SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC
Mục lục
STT
Nội dung
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trang
1
1. Phần mở đầu
1
2
1.1. Lý do chọn đề tài
1
3
1.2. Mục đích nghiên cứu
2
4 MỘT1.3.
tượngPHÁP
nghiênNÂNG
cứu
2 TRẺ
SỐĐối
GIẢI
CAO CHẤT LƯỢNG CHO
5 25-361.4.
3.2. Kiến nghị
18
Chức
vụ:
Giáo
viên
14
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
19
Đơn
vị:
Trường
Mầm
non
Thành
Sơn
15
Tài liệu tham khảo
20
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên Môn
THANH HÓA NĂM 2019
0
Mục lục
STT
1
1.1
Lấy trẻ làm trung tâm của các hoạt động dạy và học
Luyện phát âm cho trẻ.
Sử dụng hệ thống câu hỏi phù hợp.
Cho trẻ nhận biết tập nói ở một số hoạt động trong ngày.
Trang
2
2
3
3
3
3
3
4
6
6
7
9
10
11
12
2.3.7
Tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương làm đồ
dùng, đồ chơi để phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
14
2.3.8
thành những con người phát triển toàn diện. Hiện nay việc thực hiện đổi mới
trong giáo dục mầm non đã và đang thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu nói chung,
các cán bộ quản lý cũng như hầu hết giáo viên trong nghành học mầm non nói
riêng. Chương trình giáo dục Mầm non đã triển khai thực hiện có hiệu quả việc
đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới hình thức tổ chức nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục trẻ Mầm non. Tuy nhiên thực tế vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt
là việc đổi mới phương pháp giảng dạy chưa hiệu qủa, sự lồng ghép tích hợp
các hoạt động và các chuyên đề giáo dục cho trẻ còn nhiều hạn chế, nội dung
còn đơn điệu, rườm rà, lúng túng chưa phù hợp với nội dung yêu cầu của
chương trình.
Giáo dục Mầm non có tác dụng cực kì quan trọng trong việc hình thành
và phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện đại. Nhất là trong giai đoạn
hiện nay, đất nước ta đang chuyển mình vươn lên đỉnh cao của thời đại Công
nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước. Vì vậy để đảm bảo cho sự tồn tại và phát
triển đi lên của xã hội thì việc cải tiến phương pháp giáo dục nhằm nâng cao
chất lượng, khả năng nhận biết cho trẻ là một vấn đề hết sức cần thiết đối với
mỗi giáo viên, mỗi đơn vị trường Mầm non. Để đảm bảo mục tiêu giáo dục thì
trong trường Mầm non phải kết hợp song song việc chăm sóc thể lực và giáo
dục trí tuệ cho trẻ. Làm tốt được điều đó thì các hoạt động trong trường Mầm
non cũng đóng một vai trò then chốt, trong đó không thể thiếu được hoạt động
phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Nó là một trong những hoạt động chính, giữ vị trí
quan trọng trong giáo dục phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
Ngôn ngữ chính là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành
một thành viên của xã hội. Ở trẻ nhỏ nhu cầu giao tiếp của trẻ là rất lớn. Ngôn
ngữ là công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ nguyện vọng của mình để người
lớn có thể chăm sóc, điều khiển và giáo dục trẻ. Ngôn ngữ là một điều kiện rất
quan trọng để trẻ tham gia vào mọi hoạt động và trong hoạt động hình thành
nhân cách. Sự phát triển chậm về mặt ngôn ngữ có ảnh hưởng đến sự phát triển
toàn diện của trẻ. Cho nên các nhà giáo dục cần phải đề ra nhiệm vụ, nội dung,
phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ đúng lúc và phù hợp với lứa tuổi. Đối với
cách hệ thống về qui trình điều tra khảo sát trong thực tế.
- Nhóm phương pháp xây sựng cơ sở lý thuyết.
- Phương pháp thực nghiệm: Đưa ra một số yêu cầu khảo sát trên trẻ
- Nhóm phương pháp trực quan (Xem vật thật, quan sát tranh ảnh, tham
quan, xem phim)
- Nhóm phương pháp dùng lời (Trò chuyện, đàm thoại, giảng giải, đọc
thơ, kể chuyện)
- Nhóm phương pháp thực hành (Trò chơi học tập, lao động)
- Phương pháp thống kê tổng kết rút kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm
giáo dục là quá trình mô tả, phân tích so sánh, phân loại tổng hợp những kinh
nghiệm giáo dục.
2. Nội dung.
2.1. Cơ sở lý luận.
Nhân cách con người phải được đặt nền móng ngay từ buổi đầu tiên chập
chững bước vào đời. Ngày nay, chúng ta coi trọng Giáo dục mầm non, vì giáo
dục mầm non là nền tảng của giáo dục, đó là những năm đầu cuộc đời của trẻ,
nó có tầm quan trọng đặc biệt, vì thời kỳ này sự tăng trưởng và phát triển nhanh
của cơ thể trẻ cũng như về trí tuệ, tình cảm, nhân cách được bắt đầu hình thành.
Phát triển tốt hay không là phụ thuộc vào người lớn xung quanh trẻ, đặc biệt là
giáo viên mầm non, là người mẹ hiền thứ hai của trẻ. Giáo dục trẻ một cách
toàn diện là một công việc vô cùng khó khăn, nó phải là cả một quá trình, đây là
3
viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng một tòa lâu đài trí tuệ.
Chính vì vậy mà BGD&ĐT đã đề ra mục tiêu của giáo dục Mầm non là phải
trang bị cho trẻ những gì tốt nhất kể cả về vật chất và tinh thần nhằm phát triển
toàn diện về nhân cách cho trẻ.[2]
- Theo điều 23 luật giáo dục Mầm non ban hành số 38/2005QH11 ngày
14/06/2005 yêu cầu về nội dung và phương pháp GDMN đã ghi: Phương pháp
Trẻ thích được người lớn khen, động viên kịp thời và thích những màu
sắc sặc sỡ.Trẻ thường hay đặt ra những câu hỏi để người lớn trả lời như: Vì sao?
Tại sao ? Làm thế nào ?[5]
Trên đây là những cơ sở lý luận của đề tài và đã giúp tôi căn cứ vào đó để
tìm ra những giải pháp dạy trẻ sao cho thật phù hợp đối với hoạt động này.
2.2. Thực trạng nâng cao chất lượng cho trẻ 24-36 tháng tuổi phát
triển ngôn ngữ thông qua hoạt động nhận biết tập nói ở trường Mầm non
Thanh Sơn.
4
Trong quá trình chăm sóc trẻ 24-36 tháng tuổi, tôi nhận thấy cơ thể của
trẻ còn yếu, trẻ chưa nói rõ, vốn từ của trẻ còn ít, khả năng nhận thức còn hạn
chế. Phần đa các cháu đang sống trong môi trường chăm sóc, âu yếm, chiều
chuộng trong vòng tay của bà, của mẹ và của những người thân yêu trong gia
đình. Trẻ chưa thể hoà nhập với bạn, chưa quen với cô, chưa quen với nề nếp
sinh hoạt tập thể, chưa có thói quen vệ sinh tự phục vụ. Muốn làm được điều đó
người giáo viên phải có ý thức trau dồi ngôn ngữ, tự học, tự rèn luyện cho mình
cách nói rõ ràng, ngắn gọn, chính xác, nói chuyện với trẻ đúng đắn, thân ái, lịch
sự. Vì vậy trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ tôi gặp những thuận lợi và khó
khăn như sau:
2.2.1. Thuận lợi.
Nhà trường trong năm học qua được các cấp lãnh đạo quan tâm chỉ đạo,
được các bậc phụ huynh tin tưởng. Ban giám hiệu Nhà trường luôn sát sao quản
lý, chỉ đạo và điều hành mọi công việc trong nhà trường tốt.
- Trong năm học này tôi được nhà trường phân công dạy nhóm trẻ 25-36
tại khu trung. Với tổng số trẻ là: 12 Trong Nam :7, Nữ:5
- Với đội ngũ cán bộ giáo viên luôn tâm huyết với nghề, đa số đều đạt
trình độ chuẩn và trên chuẩn, luôn giúp đỡ lẫn nhau, trẻ khỏe nhiệt tình, tạo điều
kiện cho việc học hỏi kinh nghiệm.
Qua khảo sát đầu năm tôi thấy khả năng phát triển ngôn ngữ của các cháu
trong lớp tôi như sau:
* Bảng 1: Kết quả khảo sát thực trạng tháng 9 năm 2018
Kết quả thực trạng
Đạt
Chưa đạt
Tổn
Nội dung
Tốt
Khá
TB
Yếu
Kém
g số
đánh giá
S T S T S T S T S TL
trẻ
L L L L L L L L L %
%
%
%
%
Khả năng nghe
12
3
25
3
25
5
42
- Các trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho giảng dạy còn hạn chế,
đồ dùng chưa đẹp, chưa sinh động sáng tạo vì vậy chưa thu hút được trẻ tham
gia hoạt động.
- Việc tạo môi trường (nhất là môi trường mở) cho trẻ hoạt động có nhiều
hạn chế, hình thức chưa thu hút được nhiều trẻ tham gia hoạt động.
- Trẻ còn sử dụng tiếng địa phương nhiều, một số trẻ chưa nói rõ từ hoặc
đa số còn nói ngọng, nói chưa rõ lời. Do đó việc trẻ nói đủ câu, từ rõ ràng mạch
lạc còn gặp nhiều khó khăn.
- Còn hạn chế trong việc phát triển vốn từ cho trẻ, chưa phát huy được
tính tích cực của trẻ trong các hoạt động
- Do điều kiện đặc thù của địa phương có một số phụ huynh phát âm chưa
chuẩn tiếng phổ thông làm cho trẻ học theo.
- Nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ còn đơn điệu, chưa có một hệ
thống logíc nhất định.
2.3. Các giải pháp thực hiện.
2.3.1. Rèn luyện nền nếp thói quen sử dụng ngôn ngữ tích cực cho trẻ
ngay từ đầu năm học.
Nền nếp thói quen là tính tất yếu chi phối đến việc sử dụng ngôn ngữ của
trẻ, xã hội càng văn minh thì vấn đề giáo dục hành vi văn hóa trong giao tiếp
càng trở nên quan trọng. Nền nếp học tập là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực
tiếp đến thành công của tiết học, vì vậy ngay từ lứa tuổi mầm non, người lớn,
6
đặc biệt là giáo viên mầm non, tôi luôn chú trọng rèn luyện các nền nếp thói
quen, hành vi lễ giáo cho trẻ, uốn nắn trẻ mạnh dạn, tự nhiên khi giao tiếp với
người khác, không rụt rè, e sợ, âm lượng phát ra đủ nghe, không la hét, nói tục,
chửi bậy, biết dùng ngôn ngữ nhẹ nhàng tình cảm để thể hiện tình cảm yêu
thương đối với bạn bè, cô giáo và người thân. Vì vậy trong công tác giáo dục,
cô giáo và người lớn phải thực sự gương mẫu về lời ăn tiếng nói, nghiêm khắc
giao lưu với bạn.
Sau một thời gian áp dụng biện pháp, tôi thấy hiệu quả của giờ học được
nâng lên rõ rệt. Nề nếp các cháu đã đi vào ổn định và được BGH Nhà trường
đánh giá rất tốt. Trẻ rất hứng thú trong mọi hoạt động.
2.3.2. Xây dựng nội dung hoạt động phù hợp với chủ đề để phát triển
ngôn ngữ cho trẻ.
- Giáo viên cần xác định chủ đề và nội dung của chủ đề được thực hiện
trong thời gian đó.
7
- Trang trí nhóm lớp phù hợp với chủ đề
- Lựa chọn nội dung cho các hoạt động ngôn ngữ phù hợp với chủ đề đó
- Xây dựng môi trường phù hợp với chủ đề
- Chuẩn bị các phương tiện học liệu theo chủ đề
- Lên lịch hoạt động theo tuần, ngày và tích hợp nội dung PTNN với các
hoạt động của các lĩnh vực khác.
Ví dụ:
+ Với chủ đề “Phương tiện giao thông đường bộ” tôi lựa chọn nội dung
cho các hoạt động ngôn ngữ như sau:
+ Trò chuyện: Tôi và trẻ cùng trò chuyên về các phương tiện giao thông
như : Ô tô, Xe đạp, Xe máy,...(Hàng ngày ai đưa con đi học? Bố (Mẹ) chở con
đi học bằng xe gì? Đi đường con thấy những xe gì? Tiếng kêu của xe đó như thế
nào?
- Đọc thơ, ca dao, đồng dao, tục ngữ.
+ Đọc bài thơ:
“ Bé và mẹ ”
Tan học mẹ đón về
Dắt tay em qua phố
Mẹ luôn luôn nhắc nhở
Mua một đàn gà
Đi bán lợn con
Về cho ăn thóc
Đi mua cái xoong
Mua lược chải tóc
Đem về đun nấu
Mua cặp gài đầu
Mua quả dưa hấu
Đi mau về mau
Về biếu ông bà
Kẻo trời sắp tối.
+ Kể chuyện “Ô tô con học bài”...
+ Trò chơi phát triển ngôn ngữ: Chơi “Ô tô chim sẻ, Chơi đèn tín hiệu…”
+ Làm sách tranh truyện về các phương tiện giao thông đường bộ
- Tôi xây dựng môi trường phù hợp với chủ đề nhánh “Phương tiện giao
thông đường bộ”:
Ví dụ:
+ Ở góc hoạt động với đồ vật tôi cho trẻ xếp “Ga ra ô tô”
+ Ở góc phân vai: Cho trẻ chơi bán hàng, nấu cho em ăn
+ Ở góc nghệ thuật : Hát các bài hát về phương tiện giao thông, Tô màu
xe máy, ô tô…
+ Ở góc đóng vai tôi cho trẻ chơi trò chơi đóng vai chú cảnh sát
- Với chủ đề này, tôi chuẩn bị đồ dùng trực quan phục vụ cho các tiết học
là các phương tiện do nhà trường mua sắm, các đồ chơi do chính tay các cô tự
taọ bằng các phế liệu dễ sử dụng và an toàn cho trẻ. Sử dụng máy tính, băng đĩa
có hình ảnh các phương tiện giao thông,cho trẻ quan sát và đàm thoại.
- Tôi trang trí nhóm lớp phù hợp với chủ đề: Trang trí nhóm lớp bằng
tranh ảnh các phương tiện có liên quan đến chủ đề “Bé thích đi bằng
phương tiện gì ” ở các góc trong nhóm lớp sao cho trẻ dễ quan sát và đàm thoại.
- Lên lịch cho các hoạt động theo tuần: Mỗi tuần tôi lên kế hoạch cung
+ Ai đã đưa Thỏ về nhà?
Từ những câu hỏi cô đưa ra kích thích được sự tư duy của trẻ giúp trẻ nhớ
lại, khắc sâu hơn nội dung truyện một cách chính xác và sâu sắc.
2.3.4. Luyện phát âm cho trẻ.
* Rèn luyện thính giác ngôn ngữ cho trẻ.
Rèn luyện thính giác ngôn ngữ là rèn luyện khả năng tri giác âm thanh
ngôn ngữ, giúp trẻ phân biệt được âm thanh nói chung.
Ví dụ: Âm thanh của từ “Hoa” khác âm thanh của từ “Lá”
Muốn trẻ rèn luyện khả năng tri giác âm thanh ngôn ngữ được tốt cần đặt
trẻ vào trong môi trường âm thanh( Bao gồm âm thanh nói chung và âm thanh
ngôn ngữ nói riêng). Trẻ càng thu nhận được tín hiệu ngôn ngữ bao nhiêu thì sự
phát triển lời nói càng nhanh chóng bấy nhiêu vì vậy chúng ta cần phải lặp đi
lặp lại nhiều lần giúp trẻ phát âm đúng.
Ví dụ: Khi dạy bài thơ “ Hoa nở ” khi trẻ đọc đến từ “xinh xinh” một số
trẻ sẽ phát âm sai, vì vậy cô giáo cần chú ý kiên trì sửa sai cho trẻ bằng cách
(không lặp lại lỗi mắc sai của trẻ), không cáu gắt làm trẻ mất hứng thú mà cô sẽ
phát âm lại chậm, rõ và cho trẻ phát âm theo cô nhiều lần.
* Luyện cơ quan phát âm cho trẻ.
- Cơ quan phát âm đóng vai trò quan trọng trong quá trình trẻ nói, nó điều
khiển bộ máy phát âm của trẻ. Quá trình giáo dục sẽ tác động đến bộ máy phát
âm của trẻ. Vì vậy chúng ta cần luyện cơ quan phát âm cho trẻ theo 2 nội dung
sau:
Luyện vận động tự do nhằm giúp các bộ phận môi, răng, lưỡi chuyển
động nhịp nhàng, linh hoạt. Đối với trẻ Mầm non Trẻ "Học bằng chơi, chơi mà
học” vì vậy giáo viên cần vận dụng khéo léo và kinh hoạt các phương pháp,
biện pháp phù hợp để lôi cuốn trẻ. Tôi đã suy nghĩ và lựa chon phương pháp sử
dụng trò chơi để luyện bộ máy phát âm cho trẻ.
Ví dụ: Cô nói: Trời sắp tối rồi các con hãy “Gọi gà” để cho gà ăn nào! cô
hướng dẫn cho trẻ bặm 2 môi vào nhau thật chặt và phát âm( Bập..Bập...Bập)
Như thế tôi đã luyện tập cho trẻ biết điều khiển hoạt động của môi và hàm.
- Ở mỗi hoạt động học tôi đã bám sát vào mục đích yêu cầu về kiến thức,
kĩ năng cần đạt của hoạt động đó để tôi đưa ra một hệ thống câu hỏi phù hợp
với nhận thức của lứa tuổi . Câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, là những câu
hỏi mở để phát triển tư duy sáng tạo cho trẻ.
Ví dụ 1: Với tiết nhận biết phân biệt: “To - nhỏ” tôi đưa ra những câu hỏi
khi cho trẻ phân biệt quả cam to - quả táo nhỏ.
Trong rổ có những quả gì?
Quả cam có màu gì?
Quả táo có màu gì?
Quả nào to - quả nào nhỏ?
Sau đó tôi sẽ gọi nhiều trẻ trả lời để trẻ ôn lại màu sắc cũng như biết cách
phân biệt to - nhỏ, khắc sâu các biểu tượng về độ lớn cho trẻ đồng thời phát
triển ngôn ngữ, tăng thêm vốn từ cho trẻ. Sau mỗi lần trẻ trả lời tôi thường động
viên khen trẻ kịp thời.
Ví dụ 2: Với tiết kể chuyện: “Đôi bạn nhỏ”
Tôi đã sử dụng hệ thống câu hỏi để đàm thoại với trẻ hiểu nội dung câu
chuyện, nhớ tên chuyện.
Cô kể câu chuyện gì?
Trong câu chuyện có những ai?
Ai đã đuổi bắt gà con?
Gà con kêu như thế nào?
Ai đã cứu gà con?
11
Thông qua các câu hỏi trẻ hiểu nội dung, tình tiết của câu chuyện, nhớ tên
chuyện, các nhân vật trong câu chuyện qua đó rèn thêm ngôn ngữ mạch lạc cho
trẻ, trẻ phát âm chính xác hơn các từ.
Ví dụ 3: Khi tôi cho trẻ “Xếp đường đi”, tôi đưa ra câu hỏi.
Con đang xếp gì đấy?
+ Thái độ của Bác sỹ đối với bệnh nhân phải như thế nào?
- Thông qua trò chơi “Người bán hàng, em tập làm cô giáo...” , trò chơi
dân gian như: “Nu na nu nống”,” Tập tầm vông”…trẻ được tự mình nói và đóng
vai các nhân vật.
* Phát triển ngôn ngữ thông qua dạo chơi tham quan.
Dạo chơi thăm quan cũng là một hình thức bổ sung và cung cấp cho trẻ
mở rộng thêm vốn từ mới, một số khái niệm mới cho trẻ.
Đối với trẻ 24-36 tháng, vốn từ của trẻ còn rất ít, nhiều khi trẻ muốn nói
ra một sự việc nào đấy nhưng trẻ lại không biết dùng từ ngữ gì để diễn đạt, nên
12
cháu thường e..a hay đang nói giữa chừng lại không nói nữa vì không có từ để
diễn đạt. Vì vậy giáo viên cần bổ sung và làm giàu thêm vốn từ cho trẻ.
Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát cây nhãn, tôi sử dụng các câu hỏi đàm thoại
với trẻ về tên gọi, đặc điểm, tác dụng của cây…để trẻ trả lời, cô lắng nghe bổ
sung và tập nói cho trẻ. Ngoài ra tôi còn khéo kéo linh hoạt lồng nghép tích hợp
các chuyên đề vào trong các hoạt động.
Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát các loại cây ăn quả tôi hỏi trẻ: Con có biết vì
sao “ lá xanh lại ở trên cây, lá vàng lại rơi xống đất” không? tôi sẽ giải thích cho
trẻ hiểu vì lá vàng đã già rồi nên rụng xuống cho lá non mọc ra. Đồng thời tôi
còn giải thích cho trẻ hiểu khi lá rụng xuống đất nếu không được con người quét
dọn, nhiều lá rơi xuống sẽ gây ô nhiễm môi trường bẩn sân trường sẽ không
đẹp, cô sẽ hưỡng dẫn tổ chức cho trẻ nhặt lá rụng bỏ vào thùng rác.
Hoặc khi đang chơi khi nghe tiếng sấm trẻ sẽ nói đó là tiếng pháo nổ, tôi
sẽ tranh thủ giải thích cho cháu hiểu đó là tiếng sấm báo hiệu trời chuẩn bị có
mưa to đấy các con ạ! Như vậy các cháu đã có thêm từ mới, khái niệm mới về
sự vật, hiện tượng trong tự nhiên…
Khi cho trẻ đi tham quan trẻ biết thêm một số các khái niệm về các Địa
danh.
gia vào các hoạt động lao dộng , trẻ được tiếp xúc với thiên nhiên, với đồ dùng
lao động, đồ dùng sinh hoạt… Như vậy trẻ có điều kiện hình thành các biểu
tượng chưa có và khắc sâu các biểu tượng đã có. Từ đó trẻ sẽ biết sử dụng ngôn
ngữ trong các hoạt động lao động. Vốn ngôn ngữ của trẻ sẽ tăng lên.
Ví dụ: Trẻ biết nói: Đi dép, Đội mũ, Cởi áo.
* Dạy trẻ nói ở mọi lúc mọi nơi.
Hưởng ứng cuộc vận động “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực” Trong lớp, tôi luôn xây dựng mối quan hệ giữa trẻ với cô giáo, từ đó
tạo được niềm tin ở trẻ, trẻ yêu quý cô, thích nghe cô nói, mong muốn được đến
lớp, từ đó cô giáo thực hiện công tác giảng dạy được tốt hơn.
Để giúp cháu nói được tốt hơn, tôi còn dùng các hình thức trò chuyện với
trẻ trong tất cả các hoạt động, từ khi đón trẻ cho đến lúc trả trẻ. Cô có thể trò
chuyện với trẻ như: Hôm nay ai đưa con đi học? Nhà con có những ai?... Qua
đó cháu sẽ biểu lộ được những suy nghĩ của mình bằng ngôn ngữ đơn giản nói
được câu nhiều từ hơn.
Xây dựng mối quan hệ giữa trẻ với trẻ, trẻ biết quan tâm đến nhau như
khi 1 trẻ vắng không đi học thì trẻ khác sẽ hỏi ví dụ như: Bạn Hà đâu? Cô sẽ trả
lời: Hôm nay bạn Hà ốm không đi học được. Hay khi trẻ chơi, cô quan sát trẻ
chơi và dạy trẻ biết nhừơng nhịn đồ dùng, đồ chơi, không tranh đồ chơi của
bạn..v.v.. hay khi trẻ có những hành vi sai như đánh bạn, cô sẽ giải thích cho trẻ
hiểu đánh bạn là sai, là không tốt con hãy xin lỗi bạn đi..v.v.. Như vậy trẻ sẽ có
những hành vi, những thái độ đúng từ đó trẻ sẽ nói được những từ ngữ biểu lộ
những tình cảm tốt đẹp trẻ biết nói lời hay làm việc tốt
Việc giáo dục ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi 24-36 tháng tuổi là một nhiệm
vụ cơ bản, thực hiện tốt được nhiệm vụ đó thì những người làm công tác giáo
dục trẻ ở mọi lứa tuổi mầm non phải biết tận dụng mọi hình thức dạy nói cho trẻ
ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoạt động.
2.3.7. Tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương làm đồ dùng,
đồ chơi để phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Vì đặc điểm tư duy của của trẻ là tư duy trực quan hành động, cho nên
bị lời giới thiệu sao cho hấp dẫn, đưa đồ dùng ra sao cho phù hợp, tạo được sự
bất ngờ đối với trẻ và tôi dẫn dắt vào bài.
Tôi chuẩn bị mô hình công viên, có nhiều loài hoa đang đua nhau khoe
sắc. Các loài hoa, cây cỏ, được tôi cắt bằng xốp mềm, vải von,…Khi dẫn trẻ đến
thăm quan mô hình công viên tôi dùng lời giới thiệu hấp dẫn để thu hút sự chú ý
của trẻ vào giờ học.
+ Trong vườn có những loài hoa nào? ( hoa hồng, hoa cúc...)
+ Cô chỉ vào từng loại hoa cho trẻ quan sát, gọi tên, màu sắc của hoa.
+ Các loại hoa có những vẻ đẹp khác nhau, nhưng đều có ích lợi làm đẹp
cảnh quan môi trường. Vì thế mọi người phải biết trồng hoa, chăm sóc hoa, đó là
việc làm bảo vệ môi trường. Cô có bài thơ nói về các loài hoa đang đua nhau
cùng nở rất hay đấy. Các con lắng nghe xem trong bài thơ có những loài hoa gì
nhé. Sau đó cô đọc diễn cảm bài thơ cho trẻ nghe. Khi đọc lần 2 tôi cho trẻ xem
tranh, khi đọc lần 3 tôi sử dụng mô hình chiếc nón kì diệu để đọc thơ cho trẻ
nghe. Chiếc nón kì diệu được tôi làm từ tấm bìa cứng to ở phía dưới, sau đó tôi
dùng các miếng xốp ngăn thành từng ô. Ở mỗi ô, tôi gắn hình ảnh của từng nội
dung một, và khi đọc đến đâu tôi quay hình ảnh đến đó. Ở ô thứ nhất là hình ảnh
của cây hoa cà nở, ô thứ 2 là hình ảnh của cây hoa huệ…
15
Ví dụ: Dạy trẻ bài thơ: “Cây bắp cải” - Chủ đề “Những loại rau quả bé
thích”. Để thu hút trẻ vào bài một cách hứng thú, tôi đó sử dụng bằng vật thật để
giới thiệu.
Hôm nay cô có món quà tặng cho các con, các con hãy đoán xem đó là gì
nhé ? Cô đưa cây bắp cải ra và hỏi: Đây là cây rau gì? (Rau Bắp cải), Loại rau
này có trong bài thơ gì? Sau đó cô giới thiệu vào bài học.
Như vậy việc sử dụng đồ dùng trực quan vô cùng quan trọng trong việc
giúp trẻ lĩnh hội, tiếp thu kiến thức của bài học một cách nhanh nhất, vì vậy mà
trẻ khó hiểu, đặc biệt câu nói phải rõ ràng mạch lạc, biểu cảm, các từ ngữ đầy
đủ, cụm từ gần gũi với trẻ để trẻ nghe rõ, hiểu nghĩa của từ.
Sau khi phối kết hợp với phụ huynh một thời gian tôi thấy vốn từ của trẻ
được phát triển khá rõ, đặc biệt là việc nói ngọng cũng giảm đi đáng kể, trẻ phát
âm chuẩn, nói rõ ràng trẻ hoạt động một cách sôi nổi tự tin, giao tiếp trước mọi
người không còn rụt rè e sợ. Thực hiện biện pháp này mang lại hiệu quả rất cao.
2.4. Hiệu quả kiểm nghiệm.
Những kết quả đạt được khi áp dụng biện pháp như sau:
* Bảng 1: Kết quả khảo sát thực trạng tháng 9 năm 2018
Kết quả thực trạng
Đạt
Chưa đạt
Tổn
Nội dung
Tốt
Khá
TB
Yếu
Kém
g số
đánh giá
S T S T S T S T S TL
trẻ
L L L L L L L L L %
%
%
%
%
Khả năng nghe
12
12
tiếp, nói mạch lạc
17
* Bảng 2: Kết quả khi áp dụng biện pháp của lớp tôi áp dụng khảo sát
tháng 03 nămm 2019:
Nội dung
đánh giá
Tổng
số trẻ
Tốt
SL TL
%
Kết quả thực trạng
Đạt
Chưa đạt
Khá
TB
Yếu
Kém
SL TL SL TL SL TL SL TL
%
%
%
%
- Trẻ phát âm đúng tiếng việt, nói rõ ràng mạch lạc hơn, hứng thú say mê
trong học tập. Trẻ hoạt động không bị áp đặt, gò bó, phát huy được khả năng,
năng lực của bản thân, giúp trẻ trở nên năng động sáng tạo.:
- Trẻ mạnh dạn tự tin và hăng hái tham gia vào các hoạt động.
- Nhận biết của trẻ được mở rộng, ngôn ngữ phát triển đúng đắn, vốn từ
của trẻ phong phú. Trẻ nói được nhiều câu có nhiều từ, trẻ nói ngọng và tiếng
địa phương chiếm tỉ lệ thấp.
3. Kết luận, kiến nghị.
3.1. Kết luận.
- Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi 24 - 36 tháng rất quan trọng nó
được thể hiện rõ ở các hoạt động trong ngày của trẻ ở trường mầm non, giúp trẻ
hoàn thiện về nhân cách. Qua thời gian tìm tòi và thực hiện các biện pháp trên,
kết quả khảo sát đầu năm so với kết quả cuối năm học của trẻ được tăng lên rõ
rệt. Từ những kết quả trên tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm khi dạy trẻ phát
triển ngôn ngữ.
- Cô giáo phải yêu nghề mến trẻ, tận tụy với công việc, luôn tìm tòi
nghiên cứu các hình thức, biện pháp dạy trẻ phù hợp với khả năng nhận thức
của trẻ.
- Nắm được đặc điểm tâm sinh lý của từng trẻ
- Cô giáo cần nắm vững tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ của cô phải mẫu mực
chính xác đúng tiếng việt, không nói ngọng, nói lắp, không nói tiếng địa
phương.
- Để có được một tiết dạy tốt giáo viên phải chuẩn bị các cụm từ để tăng
cường tiếng việt cho trẻ. Phải có đồ dùng trực quan đầy đủ, bền đẹp, đảm bảo
tính thẩm mỹ và khoa học thu hút trẻ vào tiết học đạt kết quả cao.
- Là người giáo viên cần làm rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ với việc
hình thành và phát triển nhân cách trẻ, không ngừng học tập để nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, tự rèn luyên ngôn ngữ cho mình để phát âm chuẩn
18
Bá Thước, ngày 24 tháng 03 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN
Của mình viết, không sao chép
nội dung của người khác.
Người viết sáng kiến.
Nguyễn Thị Thường
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
1
2
3
4
5
6
TÊN TÀI LIỆU
Phương pháp dạy trẻ học
nói như thế nào
Hướng dẫn và thực hiện
Kế hoạch giáo dục theo
chủ đề.
Luật giáo dục Mầm non
20