Nghiên cứu tỷ lệ và tính kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu tại bệnh viện quân y 103 (2014 2016) - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN QUÂN Y

ĐINH THỊ HUYỀN TRANG

NGHIÊN CỨU TỶ LỆ VÀ TÍNH KHÁNG KHÁNG SINH
CỦA CÁC VI KHUẨN GÂY NHIỄM KHUẨN TIẾT NIỆU
TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 (2014 - 2016)

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN QUÂN Y

ĐINH THỊ HUYỀN TRANG

NGHIÊN CỨU TỶ LỆ VÀ TÍNH KHÁNG KHÁNG SINH
CỦA CÁC VI KHUẨN GÂY NHIỄM KHUẨN TIẾT NIỆU
TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 (2014 - 2016)
Chuyên ngành : Vi sinh Y học
Mã số : 60 72 01 15


Bộ môn Khoa Vi sinh - Bệnh viện Quân y 103 đã giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập và thu thập số liệu cho luận văn.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy trong
chương trình đào tạo Cao học Vi sinh y học khóa 24 - Học viện Quân y, các
thầy cô đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích làm cơ sở cho tôi thực
hiện tốt luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã
góp ý để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cảm ơn Ban giám đốc Học viện Quân y, Ban giám đốc Bệnh
viện Quân y 103, Phòng sau đại học, Hệ sau đại học Học viện Quân y đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, những
người thân đã luôn động viên, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá
trình học cũng như thực hiện luận văn.
Hà Nội, tháng 9 năm 2017
Học viên

Đinh Thị Huyền Trang


DANH MỤC CÁC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT

Viết đầy đủ

Viết tắt

1

ACTT

CLSI

Clinical and Laboratory Standards Institute
(Viện các chuẩn mực lâm sàng và xét nghiệm)

7

CFU

Colony Forming Unit
(Đơn vị hình thành khuẩn lạc)

8

ĐK

Đường kính

9

ECDC

European

Centers

for

Disease



14

KS

Kháng sinh

15

KSĐ

Kháng sinh đồ

16

LDC

Lysin Decarboxylase

17

MH

Muller Hinton

18

MDR

Multi drug resistant - Đa kháng

R

Resistant - Kháng

24

S

Sensitivble - Nhạy cảm

25

TWQĐ

Trung ương Quân đội

26

VK

Vi khuẩn

27

XDR

Extensively drug resistant
(Kháng mở rộng)

28

Levofloxacin

ATM

Aztreonam

LZD

Linezonid

AZM

Azithromicin

MH

Minocyclin

CAZ

Ceftazidime

MEM

Meropenem

CHL

Chloramphenicol


Ceftriaxone

PIP

Piperacillin

CTX

Cefotaxime

SXT

Trimethoprim/Sulfamethoxazol

CXM

Cefuroxime

TIC

Ticarcillin

CS

Colistin

TIM

Ticarcillin/Clavulanic acid


Bảng

Tên bảng

Trang

3.1.

Tỷ lệ cấy khuẩn nước tiểu dương tính

36

3.2.

Tỷ lệ cấy khuẩn nước tiểu dương tính theo tuổi

37

3.3.

Tỷ lệ cấy khuẩn nước tiểu dương tính theo giới tính

37

3.4.

Tỷ lệ cấy khuẩn nước tiểu dương tính theo khoa

38


3.10. Phân bố mức độ nhiễm khuẩn tiết niệu theo loài vi khuẩn

44

3.11. Kiểu kháng kháng sinh của một số chủng vi khuẩn hay gặp gây
nhiễm khuẩn tiết niệu

51

3.12. Kiểu đa kháng kháng sinh của một số chủng vi khuẩn hay gặpgây
nhiễm khuẩn tiết niệu

52


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ

Tên biểu đồ

Trang

3.1

Tính kháng kháng sinh của E. coli

44

3.2


Hình
2.1

Tên hình
Kháng sinh đồ theo phương pháp Kirby - Bauer

Trang
33


1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu là một bệnh lý hay gặpcủa hệ tiết niệu với
những diễn biến phức tạp và đa dạng. Nhiễm khuẩn tiết niệu có thể gặpở cả
hai giới nam và nữ ở mọi lứa tuổi.
Nhiễm khuẩn tiết niệu hiện vẫn đang là vấn đề được quan tâm của
ngành Y tế nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới vì tỷlệ mắc, tái phát
cao, nếu không được điều trị kịp thời có thể gây nhiều biến chứng như nhiễm
khuẩn huyết, suy thận [1]. Đặc biệt trên các nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao
như dị tật đường tiết niệu, có thai, đái tháo đường, điều trị thuốc ức chế miễn
dịch, các bệnh lý tắc nghẽn đường niệu và sỏi tiết niệu... thì tỷ lệnhiễm khuẩn
tiết niệu tăng lên nhiều lần [2].
Các nghiên cứu ở trong và ngoài nước trong những năm qua đều cho
thấy căn nguyên vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu chiếm tỷ lệ cao là các
trực khuẩnđường ruột (Enterobacteriaceae), đứngđầu làE.coli [3], [4], [5].
Ngày nay, do việc sử dụng kháng sinh không hợp lý dẫn đến tỷ lệ vi
khuẩn kháng thuốc không ngừng gia tăng trên toàn Thế giới trong đó có Việt
Nam. Ở Việt Nam, tình trạng nhiều loài vi khuẩn kháng thuốc nói chung đang
ở mức báo động. Sự xuất hiện các chủngvi khuẩn như Staphylococcus aureus
kháng methicillin, cácEnterobacteriaceaesinh β- lactamase phổ rộng, các trực

Nhiễm khuẩn tiết niệu (NKTN) là hiện tượng vi khuẩn xâm nhập
vàonước tiểu và các mô của bất cứthành phần nào thuộc hệthống tiết niệu
từvỏthận tới lỗniệu đạo,gây ra phản ứng của cơ thể chống lại sự xâm nhập của
vi khuẩn đó. NKTN có thể có hoặc không có triệu chứng [2], [7].
NKTN có thể khu trú ở các vị trí như ở thận (viêm thận bể thận), ở
bàng quang (viêm bàng quang), ở tuyến tiền liệt (viêm tuyến tiền liệt) ở niệu
đạo (viêm niệu đạo). Mặc dù tình trạng viêm nhiễm và các triệu chứng có thể
chỉ khu trúở một vị trí, nhưng toàn bộhệthống tiết niệu luôn có nguy cơbị vi
khuẩn xâm nhập khi một bộphận của nó đã bịnhiễm khuẩn [1].
1.1.2. Phân loại nhiễm khuẩn tiết niệu [1], [2], [7]:
* Phân loại theo vị trí giải phẫu:
- Nhiễm khuẩn tiết niệu trên: viêm đài bể thận
- Nhiễm khuẩn tiết niệu dưới: bao gồm nhiễm khuẩn tại bàng quang,
niệu đạo, tiền liệt tuyến.
* Phân loại theo triệu chứng lâm sàng:
- Nhiễm khuẩn tiết niệu cấp tính
-Nhiễm khuẩn tiết niệu mạn tính
- Nhiễm khuẩn tiết niệu không triệu chứng
* Phân loại theo cơ chế gây bệnh:
- Nhiễm khuẩn tiết niệu niệu ngược dòng
- Nhiễm khuẩn tiết niệu theo đường máu
- Nhiễm khuẩn tiết niệu theo đường bạch huyết


4
1.1.3. Cơ chế gây bệnh nhiễm khuẩn tiết niệu
1.1.3.1. Cơ chế bảo vệ ở đường tiết niệu [7]:
- Nước tiểu: có thể ức chế sự phát triển của vi khuẩn nhờ áp lực thẩm
thấu cao, nồng độ urê và acid hữu cơ cao, pH acid, có protein có khả năng ức
chế sự bám dính của vi khuẩn, có kháng thể và dòng nước tiểu lưu thông từ

huyết.
- Nhiễm khuẩn theo đường bạch huyết: một số vi khuẩn cư trú ở trực
tràng có thể xâm nhập vào các hạch bạch huyết rồi vào thận.
- Nhiễm khuẩn lan truyền từ các cơ quan phụ cận: nhiễm khuẩn ổ bụng,
nhiễm khuẩn cơ quan sinh dục.
1.1.4. Yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn tiết niệu
+ Tuổi, giới có ảnh hưởng đến tình trạng nhiễm khuẩn tiết niệu [2]:
- Trẻ sơ sinh: thời kỳ sơ sinh khoảng 1% trẻ có vi khuẩn trong nước
tiểu bàng quang, trẻ trai có tỷ lệ vi khuẩn cao hơn trẻ gái.
- Trẻ dưới 5 tuổi: tỷ lệ trẻ gái bị NKTN tăng và bệnh thường liên quan
đến những dị tật hệ tiết niệu. NKTN xảy ra chủ yếu là không triệu chứng.
- Trẻ đi học: tỷ lệ NKTN ở nhóm trẻ này cao hơn ở cộng đồng.
- Người lớn đến 65 tuổi: ở nhóm này tỷ lệ NKTN ở nam khá thấp
(khoảng từ 3% - 5%) thường do những bất thường giải phẫu hệ tiết niệu, bệnh
sỏi đường tiết niệu, bệnh tiền liệt tuyến và các can thiệp vào hệ tiết niệu như
đặt catheter. Khoảng 10% nữ giới ở nhóm tuổi này có NKTN do hoạt động
tình dục hoặc do có thai.
- Nhóm tuổi trên 65: tỷ lệ nhiễm khuẩn tăng lên ở cả hai giới.
+ Tắc nghẽn đường tiết niệu: tắc nghẽn đường tiết niệu tại bất kỳ vị trí
nào cũng làm tổn thương đến sự bảo vệ của đường tiết niệu chống lại sự
nhiễm khuẩn. Tắc nghẽn gây ứ đọng nước tiểu, tạo điều kiện cho vi khuẩn
phát triển, gây viêm tại chỗ và ngược dòng. Nguyên nhân của sự tắc nghẽn có
thể do sỏi, u, nang, sẹo xơ hóa tại thận… trong đó sỏi là nguyên nhân hay gặp


6
nhất. Nếu sỏi không gây tắc nghẽn, nó vẫn kích thích niêm mạc làm tăng khả
năng bám dính của vi khuẩn [7].
+ Thủ thuật: thông tiểu, soi bàng quang, chụp niệu quản ngược dòng
đều làm tăng nguy cơ NKTN.

-Staphylococcus aureus
- Staphylococcus saprophyticus
-Candida albicans
 Họ vi khuẩn đường ruột (Enterobacteriaceae):
Nguyên nhân hàng đầu gây NKTN là họ vi khuẩn đường ruột, chiếm
khoảng 60% - 70% nguyên nhân. Chúng thường xuyên có mặt ở đường ruột
và rất dễxâm nhập vào cơ quan tiết niệu. Khả năng bám vào tế bào cơ thể chủ
nhờ các pili là yếu tố đầu tiên không thể thiếu giúp vi khuẩn có thể gây bệnh.
Khả năng xâm nhập là yếu tố quyết định độc lực của vi khuẩn, khi có sự xâm
nhập của vi khuẩn vào mô thì chắc chắn có quá trình nhiễm trùng xảy ra [10].
* E. coli:
Bình thường E. coli sống cộng sinh ở đại tràng của người. Vi khuẩn
này chỉ gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi. Tuy nhiên, E. coli luôn đứng
hàng đầu trong các căn nguyên gây nhiễm khuẩn tiết niệu. Các nhóm huyết
thanh hay gặp là O1, O2, O4, O6, O7 và O75. Các chủng có kháng nguyên
K1, K2, K3, K5, K12, K13 là hay gặp nhất [10]. Imran Ali nghiên cứu tình
hình NKTN tại một bệnh viện ở Pakistan, E. coli chiếm 76,6% [11]. Theo
nghiên cứu của E. Stefaniukở cộng đồng, E. coli chiếm tỷ lệ 71,4% căn
nguyên gây NKTN, trong đó 65,8% là các trường hợp nhiễm trùng phức tạp
[12]. Kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác thì tỷ lệE. coli gây nhiễm
khuẩn tiết niệu phân lập được trong bệnh viện dao động từ 30% đến 51,7%
[13], [14]. E. coli cũng là nguyên nhân của hơn 60% trường hợp NKTN ở trẻ
em [5], [14], [16].
Ở Việt Nam tỷ lệ E. coli gây NKTN trong bệnh viện từ 38,3% đến
52,9% [3], [17], [18].


8
E. coli là vi khuẩn hiếu khí hoặc kỵ khí không bắt buộc, dễ nuôi cấy,
phát triển tốt trên môi trường dinh dưỡng thông thường. Vi khuẩn này có

bệnh viện - là một trong những căn nguyên gây nhiễm khuẩn bệnh viện
thường gặp.
Klebsiella là trực khuẩn Gram âm, trên tiêu bản nhuộm Gram vi khuẩn
thường đứng thành từng đôi.Klebsiellabám vào niêm mạcđường tiết niệu nhờ
fimbriae và một yếu tố kết dính có khả năng ức chế mannose. Vi khuẩn có vỏ
dày, kích thước có thể gấp 2 - 3 lần tế bào vi khuẩn. Vỏ có bản chất
polysaccharide, giúp vi khuẩn tránh được sự nhận diện của các tế bào thực
bào và dễ dàng lẩn tránh được tác dụng của thuốc kháng sinh [19]. Klebsiella
sinh enzyme urease phân hủy ure, do vậy nó là một trong những vi khuẩn
tham gia vào quá trình hình thành sỏi tiết niệu nhiễm khuẩn.
Theo một số nghiên cứu trên thế giới, Klebsiella gây NKTN chiếm tỷ lệ
từ 18,0% đến19,4% [13], [20]. Ở Việt Nam, tỷ lệ này là 11,3% ở bệnh viện
Chợ Rẫy [3] và 8,37% ở bệnh viện Thống Nhất [17].
 Pseudomonas:


9

Trong chiPseudomonas loài hay gặp là P. aeruginosa(trực khuẩn mủ
xanh), đây là một trong những tác nhân chủ yếu gây nhiễm trùng bệnh viện.
Trong bệnh lý NKTN, việc sử dụng các phương pháp thăm khám đường tiết
niệu như đặt ống dẫn lưu, chụp bể thận niệu quản ngược dòng… cũng làm
tăng nguy cơ nhiễm khuẩn do P. aeruginosa.
P.aeruginosa là vi khuẩn gây bệnh cơ hội. Độc tố của P. aeruginosa
chỉ có tác động gây chết khi chúng được tạo ra với số lượng lớn. Tuy nhiên,
loài vi khuẩn này có nhiều yếu tố độc lực tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn
xâm nhập, lan truyền và gây bệnh. Yếu tố lông và pili giúp vi khuẩn bám chắc
được vào niêm mạc đường tiết niệu. Các enzyme ngoại tiết có vai trò quan
trọng trong quá trình xâm nhập và gây bệnh tại chỗ. Protease gây tổn thương
tại chỗ như xuất huyết, hoại tử niêm mạc, ức chế hiện tượng opsonin hóa,

Enterococcus thuộc liên cầu nhóm D. Vi khuẩn này có mặt trong phân
người bình thường và gây bệnh khi có cơ hội.
Enterococcus là nguyên nhân phổ biến thứ hai gây nhiễm khuẩn tiết
niệu, đặc biệt trên những người có đặt ống thông [26]. Nghiên cứu của Dennis
G. Maki cho thấy tỷ lệ Enterococcus gây NKTN ở những bệnh nhân có đặt
catheter là 16% [27]. Ở Việt Nam, nghiên cứu tại bệnh viện Bạch Mai tỷ lệ
NKTN do Enterococcus trên bệnh nhân có đặt ống thông tiểu là 45% [28].
Theo Đỗ Gia Tuyền nghiên cứu tình hình NKTN tại khoa Thận - tiết
niệu bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ phân lập được Enterococcus là 50% [29]. Trần
Thanh Nga nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy thì tỷ lệ Enterococcusphân lập
được từ 6,9% đến 13,2% [3], [18].
 Staplylococcus aureus (tụ cầu vàng):
S. aureus chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong các căn nguyên gây NKTN nói
chung nhưng lại có một ý nghĩa quan trọng do độc lực vàgây biến chứng nguy
hiểm như nhiễm khuẩn huyết. NKTN do S. aureus chủ yếu theo đường máu


11
hoặc đường bạch huyết. Tỷ lệ S. aureusgây NKTN chiếm từ 2,4% đến 7,6%
theo một số nghiên cứu [24], [30], [31].
 S. epidermidis và S. saprophyticus:
Hai loài vi khuẩn này chiếm một tỷ lệ từ 10% đến15% căn nguyên, chủ
yếu là các bệnh nhân trẻ tuổi với các thể lâm sàng là NKTN không triệu
chứng [32], [33].
1.2. Tình hình nhiễm khuẩn tiết niệu trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình nhiễm khuẩn tiết niệu trên thế giới
NKTN là bệnh khá phổ biến trên thế giới.Theo khảo sát chăm sóc y tế
bệnh viện quốc gia Mỹ, NKTN chiếm gần 7 triệu lượt khám và 1 triệu lượt
cấp cứu, dẫn đến 100.000 trường hợp nhập viện. Phụ nữ có nhiều khả năng bị
nhiễm khuẩn hơn nam giới. Gần một nửa số phụ nữ sẽ bị NKTN ít nhất một

nghiệm gửi đến [24]. Cũng tại bệnh viện này, trong nghiên cứu của Đặng Mỹ
Hương năm 2009 - 2010 tỷ lệ dương tính là 36,4%. Trong đó trực khuẩn
đường ruột chiếm tỷ lệ cao 55,51%; các cầu khuẩn Gram dương chiếm
27,97% [17].
Nguyễn Thị Ngọc Lan, Vũ Thị Thu Hà nghiên cứu vềNKTN nói chung
tại viện Pasteur năm 2010 cho biết tỷlệ NKTN là 34,6% và nữ nhiều gấp đôi
nam. Nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất là họ vi khuẩn đường ruột 64,5%, tiếp đến là
Streptococcus chiếm 20,4%, Staphylococcus chiếm 13,3% [42].
Phan Thị Thu Hương nghiên cứu tình hình NKTN ởnhững bệnh nhân
được chỉ định cấy nước tiểu ở bệnh việnTWQĐ 108thì tỷ lệ cấy nước tiểu
dương tính là 23,1%. Căn nguyên vi khuẩn gây NKTN rất phong phú và đa
dạng nhưng chủyếu vẫn là vi khuẩn Gram âm. Vi khuẩn chiếm tỷlệcao nhất là
E. coli 34,2%;Pseudomonasspp 14,4%;S. agacalactia 13,8%; Klebsiella
spp9,0% và S. saprophyticuslà 8,8% [4].


13
Tại bệnh viện Chợ Rẫy (2013),tỷ lệ cấy nước tiểu dương tínhlà 20%,
nguyên nhân vi khuẩn gây NKTN thường gặp là: E.coli (52,96%), E. faecalis
(6,93%), P.aeruginosa (6,65%) vàKlebsiella spp (6,36%) [18].
Theo nghiên cứu của Đỗ Gia Tuyền tại khoa Thận tiết niệu - bệnh viện
Bạch Mai, tỷ lệ NKTN là 44,9%. Căn nguyên vi khuẩn hay gặp nhất là E. coli
62,5%; Enterococcus 50%; K. pneumonia 15%; Acinetobacter 15% [29].
Tỷ lệ NKTN tăng cao trên những bệnh nhân có bệnh lý về hệ tiết niệu.
Nghiên cứu của Trà Anh Duy (2014) trên bệnh nhân bị hẹp niệu đạo tại bệnh
viện Bình Dân cho thấy tỷ lệ dương tính là 57,49% và E. coli là nguyên nhân
hay gặp nhất với tỷ lệ 30,3% [31]. Trong nghiên cứu của Kiều Chí Thành trên
những bệnh nhân bị sỏi tiết niệu, tỷ lệ phân lập được vi khuẩn ở nước tiểu
bàng quang là 53,72%; nước tiểu thận là 51,39%. Các vi khuẩn phân lập được
trên bệnh nhân sỏi tiết niệu: E. coli 26%; S. saprophyticus 14,68%; Proteus

amoxicillin/acid clavulanic 74,4%; norfloxacin 74,2%; cefuroxime 72,2%;
ceftriaxone 71,4% [38]. Nghiên cứu của S. Banerjee trên 216 chủng E. coli
phân lập được, vi khuẩn kháng lại nhóm cephalosporin, fluoroquinolones và
trimethoprim/sulfamethazole với tỷ lệ khá cao, 100% các chủng đều nhạy
cảm với colistin và 98,1% nhạy cảm với fosfomycin [43]. Kulkarni SR nghiên
cứu trên 395 chủng E. coligây NKTN, 43% là các chủng đa kháng. Vi khuẩn
đã

kháng

với

ampicillin

82,53%;

cefuroxime

72,41%;ceftriaxone

66,58%;amoxicillin/acid clavulanic 71,90%; ciprofloxacin 65,82% và cefepime
57,47%. Các chủng này nhạy cảm cao với imipenem 96,71%; nitrofurantion
92,41% và amikacin 90,89% [44].
Ở Việt Nam những năm gần đâyhầu hết E. coli đã kháng lại các kháng
sinh thông thường trong chỉ định điều trị NKTN. Tại bệnh viện TWQĐ 108,
trong kết quả nghiên cứu của Phan Thị Thu Hươngcác chủngE.coli gây
NKTN đã kháng kháng sinh khá cao nhưkháng ampicillin 84,8%; cephazolin
71%; tetracycllin 70,2%; trimethroprim/sulfamethoxazole 76%; ciprofloxacin
50,8% và levofloxacin 65,5% [4].Theo Đoàn Đức Tuấn nghiên cứu tại Bệnh




16
phối hợp với chất ức chế men β-lactamase. Theo nghiên cứu tại bệnh viện
Chợ Rẫy, vi khuẩn đã kháng nhiều kháng sinh như: khángceftazidime 54,5%;
gentamycin 67,0%, ciprofloxacin 80,0%, co-trimoxazole 74,3%. Vi khuẩn
còn nhạy với imipenem 97,5% và meropenem là 95,2% [3]. Tại bệnh viện
TWQĐ108, các chủng Klebsiella phân lập được trên 90% nhạy cảm với
imipenem, ertapenem và meropenem; kháng cao với các kháng sinh thông
dụng nhưtrimethroprim/sulfamethoxazole 71,1%; ampicillin và tetracycline
82,2%; cefazolin 80,0%; ngay cảvới ciprofloxacin, các chủng Klebsiella cũng
đã kháng với tỷlệ66,6% [4]. Tại bệnh viện Thống Nhất, Klebsiellagây NKTN
đã kháng với gentamicin 44,74%; ciprofloxacin 52,63%; norfloxacin 65,71%;
cefuroxime 42,11%, trimethroprim/sulfamethoxazole 59,38% [17].
1.3.3. Tình hình kháng kháng sinh của Pseudomonas
Trong họPseudomonas thì loài hay gặp là P. aeruginosa, đây là vi
khuẩn gây bệnh cơ hội nhưng khi gây bệnh thường khó điều trị và có tỷlệ tử
vong cao. P. aeruginosa là một trong số những loài vi khuẩn hay gặp có khả
năng kháng kháng sinh caonhất. P.aeruginosa kháng thuốc kháng sinh bằng
các cơ chế sau: tính thấm của vách tế bào thấp liên quan đến đề kháng tự
nhiên, sản xuất enzyme ngoại bào phá hủy kháng sinh qua trung gian plasmid,
thay đổi vị trí của các protein bám kháng sinh, hoạt hóa hệ thống bơm đẩy,
đẩy kháng sinh ra khỏi tế bào [50].
Theo một nghiên cứu đã được công bố, P. aeruginosa gây NKTNcó
khả năng đề kháng cao với fluoroquinolones, kháng ciprofloxacin 85,8% và
kháng ofloxacin 80,0% [51].Trong nghiên cứu của Ekwealor, P. aeruginosa
đã kháng 71,4% với gentamycin và ceftazidime, 57% với cefuroxime, còn
nhạy cảm cao với nitrofurantoin 85,7% [52].
Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Nga cho thấy P. aeruginosa đã kháng
với gentamycin 69,6%; amikacin 60%; cefepime 70,2%; ceftazidime 68,1%;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status