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn di
tích những ưu điểm và hạn chế trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di
sản văn hòa chùa Trăm Gian thuộc xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, thành
phố Hà Nội.
8
6. Đóng góp của đề tài
Về lý luận:
Nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận về Bảo tồn, Di sản văn hóa
Hệ thống lý thuyết về quản lý di sản văn hóa, quản lý di tích lịch sử,
bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Về thực tiễn:
- Hệ thống hóa giá trị di sản văn hóa chùa Trăm Gian qua khảo sát.
- Điều tra, điền dã về việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
chùa Trăm Gian từ đó đánh giá điểm mạnh, điểm yếu trong việc bảo tồn phát
huy di sản văn hóa chùa Trăm Gian.
- Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
chùa Trăm Gian về quản lý hoạt động, hướng dẫn tổ chức, cán bộ chuyên môn
phụ trách, quần chúng nhân dân.
Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa chùa Trăm Gian.
- Đề tài là tài liệu tham khảo cho giảng viên và sinh viên khi giảng dạy
và học chuyên ngành Quản lý văn hóa.
7. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận gồm 3 chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
chùa Trăm Gian xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Chương 2: Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa chùa
Trăm Gian xã Tiên Phương, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn phát huy giá trị
thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [2; Tr. 10]. Theo
cách tiếp cận giá trị văn hoá này, ta thấy di sản văn hoá bao gồm hầu hết các
giá trị văn hoá vật chất và tinh thần, vật thể hay phi vật thể do con người tạo
nên trong quá khứ. Nó là phần tinh tuý nhất, tiêu biểu nhất đọng lại sau hàng
10
loạt hoạt động sáng tạo của con người từ đời này qua đời khác. Di sản văn hoá
là những giá trị văn hoá đặc biệt bền vững vì nó phải được thẩm định một
cách khắt khe bằng sự thừa nhận của cả cộng đồng người trong một thời gian
lịch sử lâu dài, đó chính là tính chất đặc thù của di sản văn hóa, phân biệt với
khái niệm văn hóa nói chung. Bởi vậy, có thể nói di sản văn hoá là bộ phận
quan trọng nhất, cơ bản nhất của nền văn hoá nếu không muốn nói là tất cả.
Những hoạt động văn hoá đương đại trong chừng mực nào đó chỉ mới là biểu
hiện của văn hoá, một phần có thể được coi là hoạt động sáng tạo mà kết quả
của nó chưa thể khẳng định ngay là sản phẩm tiêu biểu, tinh tuý của văn hoá
dân tộc, vì còn thiếu một yếu tố cơ bản là sự thẩm định của thời gian. Xét về
mặt triết học thì quan hệ giữa văn hóa và di sản văn hóa là quan hệ của phạm
trù cái chung và cái riêng.
Văn hóa là cái chung, di sản văn hóa là cái riêng. Mọi yếu tố của di sản
văn hóa đều là văn hóa, nhưng không phải mọi yếu tố của văn hóa đều là di
sản văn hóa, vì trong văn hóa còn nhiều yếu tố bị mai một trong dòng chảy
lịch sử, do không vượt qua đuợc thử thách của thời gian nên không được lưu
truyền lại cho thế hệ sau thành di sản văn hóa, hoặc những yếu tố văn hóa mới
được hình thành chưa được thẩm định của thời gian.
Như vậy, di sản văn hoá nói chung rất đa dạng, phong phú, bao gồm
các yếu tố nhân văn (di tích lịch sử văn hoá, lễ hội, làng nghề, phong tục
tập quán,…) nhưng cũng chứa đựng cả các yếu tố tự nhiên (rừng, núi, thác,
…)
Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh khái niệm về bảo tồn được hiểu như là :
“Những nỗ lực nhằm gìn giữ các giá trị, bản sắc văn hóa tốt đẹp vốn có của
mỗi dân tộc, quốc gia và bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật
hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó. Bảo tồn là không để mai một,
“không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái”. Như vậy, trong nội hàm của
thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển”.
Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã
khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể
12
trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn" [14; Tr. 12].
Bảo tồn nguyên vẹn văn hóa vật thể ở dạng “tĩnh” là vận dụng thành
quả khoa học kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện
vật như sự vốn có về kích thước, vị trí, đường nét màu sắc, kiểu dáng. Khi cần
phục nguyên các di sản văn hóa vật thể cần sử dụng hiệu quả các phương tiện
kỹ thuật như: đồ họa kỹ thuật vi tính công nghệ 3D theo không gian ba chiều;
chụp ảnh; băng hình video; xác định thành phần chất liệu của di sản văn hóa
vật thể. Sau khi tiến hành bảo tồn nguyên vẹn, phải so sánh đối chiếu số liệu
với nguyên mẫu đã được lưu giữ chi tiết để không làm biến dạng di sản văn
hóa vật thể.
Bảo tồn trên cơ sở kể thừa (bảo tồn trong dạng “động”) tức là bảo tồn
các hiện tượng văn hóa trên cơ sở kế thừa. Các di sản văn hóa vật thể sẽ được
bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế
lại nguyên trạng di sản văn hóa vật thể bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện
đại. Đối vói các di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn “động” trên cơ sở kế thừa
là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đòi sống cộng đồng.
Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn
hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy
tiên của Nhà nước ta về việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. sắc lệnh ra đời
trong hoàn cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đang gặp vô vàn
khó khăn về giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, đất nước đang ở trong tình thế
“ngàn cân treo sợi tóc”. Sắc lệnh số 65/SL gồm các nội dung cơ bản như:
Khẳng định việc bảo tồn cổ tích “là công việc rất quan trọng và rất cần thiết
cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam” (khái niệm “cổ tích” trong sắc lệnh
ngày nay được gọi là di sản văn hóa, gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản
văn hóa vật thể); Đông Phương Bác cổ Học Viện có nhiệm vụ bảo tồn cổ tích
trong toàn cõi Việt Nam, thay thế cho Pháp Quốc Viễn Đông Bác cổ Học viện
bị bãi bỏ; Giữ nguyên các luật lệ về bảo tồn cổ tích đã có trước đây;“Cấm phá
hủy những đình, chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác, những cung
điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn. cấm phá hủy những bi ký,
14
đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo hay không,
nhưng có ích cho lịch sử mà chưa được bảo tồn”; “Chính phủ công nhận
nguyên tắc những khoản trợ cấp hàng năm của toàn quốc, của mỗi kỳ hay mỗi
tỉnh cho Đông Phương Bác cổ Học viện. Khi dự thảo ngân sách cho toàn
quốc, cho từng kỳ hay từng tỉnh; ông Bộ trưởng Bộ Tài chính, ông ủy viên tài
chính mỗi kỳ, mỗi tỉnh phải dự tính khoản trợ cấp cho Đông Phương Bác cổ
Học viện
Trong điều 30, Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1992 quy định rõ rằng: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn
hóa Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn, kể thừa và phát huy những giá trí
của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đaọ đức, phong cách Hồ
Chí Minh; tiếp thu tỉnh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng
tạo trong nhân dân. Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa. Nghiêm
cẩm truyền bá tư tưởng và văn hóa phản động, đồi trụy; bài trừ mề tín, hủ
Phương, (huyện Chương Mỹ, Hà Nội ngày nay), thấy cảnh đẹp, người xin yết
kiến và theo học kinh kệ với vị trưởng lão tu tại ngôi chùa trên núi. Sau mười
năm học đạo, người thanh niên đó hiểu thấu mọi phép linh thông. Vua Trần
nghe tiếng, sắc phong là Hòa Thượng, đặt hiệu là Đức Minh rồi mời về tu ở
chùa trong kinh đô.
Sau khi vị trưởng lão ở chùa Tiên Lữ viên tịch, Hòa thượng Đức Minh
xin về làng dựng ngôi chùa mới. Năm 95 tuổi, Sư ngồi vào một cái khám gỗ,
từ biệt đệ tử rồi siêu thoát. Một trăm ngày sau, đệ tử mở cửa khám, kim quang
Sư bay mùi thơm nức, ngào ngạt gần xa. Dân làng và đệ tử xây tháp để gìn
giữ kim thân và tôn thờ là đức Thánh Bối.
Trong thời gian qua, công tác quản lý di sản văn hóa chùa Trăm Gian
tại huyện Chương Mỹ đã được các cấp và các ngành quan tâm. Tuy nhiên,
công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, vướng mắc: Đã có thời gian cụ
thể năm 2012 nhiều di tích xuống cấp trầm trọng trong khi đó nguồn kinh
phí nhà nước cũng như tại cơ sở các địa phương còn rất hạn hẹp, chế độ cho
người trông coi trực tiếp tại di tích chưa có quy định cụ thể của thành phố;
16
tình trạng tự ý xây dựng, tôn tạo và tu bổ làm mai một kiến trúc không cong
nguyên gốc đã xảy ra tại chùa. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, phổ biến chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới các
làng, thôn,… chưa được quan tâm; việc hưởng ứng tham gia bảo vệ, phát
huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn huyện của người dân còn hạn chế. Vì
vậy, hơn bao giờ hết, công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn
hóa chùa Trăm Gian thuộc huyện Chương Mỹ trong giai đoạn hiện nay cần
được tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động để đáp ứng cho nhân dân
hu cầu cảm thụ văn hóa; nhu cầu nghiên cứu, tham quan du lịch của khách
trong, ngoài nước, tạo nền móng vững bền góp phần xây dựng nền văn hóa
điện kết hợp với nhau thành một nội thất thống nhất, dãy hành lang dài ở hai
bên ăn thông với tiền đường ở phía trước và hậu đường ở phía sau, quây lại
thành một kiến trúc khép kín. Ngoài ra, khoảng sân sau thượng điện trước hậu
đường dựng tòa Phương đình treo cả trống và khánh, cũng là chỗ cho du
khách nghỉ chân ngắm cảnh xung quanh.
Khu trước hoàn toàn là kiến trúc tôn giáo, phục vụ đời sống tâm linh,
được quây kín, những hệ thống của bức màn phía trước thượng điện có thể
đóng hoặc mở tùy ý, các khoảng sân ở trước các dãy hành lang và trước tòa
Phương đình tuy đóng ngang nhưng lại mở dọc, có thể thông với nhau qua
các cửa. Nếu tính gian (gian nhà) theo kiểu truyền thống được phân ra bởi các
vì kèo, thì tòa tiền đường 7 gian, trong khi đó cùng chiều dài nhưng hậu
đường bố trí thành 9 gian. thượng điện chỉ 3 gian nhưng mái trước kéo dài, có
tường bên kéo thẳng sang tiền đường.
1.3.3. Nhân vật thờ phụng
Tượng Tuyết Sơn là Đức Thích ca hồi 29 tuổi dời hoàng cung lên núi
Him Mã Lạc Sơn trên đỉnh có tuyết đóng quanh năm nên gọi là Tuyết Sơn tức
là núi tuyết, ngài tu khổ hạnh 6 năm liền sẵn sàng đón nhận cái chết thể xác
để hy vọng đạt được cái sống tinh thần vì thế thân thể rất gầy, nhưng đầu óc
sáng láng. Lúc này ngài chưa thành phật vẫn là người thường, sang năm thứ 7
ngài thay đổi cách tu từ bỏ khổ hạnh, sau 49 ngày thì liền ngộ thành phật.
18
Tượng tướng quân Đặng Tiến Đông hay có tên gọi khác là Đặng Tiến
Giản một tướng lĩnh thời Tây Sơn chỉ huy đạo quân tiến vào phía Nam Thăng
Long. Ngài sinh ngày mùng 2 tháng 5 năm Mậu Ngọ tức ngày 18/6/1728 tại
huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Năm 1763 Đặng Tiến Đông ra làm quan
thời Lê Trịnh. Năm 1787 năm 48 tuổi Đặng Tiến Đông đã lội vào tận Quảng
Nam tìm đến công danh xin yết kiến Nguyễn Huệ. Năm 1792 đến năm 1802
Vào trước ngày hội, làng có dán bảng giấy hội ở nhiều nơi để mời khách thập
phương về dự. Ngày mùng 4, bắt đầu vào giờ Thìn (từ 7-9 giờ sáng) các chân
kiệu bắt đầu rước long kiệu từ trong chùa bước ra, long kiệu ra tới cửa Trung
quan, đám rước phải đứng lại, chờ quan viên và các chân kiệu của xã giao
hiếu và đứng vào hàng ngũ chỉnh tề, đám rước mới bắt đầu di chuyển.
Trong đám rước, xã đàn anh đi đầu, xã này thường là xã thờ thần sớm nhất, có
đông dân nhất, đồng thời cũng là xã đa tài nhất. Các xã bạn cũng phái kiệu
của mình tới hoặc phái một chân kiệu để thay vai khiêng kiệu cùng với xã chủ
nhà. Đi đầu là hai lá cờ “Tiết Mao,” tiếp đến là 5 cờ đuôi nheo gọi là cờ ngũ
hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ và những lá cờ vuông: đen, trắng, vàng, đỏ,
xanh... Sau đó là 4 lá cờ tứ linh: Long, Ly, Quy, Phượng. Người cầm cờ đội
nón có chóp nhọn hoặc chít khăn tai chó, thắt lưng bó que xanh đỏ, chân đi xà
cạp.
Sau cờ là trống cái và chiêng đều có người khiêng và lọng che. Trống
cái do Thủ hiệu đánh bằng chiếc dùi sơn son thếp vàng. Khi đi rước, Thủ hiệu
đánh một tiếng trống, lại đánh một tiếng chiêng. Tiếng trống thúc giục, tiếng
chiêng trầm hùng, ngân nga như tiếng của ngàn xưa vọng về. Sau đoàn trống
và chiêng là sự diễu hành của đôi ngựa bạch, đôi ngựa hồng và đôi voi. Dưới
chân những con vật linh thiêng này có những bánh xe lăn. Mỗi con vật đều
được che lọng và có một chiến binh đi bên cạnh. Hai chiếc tán thêu Long,
Phượng đi trước mở đường cho các chấp kích lang nai nịt, mang lộ bộ, kim
qua, phủ việt, chùy đồng... Đi hai bên là những chàng trai dũng cảm, xông
pha trận mạc khi xưa, ở giữa họ là một quan viên mặc áo thụng xanh, có lọng
che, mang một chiếc biển có phủ vải đỏ ghi dòng chữ: “Thượng đẳng tối linh
20
thần” (thánh tối linh hạng nhất). Theo sau là một ông già có dáng tiên phong
đạo cốt, mặc áo thụng độ màu tía, vái lá cờ “vía”. Cờ bằng vóc đỏ viền vàng
đáo của dân tộc Việt Nam.
1.4. Giá trị cơ bản của di sản văn hóa chùa Trăm Gian
1.4.1. Giá trị lịch sử
Bảo tồn giá trị di sản văn hóa chùa Trăm Gian được lan tỏa và trao
truyền từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, từ thế hệ trước cho thế hệ sau.
Phát huy giá trị truyền thống yêu nước cho nhân dân. Thể hiện chức năng tư
tưởng của di sản văn hóa, làm cho giá trị văn hóa tiềm nhập vào con người,
phần nào giúp nhân dân địa phương hiểu và trở thành một nhân cách tích cực,
đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Biểu hiện như nguồn
lực gián tiếp, tác động vào sự phát triển giá trị lịch sử.
1.4.2. Tín ngưỡng tôn giáo
Thể hiện lòng tin của nhân dân bằng sự tôn kính, tưởng niệm và tôn
vinh những vị anh hùng có công với đất nước, mang tính truyền thống và các
hoạt động tín ngưỡng tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa,
đạo đức xã hội tại địa phương. Là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của
cộng đồng dân cư với những lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định
được Nhà nước công nhận.
1.4.2. Giáo dục nhận thức
Không chỉ được coi là tài sản có giá trị giáo dục truyền thống văn hóa
lịch sử tinh thần yêu nước cho nhân dân mà những giá trị di sản văn hóa tại
chùa Trăm Gian còn góp phần giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ một nguồn
lực to lớn góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Di sản văn hóa
chùa Trăm Gian thể hiện rõ vai trò là một bộ phận rất quan trọng của nền văn
hóa địa phương nói riêng và của dân tộc nói chung; là chứng tích cho sự phát
triển văn hóa của cộng đồng địa phương. Thúc đẩy trách nhiệm cũng như
nhận thức của nhân dân hiểu được giá trị cũng như sự quan trọng của mình
vừa là chủ nhân, vừa là lực lượng nòng cốt để cùng nhau chung tay xây dựng
di sản văn hóa chùa Trăm Gian ngày một tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
đúng với ý nghĩa văn hóa của chùa từ bao đời nay.
HÓA CHÙA TRĂM GIAN XÃ TIÊN PHƯƠNG, HUYỆN CHƯƠNG
MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Bộ máy tổ chức quản lý chùa Trăm Gian
2.1.1. Bộ máy quản lý
Hiện tại Ban Quản lý di tích huyện Chương Mỹ thực hiện công tác
quản lý di tích lịch sử chùa Trăm Gian được ưu tiên hàng đầu trong vấn đề
điều hành và tổ chức các hoạt động văn hóa thu hút được đông đảo người dân
trên địa bàn thành phố, và lượt người thăm quan đông đảo du khách trong và
ngoài nước tham gia vào lễ hội, góp phần phát triển du lịch của huyện riêng
cũng như của thành phố nói chung.
Ban quản lý di tích lịch sử văn hóa chùa Trăm Gian huyện Chương Mỹ
là đơn vị sự nghiệp thuộc thành phố Hà Nội.
Có chức năng quản lý và tổ chức các hoạt động, công tác bảo tồn phát
huy giá trị di sản văn hóa chùa Trăm Gian.
Ban quản lý di tích huyện Chương Mỹ phối hợp với phòng văn hóa
thông tin xã tổ chức các hoạt động tín ngưỡng tại khu di tích lịch sử chùa
Trăm Gian.
Ban quản di tích chùa Trăm Gian còn thực hiện một số nhiệm vụ khác
theo chỉ đạo của thành phố.
2.1.2. Chức năng,nhiệm vụ
Chức năng: Gìn giữ giá trị lịch sử, bảo tồn giá trị di sản văn hóa vật thể
và phi vật thể không để bị mai một, thay đổi, đồng thời khẳng định giá trị đích
thực khả năng tồn tại của chùa Trăm Gian theo thời gian, lưu giữ những giá trị
về di vật, cổ vật, phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa tín ngưỡng tâm linh của
cá nhân và cộng đồng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Để việc bảo
tồn, phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể tiêu biểu góp phần giữ
24