PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LẠNG GIANG
TRƯỜNG MẦM NON XUÂN HƯƠNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: Một số biện pháp ( giải pháp) giúp trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi phát triển
ngôn ngữ thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe.
Họ và tên: Nguyễn Thị Huyền
Đơn vị : Trường Mầm non Xuân Hương
Huyện :Lạng Giang
Tỉnh :Bắc Giang.
Xuân Hương, tháng 10 năm 2015
MỤC LỤC
1
I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Cơ sở lý luận:
2. Cơ sở thực tiễn:
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng:
2. Phương pháp nghiên cứu
IV. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
A. Thực trạng việc tổ chức HĐ phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường MN
B. Những giải pháp
V. Kết quả nghiên cứu:
1. Thực nghiệm
2. Ứng dụng:
âm được mạch lạc, rõ ràng. Trẻ biết trình bày ý kiến, suy nghĩ, kể về một vật hay sự
kiện nào đó bằng chính ngôn ngữ của trẻ.
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ ở mỗi giai đoạn, độ tuổi đều mang một đặc trưng
khác nhau. Đặc biệt trẻ 3 – 4 tuổi, sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc chịu ảnh hưởng
đặc biệt của vốn từ. Vốn từ của trẻ phong phú thì ngôn ngữ của trẻ cũng trở nên mở
rộng hơn, có trật tự hơn mặc dù cấu trúc còn chưa hoàn thiện. Khả năng nói trình bày
ý nghĩa, hiểu ngôn ngữ, hoàn cảnh của trẻ cũng bắt đầu phát triển.
Thông qua các tác phẩm văn học như truyện kể, thơ ca, hò, vè, câu đố, tục ngữ,
ca dao...trẻ đã thực sự bị lôi cuốn vào các hoạt động khác tích cực, có hiệu quả. Để trẻ
3
được phát triển ngôn ngữ mạch lạc qua một tiết dạy hay người giáo viên không chỉ
dừng lại ở chỗ trẻ hiểu được điều gì? Trẻ có hứng thú nghe hay không? Mà giáo viên
Mầm non cần phải giúp trẻ thể hiện được suy nghĩ của mình, giúp trẻ nhập vai cùng
nhân vật, sống cùng nhân vật, đặc biệt biết dùng ngôn ngữ của mình để đánh giá nhân
vật, trò chuyện, đàm thoại một cách mạch lạc. Trẻ biết kể lại câu chuyện theo tranh,
đồ chơi, kể chuyện sáng tạo, biết kể diễn cảm, mạch lạc, không nói ngọng, nói lắp.
Yêu cầu này đòi hỏi trẻ phải có vốn từ phong phú, các kĩ năng tổng hợp, kĩ năng
truyền đạt ý nghĩ của mình một cách chính xác, tập trung chú ý và nói biểu cảm.
Những kĩ năng này trẻ lĩnh hội được trong quá trình nhận thức có hệ thống bằng con
đường luyện tập thường xuyên hàng ngày.
2. Cơ sở thực tiễn
Giáo viên khi tổ chức các giờ kể chuyện cho trẻ nghe hầu hết còn máy móc, rập
khuôn chưa sáng tạo. Phần lớn không tạo điều kiện để trẻ phát huy được tính tích cực
của trẻ, trẻ không nói được những điều mà trẻ hiểu, trẻ biết. Mặt khác, trẻ 3 – 4 tuổi do
bộ máy phát âm của trẻ chưa hoàn thiện, trẻ học qua bắt chước nên khi phát âm trẻ
còn ngọng, hay nói lắp, diễn đạt câu “ cộc ”, chưa đầy đủ các thành phần. Vốn từ của
trẻ thì chưa phong phú nên đôi lúc trẻ không diễn đạt được ý kiến của mình cho người
khác hiểu. Từ những cơ sở trên đã thúc đẩy nghiên cứu đề tài “ Một số giải pháp giúp
Tốt
Khá
Trung bình
Yếu
Số lượng
5 trẻ
20 trẻ
7 trẻ
2 trẻ
%
14,7 %
58,8 %
20,6 %
5,9 %
2.Phương pháp nghiên cứu:
Trong để tài này tôi đã lựa chọn và sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu ( Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non;
Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi; Phương pháp giúp trẻ làm
quen với tác phẩm văn học; Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ 3 – 4 tuổi; Tài liệu
bồi dưỡng hè; Mạng intrernet)
- Phương pháp điều tra khảo sát thực trạng
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
- Thu thập xử lý số liệu
- Phương pháp thực nghiệm
- Tổng kết kinh nghiệm
IV. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
đạt được ý nghĩ của mình cho người khác hiểu.
- Đồ dùng trực quan còn ít, chưa đa dạng, phong phú, thẩm mĩ chưa đạt, giá trị sử
dụng chưa cao.
- Nhận thức của một số phụ huynh về chương trình giáo dục Mầm non còn hạn chế
nên việc phối hợp với phụ huynh còn gặp nhiều khó khăn.
Với tình hình thực tế của lớp tôi phụ trách như vậy, nên tôi rất băn khoăn, lo lắng,
suy nghĩ, tìm tòi các giải pháp làm thế nào để phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua
hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe. Và tôi đã sử dụng một số giải pháp sau:
B. Những giải pháp:
1. Tìm hiểu đặc điểm, tình hình nhận thức của trẻ
Để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ thì trước hết giáo viên phải nắm vững đặc điểm
tâm sinh lý và hoàn cảnh của trẻ. Vào đầu năm học tôi đã tổ chức nhiều cuộc trò
chuyện với trẻ, kể cho trẻ nghe vài câu chuyện ngắn tương đối dễ, sau đó đặt ra các
câu hỏi: Cô vừa kể câu chuyện gì? Trong truyện có ai? Hoặc trò chuyện về gia đình
6
bé... Trong quá trình trò chuyện tôi luôn chú ý, quan sát, đàm thoại với trẻ và tiến hành
khảo sát khả năng cảm thụ văn học cũng như khảo sát đặc điểm ngôn ngữ của trẻ. Từ
đó đề ra phương hướng giáo dục cho từng cá nhân và cho cả lớp một cách thích hợp.
Mặt khác, gia đình là yếu tố quan trọng để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. Từ
những lời ru của bà, của mẹ, từ những câu chuyện kể của ông, những lời trò chuyện
của cha, của anh, của chị là những bài học hiệu quả nhất để giáo dục trẻ, giúp trẻ phát
triển tốt hơn về ngôn ngữ tiếng việt.
Từ những hoàn cảnh và đặc điểm tình hình nhận thức của trẻ, tôi đã xây
dựng kế hoạch giảng dạy và bồi dưỡng thích hợp cho trẻ.
2. Xây dựng kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tế, mức độ nhận thức
của trẻ
Dựa vào tình hình của lớp, kế hoạch của nhà trường tôi đã tự lên kế
hoạch nhánh, kế hoạch tuần, kế hoạch ngày cho bản thân. Được sự đồng ý, phê duyệt
phá, trải nghiệm. Từ đó trẻ sẽ có nhiều kinh nghiệm hơn, thông minh hơn và vận dụng
được ngay ngôn ngữ của mình trong khi giao tiếp. Nhờ dó mà trẻ hứng thú hơn và
phát triển ngôn ngữ ở trẻ một cách tự nhiên hơn.
Sưu tầm các câu chuyện ngoài chương trình để đưa vào giảng dạy.
Tạo môi trường để trẻ hoạt động là một việc làm vô cùng quan trọng bởi
nó là chỗ dựa vững chắc để thu hút trẻ, gợi cho trẻ có cảm xúc tích cực khi tham gia
vào hoạt động nghe cô kể chuyện.
Ví dụ: Đối với chủ điểm “ Gia đình” tôi trang trí góc sách truyện bằng hình ảnh
các nhân vật, phong cảnh của câu chuyện “ Tích Chu”. Sưu tầm các tập san có các câu
chuyện có nội dung vể gia đình. Sắp xếp các cuốn truyện tranh có nội dung về gia
đình gọn gàng trẻ dễ lấy, dễ cất.
4. Chuẩn bị các đồ dùng trực quan đầy đủ, đẹp, sáng tạo phù hợp với
câu chuyện.
Như chúng ta đã biết, tư duy của trẻ 3 – 4 tuổi là tư duy trực quan hình tượng, trẻ
thích được nhìn, hoạt động với đồ vật. Chính vì vậy trong quá trình kể chuyện cho trẻ
nghe giáo viên nào cũng phải nghĩ đến đồ dùng trực quan là gì? Đồ dùng trực quan
hấp dãn bao nhiêu sẽ kích thích gây hứng thú cho trẻ bấy nhiêu. Đặc biệt trẻ rất thích
đồ dùng đẹp mới lạ, hấp dẫn, biết chuyển động. Vì thế, tôi đã tận dụng các phế liệu
như xốp, chổi rơm, đĩa nhựa đồ chơi, cúc áo ... để làm mặt và đầu cho các con rối. Sau
đó dùng vải hoặc len móc làm váy, thân, tay để khi sử dụng không bị thô, cứng.
Tận dụng ưu điểm của mình là biết tự sử dụng công nghệ thông tin. Tôi đã thiết
kế các slide theo nội dung câu chuyện để trình chiếu. Khi quan sát vào đó trẻ
đượcnhìn nhân vật trong câu chuyện bằng không gian 3 chiều rõ hơn, hoạt động của
nhân vật mượt mà hơn. Trẻ sẽ thích thú và tiếp thu bài nhanh hơn.
Ví dụ: Truyện “ Chú vịt Xám” tôi chụp tranh phong cảnh đưa vào máy tính chỉnh sửa,
cắt các nhân vật tương ứng, sau đó ghép lại thành một câu chuyện theo ý muốn.
8
Sau mỗi câu trả lời đúng tôi khái quát lại trên máy tính.
thì giọng Cáo sợ hãi hoảng hốt.
9
Hoặc hay trong cùng câu chuyện có những lời dẫn truyện cô cũng phải
kể thật diễn cảm để trẻ tượng ra khung cảnh trong truyện.
Ví dụ; Khi kể chuyện “ Thỏ con không vâng lời ”. “Thỏ con đi mãi ... chơi xa ...
thật là xa ... thế rồi Thỏ con quên mất đường về nhà”, người dẫn chuyện phải kéo dài
âm “ mãi” để diễn tả đường đi chơi của Thỏ rất dài và rất xa ngôi nhà của mình.
Không chỉ chú ý đến ngữ điệu giọng kể, tôi còn chú ý đến nhịp điệu, cường
độ, lúc dồn dập hồi hộp, lúc từ tốn, lúc to, lúc nhỏ khác nhau. Tôi đã làm trẻ thu hút
tới lời kể của tôi, nhờ đó mà trẻ tiếp thu bài nhanh hơn, nhớ lâu hơn.
Như vậy để có giong kể hay, hấp dẫn tôi phải tự mình rèn luyện, tập kể
nhiều lần kết hợp giữa giọng điệu và nét mặt cho đồng nghiệp nghe để tham gia góp ý
kiến cùng chỉnh sửa.
Nếu đơn thuần chỉ có lời kể trong giờ học sẽ làm cho trẻ cảm thấy nhàm chán
và mệt mỏi. Vì vậy, để tạo bầu không khí thoải mái, không gò bó, ép buộc trẻ, trẻ học
mà chơi, chơi mà học tôi đã tích hợp một số bộ môn khác vào trong giờ học. Nhưng
tích hợp ở đây không có nghĩa là xáo trộn kèm dạy quá nhiều môn học khác nhau mà
ta phải tích hợp sao cho thật nhẹ nhàng hòa quện với nhau và xen kẽ các hoạt động,
tĩnh khác nhau.
Ví dụ: Kể câu chuyện “ Chú Vịt Xám”. Tôi tích hợp hoạt động giáo dục âm nhạc, hoạt
động phát triển thể chất. Tôi cho trẻ hát bài “ Mẹ yêu không nào”, trò chuyện về nội
dung bài hát, dẫn dắt trẻ vào câu chuyện. Kết thúc cho trẻ hát bài “ Đàn vịt con”.
Đồng thời, khi kể chuyện cho trẻ nghe tôi lồng ghép một bản nhạc nền nhẹ nhàng, du
dương để thu hút trẻ vào bài. Khi cô trích dẫn đến đoạn “ Vịt mẹ dẫn Vịt con nhảy
tùm xuống ao”, cô và trẻ cùng làm động tác nhảy tùm ( là bật nhảy về phía trước).
Tùy từng câu chuyện mà tôi sử dụng các hình thức gây hứng thú vào bài dạy
khác nhau, có những câu chuyện cô cho trẻ hát một bài trong chủ điểm, hoặc cô sử
dụng tình huống.
giúp trẻ phát triển nhân cách đặc biệt là phát triển ngôn ngữ về vốn từ, khả năng diễn
đạt. Vì vậy mà chất lượng tiết dạy của tôi đạt kết quả cao.
6. Tuyên truyền kết hợp với phụ huynh
Như chúng ta đã thấy môi trường tiếp xúc của trẻ chủ yếu là gia đình và
nhà trường. Chính vì vậy việc kết hợp giữa gia đình và nhà trường là một biện pháp
không thể thiếu. Phụ huynh chính là nhân tố quết định trong việc tạo nguồn nhiên liệu
của góc văn học để phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm tôi nêu tầm quan trọng của lĩnh vực phát triển
ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe. Hàng tháng
tuyên truyền với phụ huynh qua các biểu bảng nêu lên nội dung về chủ điểm, về các
câu chuyện cô đã kể cho trẻ nghe. Qua đó, phụ huynh thấy được ngôn ngữ của trẻ phát
triển như thế nào và có biện pháp kích thích sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại gia
đình.
11
Ví dụ: Cô ghi tên câu chuyện mà tuần này được học, phụ huynh sẽ nhìn vào
đó để về nhà có thể kể cho trẻ nghe. Khi ở lớp cô kể cho trẻ nghe chuyện gì tôi trao
đổi với phụ huynh trong giờ trả trẻ để khi về nhà gia đình có thể hỏi lại, trẻ sẽ nhớ lại
và có thể kể lại câu chuyện đó. Như vậy, ngôn ngữ của trẻ được phát triển phong phú
và đa dạng.
Huy động phụ huynh đóng góp, thu thập những nguyên vật liệu sẵn có, dễ tìm
như báo hoạ mi, vải vụn, len vụn, các vỏ hộp, miếng xốp…kết hợp trong và ngoài giờ
đón trả trẻ để trao đổi với phụ huynh.
Có thể nói công tác tuyên truyền với phụ huynh là một việc làm rất quan
trọng để phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
V. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
1. Thực nghiệm:
Bài tập thực nghiệm chứng minh cho các giải pháp trên.
- Trẻ hứng thú khi tham gia các hoạt động trong giờ học.
- Giáo dục trẻ biết vâng lời người lớn.
*) Tích hợp: Giáo dục âm nhạc bài “Mẹ yêu không nào; Đoàn tàu nhỏ xíu; Đàn vịt
con”.
II ) Chuẩn bị
1 ) Đồ dùng
a ) Đồ dùng của cô:
- Cô thuộc câu truyện, kể diễn cảm, đúng giọng điệu các nhân vật.
- Tranh minh họa nội dung câu chuyện:
+) Tranh 1: Vịt mẹ dẫn đàn vịt con đi chơi.
+) Tranh 2: Vịt Xám tách ra khỏi đàn đi chơi một mình.
+) Tranh 3: Con Cáo định ăn thịt Vịt Xám.
+) Tranh 4:Vịt mẹ dẫn Vịt Xám nhảy tùm xuống ao.
- Phim cho trẻ xem.
- Nhạc đệm bài hát “ Mẹ yêu không nào; Đàn vịt con; Đoàn tàu nhỏ xíu”, nhạc nền để
kể chuyện.
b ) Chuẩn bị cho trẻ
- Trang phục trẻ gọn gàng.
- Mỗi trẻ một mũ vịt.
- Trẻ ngồi dưới chiếu, ghế xếp hình chữ U.
3) Phương tiện:
- Máy tính, loa, máy chiếu.
III ) Tiến hành
13
HOẠT ĐỘNG CỦA CÔ
*) Hoạt động 1: Gây hứng thú ( 2 phút )
- Cô và trẻ cùng biểu diễn bài “ Mẹ yêu không
nào”.
- Trẻ lắng nghe.
- Trẻ lắng nghe và quan sát.
- Truyện “ Chú vịt Xám”.
- Vịt mẹ, Vịt Xám, đàn vịt
con, con Cáo.
- Vịt mẹ dặn “ các con phải
đi theo đàn, theo mẹ, không
được tách ra đi một mình mà
Cáo ăn thịt”.
=> Một hôm vịt mẹ dẫn đàn vịt con đi chơi, vịt mẹ
dặn “các con nhớ phải đi theo đàn, theo mẹ, không
14
được tách ra đi một mình mà Cáo ăn thịt”.
- Chú vịt Xám có nghe lời mẹ dặn không?
=> Vừa ra đến cổng làng chú vịt Xám đã không
nghe lời mẹ mà đã tách ra đi chơi một mình và đi
đến một cái ao có rất nhiều tôm cá.
- Cô giải thích từ “ tách đàn”: Vịt Xám đang đi
chơi cùng mẹ và đàn vịt con nhưng lại bỏ đi chơi
một mình, không đi chơi cùng đàn vịt nữa thì gọi
là tách đàn.
- Chuyện gì đã xảy ra với vịt Xám khi chú đi chơi
một mình?
- Ai đã đến cứu vịt Xám?
- Từ đó vịt Xám trở nên như thế nào?
=>Vịt Xám ăn gần no, chú nhìn lên không thấy
nghe lời mẹ dặn.
- Trẻ làm đoàn tàu đi xem
15
chước giọng các nhân vật).
phim.
-Trẻ có thể kể cùng, bắt
chước giọng các nhân vật.
*) Hoạt động 4: Kết thúc ( 1 phút )
- Cô và trẻ cùng hát bài “ Đàn vịt con”.
-Trẻ làm các chú vịt và hát
cùng cô ra ngoài.
Kết quả ứng dụng này được thể hiện như sau:
S
T
T
Mức độ
biểu hiện
1
2
3
7,5 %
2 trẻ
0 trẻ
5%
0%
2.Ứng dụng của đề tài:
Qua nghiên cứu và vận dụng các giải pháp trên vào trong hoạt động “ Kể chuyện
cho trẻ nghe”, tôi thấy hiệu quả rõ rệt. Tỉ lệ trẻ nhận thức tốt sau khi thực nghiệm đã
tăng lên 12,5 % so với đầu năm. Tỉ lệ trẻ nhận thức khá tăng lên 62,5 % so với đầu
năm. Tỉ lệ trẻ nhận thức trung bình giảm xuống còn 7,5 % so với đầu năm.
Bên cạnh những kết quả trên, bản thân tôi đã có nhiều sáng tạo, linh hoạt, mềm
dẻo hơn khi tổ chức các hoạt động khác.
VI.KẾT LUẬN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Kết luận:
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 – 4 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cho
trẻ nghe là một hoạt động vô cùng quan trọng đối với trẻ Mẫu giáo 3 – 4 tuổi.Qua hoạt
động này trẻ được phát triển về vốn từ, cách phát âm, cách diễn đạt mạch lạc. Để đạt
được kết quả cao trong hoạt động “ kể chuyện cho trẻ nghe” thì giáo viên cần phải
16
nắm vững nội dung, phương pháp tổ chức hoạt động, đồng thời người giáo viên phải
biết thiết kế và tổ chức các hoạt động theo hướng tích hợp, đổi mới, phải linh hoạt,
mềm dẻo.
Bằng sự nỗ lực của bản thân, khi áp dụng các giải pháp trên tôi thấy hiệu
Nguyễn Thị Huyền
XÉT DUYỆT CỦA HĐTĐC CẤP HUYỆN
18