LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này em xin chân thành cảm ơn trường Đại học
Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, các giảng viên trong khoa Sư phạm
Tiểu học - Mầm non đã tận tình giảng dạy để em có vốn kiến thức vững vàng
làm hành trang cho mình. Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu
sắc tới Giảng viên - Thạc sĩ Đoàn Kim Phúc là người trực tiếp hướng dẫn để
em có thể hoàn thành khóa luận này.
Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn đến cô giáo chủ nhiệm - Trần Thị
Mỹ Hồng là người luôn động viên, khích lệ em những lúc khó khăn.
Cảm ơn những người bạn trong đại gia đình lớp Đại học Giáo dục Tiểu học
B K55 đã luôn đồng hành cùng em trong suốt những năm học và luôn ủng
hộ, giúp em hoàn thành khóa luận.
Do điều kiện về thời gian cũng như năng lực nghiên cứu của bản thân còn
hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những sai sót, vì vậy em rất mong
được sự đóng góp của quý thầy, cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài hoàn
thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Quảng Bình, tháng 5 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thanh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng bản thân tôi, các
số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được
công bố trong bất cứ công trình nào.
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... 1
1.2.4 Việc giáo dục môi trường trong nhà trường như thế nào? ..................... 12
1.2.5 Mục tiêu của việc giáo dục bảo vệ môi trường trong trường tiểu học ... 14
1.2.6 Nhiệm vụ trong giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường ............. 14
1.2.7. Việc giáo dục môi trường trong dạy học như thế nào? ......................... 15
1.3 Môn Tự nhiên và Xã hội trong trường tiểu học ........................................ 15
1.3.1 Nội dung giáo dục môi trường trong môn Tự nhiên và Xã hội ............. 15
1.3.2 Chủ đề giáo dục bảo vệ môi trường trong trường tiểu học ................... 16
1.3.3 Mục tiêu của môn Tự nhiên và xã hội.................................................... 17
1.4. Cơ sở tâm lí học và giáo dục học của giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ
ở cấp độ tiểu học ............................................................................................. 18
1.5 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi tiểu học ...................................................... 20
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN .................................................................................. 21
2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu ................................................................... 21
2.1.1 Đặc điểm tình hình địa phương ............................................................. 21
2.1.2 Tình hình nhà trường.............................................................................. 22
2.2 Thực trạng giáo dục và thái độ, nhận thức của học sinh trường tiểu học số
1 Nam Lý ......................................................................................................... 22
2.2.1 Thực trạng việc giáo dục bảo vệ môi trường ở trường Tiểu học ........... 22
2.2.2. Thực trạng của việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa trong nhà trường
......................................................................................................................... 23
2.2.3 Điều tra nhận thức, thái độ của học sinh trong việc bảo vệ môi trường 26
CHƯƠNG II. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TRONG DẠY
HỌC ĐỂ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ........................................... 30
2.1 Khái niệm hoạt động ngoại khóa .............................................................. 30
2.2 Vai trò và vị trí của các hoạt động ngoại khóa trong trường Tiểu học ..... 30
2.3 Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động ngoại
khóa: ................................................................................................................ 31
2.4 Đặc điểm của các hoạt động ngoại khóa trong trường Tiểu học .............. 32
2.5. Các nguyên tắc khi tổ chức các hoạt động ngoại khóa GDMT ............... 32
DANH MỤC VIẾT TẮT
HS
Học sinh
GV
Giáo viên
MT
Môi trường
TNXH
Tự nhiên xã hội
GDMT
Giáo dục môi trường
BVMT
Bảo vệ môi trường
GDBVMT
Giáo dục bảo vệ môi trường
vào học sinh ở nhà trường phổ thông, vì giáo dục môi trường cho học sinh phổ
1
thông không những có kết quả trước mắt mà còn đạt được những lợi ích lâu dài.
Đây là đối tượng phù hợp nhất để tác động vì học sinh đang ở trong quá trình
phát triển các nhận thức hiểu biết, thái độ và hành vi. Giáo dục môi trường trong
nhà trường phổ thông còn nhằm đạt đến mục đích cuối cùng là : mỗi đứa trẻ
được trang bị ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của trái đất, một
khả năng biết đánh giá vẻ đẹp của thiên nhiên, một giá trị nhân cách khắc sâu
bởi một nền tảng đạo lí về môi trường. Quá trình giáo dục môi trường nhằm
cung cấp tri thức hiểu biết về môi trường, làm cơ sở cho năng lực suy xét xử lí
thông tin. Từ đó phát triển hệ thống kĩ năng hiểu được các vấn đề môi trường,
biết giải quyết nó, thúc đẩy những thay đổi trong hành vi sống.
Bậc tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Học sinh
tiểu học ở độ tuổi đang phát triển và định hướng dần về nhân cách, vì vậy những
hiểu biết cơ bản của các em được bồi dưỡng qua giáo dục môi trường sẽ để lại
dấu ấn sâu sắc không thể phai mờ trong toàn bộ cuộc đời sau này của các em.
Trong những năm học gần đây, ở bậc tiểu học nói chung và ở trường tiểu học số
1 Nam Lý nói riêng, nội dung giáo dục môi trường đã được đưa vào các môn
học nhưng chỉ dạy lồng ghép ở các tiết học có thể lồng ghép để giáo dục, nên
học sinh mới chỉ biết thoáng về nội dung này chứ chưa cung cấp nhiều kiến thức
về môi trường và cũng chưa hình thành cho các em kĩ năng và thói quen giữ vệ
sinh môi trường. Trong nhà trường hiện nay tình trạng học sinh vứt rác bừa bãi,
bẻ cành, phá cây vẫn còn, ý thức bảo vệ môi trường của các em còn hạn chế. Vì
vậy làm thế nào để nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường ở bậc tiểu học, làm
thế nào để hình thành cho học sinh tiểu học những tri thức về môi trường là vấn
đề đáng quan tâm hiện nay. Kết quả của những việc thực hiện mục tiêu giáo dục
môi trường là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa giáo dục lí thuyết và thực hành,
giáo dục trong giờ lên lớp ở các tiết dạy và ngoài giờ lên lớp. Giáo dục môi
giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã thành lập chương trình giáo dục
môi trường quốc tế (IEEP).
- Tháng 10/1975 IEEP đã tổ chức Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất về Giáo
dục môi trường ở Beograde (Cộng Hòa Liên Bang Nam Tư), kết thúc hội thảo
đã đưa ra được một nghị định khung và tuyên bố về những mục tiêu và những
nguyên tắc hướng dẫn giáo dục môi trường. Trong đó nêu rõ mục tiêu giáo dục
3
môi tiêu giáo dục môi trường là nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của môi
trường và hiểu biết về môi trường; giúp cho mỗi người xác định thái độ và lối
sống cá nhân tích cực đối với môi trường; có những hành động cho một môi
trường tốt đẹp
- Nghị định thư Kyoto là một nghị định liên quan đến Công ước khung
Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu tầm quốc tế của Liên hiệp quốc với mục
tiêu cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Bản dự thảo được ký kết vào
ngày 11 tháng 12 năm 1997 tại Hội nghị các bên tham gia lần thứ ba khi các bên
tham gia nhóm họp tại Kyoto, và chính thức có hiệu lực vào ngày 16 tháng 2
năm 2005
- Năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh về Trái đất được tổ chức ở Rio de
Janeiro, Brazil. Tại Hội nghị này, vấn đề GDMT được nhấn mạnh và đưa vào
chương trình Nghị sự 21: đưa khái niệm về môi trường và phát triển vào tất cả
các chương trình giáo dục, xây dựng các chương trình đào tạo cho học sinh và
sinh viên.
- Mốc quan trọng cuối cùng trên quy mô toàn cầu là Hội nghị Thượng đỉnh
Thế giới về Phát triển Bền vững tổ chức ở Johannesburg, Nam Phi năm 2002.
Hội nghị thống nhất: Mục đích của GDMT giờ đây đã trở thành việc theo đuổi
của tất cả các hoạt động giáo dục. (Nguyễn Thị Bích Hảo, 2011; Phan Nguyên
Hồng, Vũ Thục Hiền, 2005)
Tại Việt Nam:
sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Cũng là một giáo viên tương lai nên chính bản thân
em cũng muốn tự mình tìm ra các phương pháp dạy học mới để sau này có thể
áp dụng có hiệu quả trên con đường dạy học của mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm ra những biện pháp giáo dục có hiệu quả nhằm giúp cho học sinh có
thái độ, hành vi đúng đối với môi trường ở trường Tiểu học số 1 Nam Lý
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động ngoại khóa trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội để giáo
dục bảo vệ môi trường cho học sinh Trường Tiểu học số 1 Nam Lý
5
4.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục baỏ vệ môi trường cho học sinh thông qua các hoạt
động ngọai khóa ở Trường Tiểu học số 1 Nam Lý
5. Giả thuyết khoa học
Nếu đề tài tìm ra được biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh
thì việc giáo dục bảo vệ môi trường của học sinh sẽ ngày một tốt hơn góp phần
nâng cao giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh của trường Tiểu học số 1
Nam Lý
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề môi trường và giáo dục bảo vệ môi
trường cho học sinh.
6.2 Nêu một số thực trạng bảo vệ môi trường của học sinh và hoạt động
giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở trường Tiểu học số 1 Nam Lý
6.3 Đề ra một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trường
Tiểu học số 1 Nam Lý
7. Phương pháp nghiên cứu
môn TNXH
- Đề ra một số biện pháp tổ chức các hoạt động ngoại khóa trong môn Tự
nhiên và Xã hội nhằm giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học
10. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo thì phần nội dung gồm có
3 chương:
CHƯƠNG I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức các hoạt động
ngoại khóa trong dạy học môn tự nhiên và xã hội.
CHƯƠNG II. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa trong dạy học môn tự
nhiên và xã hội để giáo dục bảo vệ môi trường
CHƯƠNG III: Một số biện pháp tổ chức các hoạt động ngoại khóa trong
dạy học môn tự nhiên và xã hội
7
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC
CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TRONG DẠY HỌC
MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Một số khái niệm cơ bản về môi trường
1.1.1 Môi trường là gì?
Môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên
ngoài của một hệ thống nào đó. Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu
hướng và tình trạng tồn tại của nó. Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong
đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con. Môi trường của một hệ thống
đang xem xét cần phải có tính tương tác với hệ thống đó.
Một định nghĩa rõ ràng hơn như: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự
nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến
gây tác hại (chất gây ô nhiễm). Sự biến đổi môi trường như
vậy làm ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới đời sống con người và sinh vật,
gây tác hại cho nông nghiệp, công nghiệp và làm giảm chất lượng cuộc sống con
người.
Theo nghiên cứu của các tổ chức bảo vệ môi trường, ở nước ta, 70% các
dòng sông, 45% vùng ngập nước, 40% các bãi biển đã bị ô nhiễm, hủy hoại về
môi trường; 70% các làng nghề ở nông thôn đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm
nghiêm trọng. Cùng với đó, tình trạng nước biển xâm nhập vào đất liền; đất
trống, đồi núi trọc và sự suy thoái các nguồn gien động thực vật đang có chiều
hướng gia tăng là hệ quả của việc hủy hoại môi trường. Bảo vệ môi trường hơn
bao giờ hết đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội.
- Có nhiều loại ô nhiễm môi trường như:
+ Ô nhiễm môi trường đất: Là sự biến đổi hệ sinh thái vượt quá mức giới
hạn làm ảnh hưởng đến quần xã sinh vật sống trong đất.
+ Ô nhiễm môi trường không khí: Là hậu quả của việc con người xã các
chất thải khí ra môi trường không khí làm cho không khúi không còn trong sạch
hoặc có mùi khó chịu. Ô nhiễm không khí ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của
con người, là vấn đề toàn cầu.
+ Ô nhiễm môi trường nước: là sự biến đổi theo chiều tiêu cực của các tính
chất vật lý – hoá học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể
9
lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Từ đó
cũng làm giảm sự đa dạng của sinh vật sống dưới nước.
+ Ô nhiễm tiếng ồn: Là môi trường bị ảnh hưởng bởi các loại âm thanh với
tần số quá cao gây ảnh hưởng đến thính lực cũng như đời sống của con người.
Ví dụ như: họp chợ gần trường học, công trường gần chung cư, tiếng còi xe...
giữa con người với nền văn hóa và môi trường lý sinh xung quanh mình. GDMT
cũng tạo cơ hội cho việc thực hành để ra quyết định và tự hình thành quy tắc
ứng xử trước những vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường”.
1.2.2 Tại sao phải giáo dục bảo vệ môi trường?
- Môi trường Việt Nam và trên thế giới đang bị ô nhiễm và bị suy thoái
nghiêm trọng đã gây ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của một bộ phận lớn
cư dân trên trái đất. Bảo vệ môi trường đang là vấn đề cấp bách, nóng bỏng
không chỉ ở Việt Nam mà cả trên toàn thế giới
- Sự thiếu hiểu biết về môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường là một
trong những nguyên nhân chính gây nên ô nhiễm và suy thoái môi trường. Do
đó và giáo dục bảo vệ môi trường phải là một nội dung giáo dục quan trọng
nhằm đào tạo con người có kiến thức, có đạo đức về môi trường, có năng lực
phát hiện và xử lí các vấn môi trường trong thực tiễn.
- Để khắc phục những hậu quả trên phải cần một thời gian dài, liên tục,
ngay từ bây giờ và tốn kém nhiều công sức và tiền của. Do đó, bảo vệ môi
trường nên bắt đầu bằng việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, nhất là cho học
sinh, sinh viên. Hiện nay, vấn đề giáo dục ý thức, trang bị kiến thức về bảo vệ
môi trường trong các nhà trường chưa được chú trọng đúng mức, bảo vệ môi
trường chưa được xem là một môn học ở các cấp học phổ thông, ngoại trừ một
số trường đại học, cao đẳng có môn học chuyên ngành về môi trường. Bộ môn
này mới chỉ được lồng ghép trong các môn sinh học, giáo dục công dân, địa lý
và một số tiết học ngoại khóa. Một số cuộc thi bảo vệ môi trường đã được tổ
chức trong trường học, song nhìn chung, vẫn còn mang nặng tính hình thức. Do
vậy, ý thức bảo vệ môi trường vì thế chưa hình thành rõ nét trong tầng lớp học
sinh, sinh viên.
- Để công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường mang lại
hiệu quả, khi giáo dục bảo vệ môi trường chưa thể là một môn học thì cần giáo
dục cho học sinh bắt đầu từ những việc làm, hành động nhỏ nhất
11
việc giáo dục toàn cầu cũng như giáo dục trong môi trường địa phương, thậm
12
chí về mặt cam kết và hành động lại hướng về cụ thể và địa phương: “ Nghĩ –
toàn cầu, hành động – địa phương”. Giáo dục môi trường cần bắt nguồn từ lứa
tuổi bắt đầu có nhận thức thì khi đó việc tiếp nhận sẽ dễ dàng hơn,. hay nói cách
khác việc giáo dục môi trường nên bắt đầu từ khi trẻ đang còn ngồi trên ghế nhà
trường. Việc giáo dục môi trường trong nhà trường được thể hiện khác nhau tùy
vào lứa tuổi và trình độ nhận thức của học sinh. Cụ thể:
- Giáo dục bảo vệ môi trường trong trường mầm non: Giáo dục mầm non
nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học quan trọng đặt nền móng ban
đầu cho hình thành nhân cách ban đầu của con người. Lứa tuổi mầm non trong
giai đoạn từ 2-6 tuổi là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong cuộc đời mỗi con
người. Trong giai đoạn này, trẻ phát triển rất nhanh về mặt thể chất, nhận thức
và tình cảm. Các mối quan hệ, những nét tính cách, phẩm chất và các năng lực
chung.... nếu không được hình thành ở trẻ trong lứa tuổi này thì khó có cơ hội
hành thành ở lứa tuổi sau.
- Giáo dục bảo vệ môi trường trong trường tiểu học: Lứa tuổi tiểu học là
lứa tuổi biết nhận định được đúng – sai, phân biệt được những hành vi nên và
không nên làm để bảo vệ môi trường. Cũng như lứa tuổi mầm non, lưa tuổi tiểu
học dễ tiếp thu những định hướng giá trị mới, giàu cảm xúc và dễ hưng phấn
nhưng hiếu động, nghịch ngợm nếu không được giáo dục về môi trường một
cách nghiem túc và đầy đủ thì có thể chính các em sẽ trở thành những kẻ phá
hoại môi trường một cách vô ý thức hoặc có ý thức. Và điều đó ảnh hưởng
không nhỏ đến cuộc sống tương lai của toàn nhân loại.
Tóm lại, con người là một thành phần của môi trường (MT) và là chủ thể
của BVMT. Ý thức, thái độ, hành vi ứng xử đối với MT là một trong các yếu tố
nhân cách của người lao động. Chức năng tổng quát nhất và cao quý nhất của
giáo dục là “trồng người”, rèn luyện và phát triển nhân cách người lao động.
1.2.6 Nhiệm vụ trong giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường
Theo tuyên ngôn của Tổ chức UNESCO - UNEP năm 1998 “GDBVMT
không phải là ghép thêm vào chương trình giáo dục như là một bộ phận riêng
biệt hay một chủ đề nghiên cứu, mà nó là một đường hướng hội nhập vào
chương trình đó. GDBVMT là kết quả của một sự định hướng lại và sắp xếp lại
những bộ môn khác nhau và những kinh nghiệm giáo dục khác nhau (khoa học
14
tự nhiên, khoa học xã hội, văn học nghệ thuật,…), nó cung cấp một nhận thức
toàn diện về môi trường”.
GDBVMT là một phương pháp tiếp cận xuyên bộ môn giúp cho mọi người
hiểu về môi trường với mục đích hàng đầu là chăm sóc phát triển và có thái độ
cam kết, thái độ này sẽ nuôi dưỡng niềm mong ước và năng lực hành động có
trách nhiệm trong môi trường. GDBVMT với không chỉ kiến thức mà còn cả
tình cảm, thái độ, kỹ năng và hành động xã hội. Như vậy, việc GDBVMT cần
phải được tiến hành giáo dục sâu rộng ngay từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành,
từ những người làm việc sinh hoạt thường ngày trong cộng đồng tới những người
làm công tác chỉ đạo, quản lý, nhà chiến lược kinh tế xã hội.
1.2.7. Việc giáo dục môi trường trong dạy học như thế nào?
Trong dạy học, việc giáo dục môi trường cũng được lồng ghép vào các
môn học như tự nhiên và xã hội, môn đạo đức, môm Tiếng Việt… Trong các tiết
của từng phân môn, việc giáo dục môi trường thường được dành nguyên một tiết
hoặc thông qua nội dung các bài học liên quan đến môi trường giáo viêm liên
hệ để học sinh nhận ra việc bảo vệ các loài sinh vật như cây cối, hoa, các loài
động vật và từ đó nhận ra cần làm gì để bảo vệ môi trường sống của các loài
sinh vật đó.
1.3 Môn Tự nhiên và Xã hội trong trường tiểu học
1.3.1 Nội dung giáo dục môi trường trong môn Tự nhiên và Xã hội
Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học chỉ được dạy từ lớp 1 đến lớp 3. Môn
+ Mái trường thân yêu của em: Các em cần biết những điều nên làm và
không nên làm trong bảo vệ giữ gìn môi trường, yêu quý giữ gìn bảo vệ môi
trường nhà trường, thực hiện quy định bảo vệ cảnh quan môi trường, tích cực
tham gia các hoạt động giữ gìn trường lớp xanh – sạch – đẹp.
+ Em yêu quê hương: Cảm nhận được vẻ đẹp nơi mình sinh sống, biết một
số nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường tại cộng đồng, yêu quý và có ý thức giữ
gìn, bảo vệ môi trường, tham gia vào các hoạt động giữ gìn bảo vệ môi trường
tại cộng đồng.
+ Môi trường sống của em: Củng có kiến thức qua các môn học về các
thành phần cơ bản của môi trường xung quanh như đất, nước, không khí, ánh
sáng, động vật, thực vật... Một số biểu hiện về ô nhiễm môi trường, nhận biết
16
cảnh quan môi trường xung quanh, có những việc làm đơn giản thiết thực để giữ
gìn và bảo vệ môi trường xung quanh.
+ Em yêu thiên nhiên: Con người sinh sống trong thiên nhiên và là một bộ
phận của thiên nhiên, phá hoại thiên nhiên, môi trường tự nhiên xung quanh sẽ
gây tác hại đối với cuộc sống con người. Vì vậy, các em cần biết cảm nhận, yêu
quý vẻ đẹp của thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên, tham gia trồng và chăm sóc cây
xanh, chăm sóc yêu quý những con vật nuôi.
+ Vì sao môi trường bị ô nhiễm: Nhận biết và chỉ ra một số nguyên nhân
gây ô nhiễm môi trường đến con người và các sinh vật khác, thực hiện những
hành động cụ thể để tránh làm ô nhiễm môi trường.
+ Tiết kiệm trong tiêu dùng: Biết tiết kiệm và góp phần bảo vệ môi trường,
quý trọng các đồ dùng, tài sản thiên nhiên, sản phẩm lao động, tiết kiệm sử dụng
hợp lý các đồ dùng trong sinh hoạt, học tập, biết phân loại tận dụng phế thải.
1.3.3 Mục tiêu của môn Tự nhiên và xã hội
Thông qua các nội dung dạy học trong môn Tự nhiên và xã hội học sinh có
những kiến thức ban đầu về con người, các sự vật, sự việc, các mối quan hệ hữu
trân trọng, bảo vệ và giữ gìn đối với rừng, con vật, thực vật, mong muốn phát
triển tài nguyên thiên nhiên là đòi hỏi tất yếu của GDMT.
- Nhiều nhà giáo dục học tiểu học đã nêu lên: một trong những mục tiêu
giáo dục học sinh ở lứa tuổi tiểu học là hình thành ở các em những cơ sở văn
hoá của môi trường. Bởi vì trong giai đoạn này học sinh tích luỹ các ấn tượng
cảm xúc, các hình ảnh và biểu tượng rực rỡ đầu tiên về thiên nhiên, đặt nền tảng
cho quan hệ và thái độ đúng đắn với môi trường xung quanh và định hướng
đúng trong môi trường đó.
- Các nghiên cứu tâm lí - giáo dục đã chứng minh khả năng hiểu các mối
quan hệ qua lại và sự phụ thuộc trong thiên nhiên của học sinh tiểu học. Sự hiểu
biết các mối quan hệ khác nhau trong thiên nhiên góp phần phát triển trí tuệ,
phát triển năng lực phân tích trong hoàn cảnh sinh thái của học sinh. Các yếu tố
của sự tác động qua lại giữa con người và thiên nhiên có ý nghĩa to lớn trong
GDBVMT cho học sinh. Trước hết đó là việc cho các em làm quen với các hoạt
động thực tiễn khác nhau của con người trong thiên nhiên, hoạt động BVMT
(trồng rừng, bảo vệ rừng, bảo vệ các động vật quý hiếm; bảo vệ giữ gìn cây, con,
18
hoa quả; giữ gìn và bảo vệ các nguồn nước...); làm quen với các cảnh đẹp trong
thiên nhiên, các di tích văn hoá - lịch sử, viện bảo tàng, đồng thời hướng sự chú
ý của học sinh đến các tác động tốt cũng như không tốt của con người đối với
thiên nhiên, những khó khăn về môi trường nơi mà các bạn đang sống (bụi, tiếng
ồn, nước bị ô nhiễm...)
- Trong các hoạt động nhận thức, hoạt động lao động, hoạt động mĩ thuật,
nội dung GDBVMT bao gồm cả việc giáo dục các chuẩn mực đánh giá, giúp
học sinh nhận thức được giá trị đặc biệt quý báu của thiên nhiên. Một trong
những biểu hiện quan trọng của thái độ quan tâm đến thiên nhiên là mong muốn
tham gia vào việc chăm sóc vật nuôi, cây trồng. Trong khi chăm sóc chúng, học
sinh hiểu được các nhu cầu của động - thực vật (thức ăn, nước, ánh sáng, không