Án lệ ở việt nam hiện nay – một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THỊ QUYÊN

ÁN LỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Năm

HÀ NỘI - NĂM 2016


LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo Thạc sĩ luật học, tôi
xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Văn Năm, người đã hướng dẫn
cho tôi đầy nhiệt tình, tận tâm và khoa học.
Tôi vô cùng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo ở Trường Đại học Luật Hà Nội
trong suốt khóa học vừa qua đã truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức,
những kinh nghiệm cần thiết và quý báu.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã
tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn này.

1.1.1. Một số quan điểm cơ bản về án lệ trên thế giới ............................ . 7
1.1.2. Quan niệm về án lệ ở Việt Nam hiện nay ..................................... 13
1.2. Sự cần thiết phải sử dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay. ................... 21
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng án lệ ở Việt Nam hiện
nay. .......................................................................................................... 29
1.4. Xây dựng và áp dụng án lệ .............................................................. 40
1.4.1. Xây dựng án lệ ............................................................................. 40
1.4.2. Áp dụng án lệ .............................................................................. 43
1.5. Hiệu lực của án lệ ở Việt Nam hiện nay ......................................... 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................... 47
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN XÂY DỰNG, ÁP DỤNG ÁN LỆ VÀ GIẢI
PHÁP SỬ DỤNG THÀNH CÔNG ÁN LỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .. 48
2.1. Thực tiễn xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay .............................. 48
2.1.1. Những kết quả đã đạt được trong xây dựng án lệ ........................ 48
2.1.2. Những hạn chế tồn tại trong xây dựng án lệ ................................ 51


2.2. Thực tiễn áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay ................................ 62
2.2.1. Những kết quả đã đạt được.......................................................... 62
2.2.2. Những hạn chế cần khắc phục ..................................................... 66
2.3. Nguyên nhân của kết quả và hạn chế trong việc xây dựng và áp
dụng án lệ ................................................................................................ 68
2.3.1. Nguyên nhân của những kết quả đạt được ................................... 68
2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế: ................................................ 68
2.4. Một số giải pháp xây dựng và áp dụng thành công án lệ ở Việt Nam
trong thời gian tới.................................................................................... 70
2.4.1. Nhóm giải pháp về xây dựng án lệ. .............................................. 70
2.4.2. Nhóm giải pháp về áp dụng án lệ ................................................ 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................... 78
KẾT LUẬN CHUNG ................................................................................. 79

phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt nam – Lý luận và thực tiễn, Trường Đại học Luật Hà Nội,
H.2015, Tr.89.
2
Theo điểm c, khoản 2, điều 22, Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014

1


Chánh án Toà án nhân dân tối cao ban hành Quyết định số 220/QĐ-CA công
bố 06 án lệ đầu tiên của Việt Nam đã được Hội đồng thẩm phán Toà án nhân
dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016.
Việc công bố những án lệ đầu tiên là một bước ngoặt quan trọng trong
quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Án lệ khi
được áp dụng trên thực tế sẽ khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật,
giải thích và làm rõ hơn các quy định của pháp luật thành văn. Bên cạnh đó,
việc công bố các án lệ để các Toà án áp dụng trong xét xử đã khắc phục được
phần nào những khó khăn, vướng mắc trong công tác xét xử của Toà án, giúp
cho việc xét xử của Toà án được thống nhất, tạo sự minh bạch, ổn định trong
các quyết định xét xử.
Tuy nhiên, truyền thống coi trọng pháp luật thành văn làm cho việc
nhận thức và sử dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay gặp không ít khó khăn. Vấn
đề đặt ra, án lệ được hiểu như thế nào, cách thức, trình tự xây dựng và áp
dụng án lệ trong xét xử ra sao… cho đến hiện nay ở nước ta vẫn chưa có được
sự thống nhất cả trong công tác nghiên cứu lý luận, cả trong đời sống pháp lý
thực tiễn. Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “Án lệ ở Việt Nam hiện nay – Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý
luận và lịch sử nhà nước và pháp luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài
Các vấn đề liên quan đến án lệ đã và đang được rất nhiều các nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu, trong đó có một số công trình nghiên cứu, bài viết

cách hệ thống phương thức, cách thức xây dựng và áp dụng án lệ ở Việt Nam
hiện nay.
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Án lệ ở Việt Nam hiện nay – Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn” không có sự trùng lặp với các đề tài nghiên cứu khác.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về xây dựng và áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay.
Về phạm vi nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu về việc sử dụng án lệ ở
hai hệ thống pháp luật lớn trên thế giới là Common Law và Civil Law, tác giả
đã đặt ra những vấn đề nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn đối với việc sử

3


dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt đi sâu vào phân tích thực tiễn xây
dựng và áp dụng án lệ, trên cơ sở đó đánh giá và đưa ra giải pháp cho sử dụng
hiệu quả án lệ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
- Làm rõ khái niệm án lệ, các nguyên tắc sử dụng án lệ, vấn đề hiệu
lực của án lệ ở Việt Nam hiện nay.
- Nghiên cứu làm rõ lý luận về sự cần thiết cũng như những thuận lợi,
khó khăn trong sử dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay.
- Đánh giá khách quan thực tiễn xây dựng và áp dụng án lệ trong hoạt
động xét xử ở Việt Nam hiện nay.
- Đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng các bản án lệ
và việc áp dụng án lệ vào công tác xét xử ở Việt Nam hiện nay
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
- Quan niệm án lệ ở Việt Nam hiện nay là gì?
- Thực tiễn xây dựng và áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Những giải pháp gì để có thể nâng cao hiệu quả việc sử dụng án lệ ở

Án lệ là một trong những khái niệm cơ bản của khoa học pháp lý. Với
sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa và sự giao thoa của các hệ
thống pháp luật trên thế giới, án lệ không chỉ được coi là nguồn luật quan
trọng đối với các nước theo hệ thống Thông luật (Common Law) mà cũng trở
thành mối quan tâm đặc biệt của các quốc gia theo hệ thống dân luật (Civil
Law) vốn có truyền thống coi trọng pháp luật thành văn, trong đó có Việt
Nam. Tư tưởng về án lệ đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử, ngay từ thời kỳ
cổ đại, Aristotle3 đã quan niệm rằng “các vụ việc giống nhau thì cần phải
được xét xử như nhau”4. Quan điểm này trở thành nền tảng cho sự tồn tại của
các học thuyết án lệ ở các hệ thống pháp luật trên thế giới. Theo đó, cơ quan
xét xử khi giải quyết một vụ việc, sau khi được thừa nhận bởi các thủ tục
pháp lý, thì bản án hay quyết định của cơ quan xét xử đó sẽ trở thành cơ sở
pháp lý quan trọng cho việc giải quyết các vụ án sau này xảy ra có tính chất,
tình tiết tương tự như vụ án trước đó.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng, quan niệm về án lệ ở các quốc gia
khác nhau lại có những điểm khác biệt đáng kể xuất phát từ truyền thống cũng
như những đặc thù của từng truyền thống pháp luật. Bởi vậy, hiểu như thế nào
về án lệ, làm sao để xây dựng được những án lệ có chất lượng tốt và sử dụng
chúng một cách hiệu quả là những vấn đề rất đáng được quan tâm nghiên cứu
trong giai đoạn hiện nay.

3

Aristoteles (384-322 TCN), nhà triết học và bác học thời kỳ cổ đại
Gale Group, The Dictionary of The History of Ideas (2003), at />
4

6



6

Brian Bix, Jurissprudence Theory and Context, Third edition, London Sweet & Maxwell, 2003, P.44.
Từ điển luật học, Tái bản lần 4, in và xuất bản tại Anh, 1993, Tr.293.
8
Black’s Law Dictionary (West Group, St. Paul MN, tái bản lần thứ 9 2004), P.1295.
7

7


mà ở đó tạo ra quy tắc với vai trò là điểm quy chiếu để quyết định những vụ
án sau này có cùng tình tiết hoặc vấn đề pháp lý.
Việc sử dụng án lệ ở các quốc gia trong hệ thống Thông luật nhìn
chung hầu hết đều tuân theo nguyên tắc Stare Decicis – nguyên tắc bắt buộc
phải tuân theo án lệ, tức tất cả các tòa án cấp dưới đều phải tuân thủ theo các
quyết định của tòa án cấp trên và đồng thời bị ràng buộc với quyết định của
chính mình. Cụ thể hơn, các nước theo hệ thống Thông luật đã đưa ra một số
nguyên tắc trong việc sử dụng án lệ bao gồm9:
(1) Mỗi tòa án bị buộc phải tuân thủ theo các quyết định của tòa án cấp
cao hơn trong cùng hệ thống hoặc của chính tòa án đã ra quyết định;
(2) Những quyết định của tòa án thuộc hệ thống khác chỉ có giá trị
tham khảo;
(3) Chỉ có những quyết định dựa trên chứng cứ pháp lý (ratio decidendi)
của vụ án thì mới có giá trị bắt buộc để ra quyết định cho vụ án sau này;
(4) Nhận định hoặc những quyết định của tòa án trước đó đối với một
vụ án không dựa trên cơ sở pháp lý mà chỉ dựa trên cơ sở bình luận của thẩm
phán (obiter dictum) sẽ không có giá trị bắt buộc tòa án cấp dưới phải tuân thủ;
(5) Yếu tố thời gian không làm mất đi tính hiệu lực của quyết định.
Như vậy có thể thấy rằng, mặc dù việc áp dụng án lệ trong các nước

Thông luật cho rằng: thứ nhất, việc tuân theo án lệ là sự đòi hỏi tính thống
nhất trước sau như một của pháp luật; thứ hai, việc tuân theo án lệ cũng là đòi
hỏi của tính công bằng trong pháp luật, rằng với những vụ việc có tình tiết
giống nhau thì cần phải được giải quyết giống nhau để bảo đảm tất cả mọi
người đều được đối xử một cách công bằng; và cuối cùng, nó đảm bảo cho
tính ổn định và có thể dự liệu trước của hệ thống pháp luật.
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là, nếu như áp dụng đúng theo nguyên tắc bắt
buộc phải tuân theo án lệ (stare decisis) đó thì nếu như có một phán quyết
không đúng đắn hay lỗi thời được lựa chọn làm án lệ thì các thẩm phán cứ
phải thực hiện theo nó và tiếp tục tạo ra các bản án không đúng đắn tiếp theo?
Thực tế cho thấy rằng các tòa án cũng có thể dễ dàng thay thế hay bãi bỏ một
án lệ của chính nó khi tòa án có những lý do để làm như vậy. Một nguyên tắc
phổ biến cho việc bãi bỏ án lệ cũ dựa trên lý do các án lệ cũ này đã được
10

Dương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Thúy, Vấn đề áp dụng án lệ ở Việt Nam, Tạp chí Luật học số 5/2009.

9


quyết định thiếu căn cứ pháp luật hoặc nó đã lạc hậu, không còn phù hợp với
các điều kiện kinh tế - xã hội mới nảy sinh và không thể áp dụng được nữa
trên thực tiễn. Bên cạnh đó, cũng có trường hợp như ở Anh, án lệ do thẩm
phán tạo ra dù đã được công nhận cũng có thể bị bãi bỏ bởi một văn bản quy
phạm pháp luật của cơ quan lập pháp.
 Quan niệm về án lệ ở các nước thuộc hệ thống pháp luật Civil law.
Hệ thống pháp luật Civil Law (còn được gọi là hệ thống dân luật) là hệ
thống pháp luật với nền tảng là luật La Mã cổ đại. Đặc điểm cơ bản của hệ
thống pháp luật này là coi trọng văn bản qui phạm pháp luật, nhất là các luật,
bộ luật do Nghị viện hay Quốc hội ban hành. Với các nước trong hệ thống

thức thừa nhận mà cần phải nhìn vào thực tiễn. Do đó, không vì thế mà vội
kết luận rằng, ở các nước châu Âu lục địa, án lệ không được sử dụng, vai trò
của thực tiễn xét xử không lớn13.
Trong hệ thống pháp luật này, án lệ không được coi trọng như ở hệ
thống pháp luật Common Law bởi theo lý giải của các nhà lý luận trong hệ
thống pháp luật này thì “thẩm phán chỉ là người tuyên bố những ngôn từ của
pháp luật”14 và không có quyền ban hành pháp luật. Quan điểm này rất phổ
biến ở Pháp và Đức. Cũng chính vì không coi trọng án lệ nên ở những nước
này, các án lệ của tòa án cấp trên cũng không có giá trị bắt buộc một cách
chính thức đối với các tòa án cấp dưới cũng như đối với chính mình trong xét
xử. Đây chính là điểm khác biệt nhất trong quan niệm về án lệ của hệ thống
dân luật so với hệ thống Thông luật.
Một điểm khác biệt nữa về án lệ trong hệ thống dân luật thành văn so
với hệ thống Thông luật đó là, nếu như ở hệ thống Thông luật, án lệ được
hình thành từ hoạt động sáng tạo của tòa án, trong đó bao gồm cả việc thẩm
phán sáng tạo ra các nguyên tắc pháp lý mới là chủ yếu thì ở các nước theo hệ
thống dân luật, với sự đề cao văn bản qui phạm pháp luật và hoạt động pháp
điển hóa, án lệ trên thực tế lại chủ yếu được hình thành bởi hoạt động động
giải thích pháp luật của tòa án trong quá trình xét xử, dựa trên các quy định
của văn bản quy phạm pháp luật. Lý giải điều này, các nước trong hệ thống
dân luật thành văn một mặt dựa trên tư tưởng của Montesquieu về vai trò của
cơ quan lập pháp trong việc thay mặt nhân dân để ban hành pháp luật, mặt
khác họ còn lý giải dựa vào tính khái quát của các quy định pháp luật thành
13

GS.TSKH.Đào Trí Úc, “Án lệ: lịch sử, hiện tại và triển vọng phát triển ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp số 290, tháng 5/2015; trích theo René David, Les Grands Sistêms de Droit Contemporains
“Dalloz”, Paris, 1978, P. 142
14
Nguyên văn: “the national judges are no more than the mouth that pronounce the words of law”;

thẩm phán không được thừa nhận bởi như vậy sẽ lấn quyền của các nhà lập
pháp. Cũng chính bởi thế, nguyên tắc Stare decisis không được áp dụng trong
hệ thống pháp luật này. Các án lệ của tòa án chỉ mang tính chất tham khảo
chứ không mang tính bắt buộc.

12


Tóm lại, theo quan điểm của hệ thống dân luật thành văn, án lệ là
những quyết định của tòa án đã có hiệu lực, được hình thành trong quá trình
tòa án giải thích các quy định của pháp luật thành văn và có giá trị tham khảo
trong quá trình giải quyết các vụ việc về sau có tính chất tương tự.
1.1.2. Quan niệm về án lệ ở Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam, án lệ cũng không phải là một thuật ngữ mới xuất hiện, tuy
nhiên xuất hiện ở thời điểm nào thì còn nhiều tranh cãi. Có quan điểm cho
rằng án lệ đã xuất hiện ở Việt Nam từ thời kỳ phong kiến và tồn tại dưới dạng
các phán quyết, chiếu, sắc, dụ, lệnh của nhà vua, chỉ có điều vào thời điểm đó
chưa sử dụng thuật ngữ “án lệ”15. Tuy nhiên có quan điểm khác lại cho rằng
không có bằng chứng rõ ràng về lý luận của việc vận dụng án lệ trong pháp
luật phong kiến, song cũng có những điều luật được xây dựng và ghi chép
trên cơ sở án lệ16, ví dụ Điều 396 Bộ Luật Hồng Đức17. Khác với cách trình
bày các quy phạm pháp luật khác trong bộ luật này, Điều 396 lại trình bày
quy định bằng cách đưa ra một trường hợp đã giải quyết trước đó. Theo
TS.Nguyễn Văn Nam thì đây là sự gắn kết giữa án lệ với cách thể hiện quy
phạm pháp luật thành văn. Như thế, mặc dù không được thể hiện dưới hình
thức là các phán quyết của cơ quan xét xử, song trong quy định cụ thể này của
pháp luật phong kiến, chúng ta cũng đã có thể thấy được bóng dáng của án lệ
trong đó, bởi xét trên thực tế, khi giải quyết các vụ việc sau đó có nội dung
tương tự vụ việc này thì cơ quan xét xử phải vận dụng quy phạm pháp luật tại
Điều 396 này, tức sử dụng cách giải quyết của vụ án trước đó để giải quyết vụ

định trong xét xử. Tuy nhiên, một thời gian dài sau đó, do ảnh hưởng mạnh
mẽ của mô hình pháp luật xã hội chủ nghĩa mà án lệ đã dần mất đi vai trò của
mình mà không được coi là nguồn luật chính thức.
Trong thời gian trở lại đây, án lệ mới bắt đầu được quan tâm trở lại từ
Nghị quyết số 48/NQ-TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 khi được xác
định việc nghiên cứu khai thác sử dụng án lệ là một trong những giải pháp
hoàn thiện hệ thống pháp luật. Tiếp đến, Nghị quyết số 49/NQ-TW về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với quy định về nhiệm vụ tổng kết xét xử
và phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, án lệ chỉ thực sự
được coi là nguồn luật chính thức ở Việt Nam tính từ ngày 28 tháng 10 năm
2015, khi Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết
số 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ. Sau
đó, Ngày 06 tháng 4 năm 2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban

18

Dương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Thúy, “Vấn đề áp dụng án lệ ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (5/2009),
Tr.39

14


hành Quyết định số 220/ QĐ-CA quyết định về việc công bố án lệ, trong đó
bao gồm 06 án lệ đang có hiệu lực của nước ta hiện nay.
Về thuật ngữ án lệ ở Việt Nam hiện nay cũng có rất nhiều cách định
nghĩa khác nhau:
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam19 thì án lệ được hiểu là quyết định
hoặc bản án của tòa cấp trên có giá trị bắt buộc đối với tòa án cấp dưới.
Theo Từ điển Luật học20 thì án lệ được hiểu là: “Bản án đã tuyên hoặc



Một là, án lệ được tiếp cận trên bình diện là một loại nguồn của pháp
luật, là nơi chứa đựng, cung cấp các căn cứ pháp lý cho các chủ thể thực hiện
hành vi thực tế. Với các tiếp cận này, án lệ được hiểu là những các bản án,
quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật có chứa đựng các lập luận
nhằm giải quyết một vấn đề pháp luật mới hoặc giải thích vấn đề pháp luật
còn đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, được tòa án vận dụng để giải
quyết các vụ việc sau đó có tính chất tương tự.
Hai là, án lệ được tiếp cận trên bình diện là một dạng quy tắc, khuôn
mẫu để các chủ thể theo đó thực hiện hành vi thực tế của mình. Vơi cách tiếp
cận này thì án lệ được hiểu là những lập luận, những phán quyết được chứa
đựng trong các bản án, quyết định của tòa án. Chúng có thể được coi là
những quy tắc, những khuôn mẫu cho Tòa án áp dụng để giải quyết các vụ
việc tương tự.
Khi tìm hiểu về án lệ dưới góc độ của lý luận chung về nhà nước vầ
pháp luật thì án lệ cần thiết phải được hiểu theo cả hai bình diện này, đó là
tiếp cận án lệ như một loại nguồn của pháp luật và song song với đó là tiếp
cận án lệ như một dạng quy tắc xử sự, tạm gọi là qui tắc án lệ - một dạng quy
phạm pháp luật. Bởi vậy, trong phạm vi luận văn này, tác giả cũng tiếp cận án
lệ dưới hai góc độ nêu trên.
Với cách hiểu về án lệ dưới góc độ là một loại nguồn của pháp luật như
trên, có thể chỉ ra một số những đặc điểm của án lệ so với các loại nguồn khác
là:
Trước hết, án lệ là bản án, quyết định của Tòa án, tuy nhiên án lệ không
phải là mọi bản án, quyết định của tòa án mà khi nhắc tới án lệ là nhắc tới
những bản án, quyết định có chứa đựng trong đó các nguyên tắc, lập luận,
phán quyết được Tòa án áp dụng trong việc giải quyết vấn đề pháp luật.
Những lập luận đó phải là lập luận để giải thích cho những vấn đề pháp luật
còn nhiều cách hiểu khác nhau, có nhiều cách giải quyết, áp dụng khác nhau

dụng pháp luật tương tự là trường hợp có vụ việc xẩy ra trong cuộc sống cần
22

ThS.Trương Hòa Bình (chủ nhiệm để tài), Triển khai án lệ vào thực tiễn công tác xét xử của tòa án Việt
Nam, Đề tài nghiên cứu cấp bộ năm 2015, Hà Nội, Tr.14.

17


được giải quyết bằng các thủ tục pháp lý, tuy nhiên do không có qui phạm
pháp luật (thành văn) đã dự liệu cho nó, do đó phải giải quyết vụ viêc đó bằng
cách áp dụng qui phạm pháp luật (thành văn) đã được dự liệu cho vụ việc
khác tương tự với nó hoặc áp dụng những nguyên tắc chung của pháp luật,
đường lối chính trị của lực lượng cầm quyền, quan niệm đạo đức xã hội… Về
mặt lý luận, khi đã coi án lệ là một loại nguồn của pháp luật thì cần phải
thống nhất rằng, việc tòa án áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc khác có
tính chất tương tự là áp dụng pháp luật chứ không phải áp dụng pháp luật
tương tự. Lý thuyết áp dụng pháp luật tương tự được xây dựng trên cơ sở không
thừa thận các loại nguồn pháp luật khác ngoài văn bản qui phạm pháp luật.
Cần phân biệt án lệ với một số khái niệm khác như tiền lệ, tiền lệ pháp,
án mẫu…
Thứ nhất, án lệ với tiền lệ:
“Tiền lệ” là việc xảy ra từ trước, tạo thành lệ cho những việc về sau23.
Như vậy, nội hàm khái niệm tiền lệ rộng hơn so với án lệ, bởi “tiền lệ” tồn tại
trong mọi lĩnh vực của đời sống, trong khi đó, án lệ có phạm vi hẹp hơn, trong
mối tương quan với tiền lệ thì có thể hiểu, án lệ là những tiền lệ của tòa án,
tiền lệ được tạo ra bởi tòa án.
Thứ hai, án lệ và tiền lệ pháp:
Trong thực tế có rất nhiều nhà nghiên cứu sử dụng khái niệm án lệ
mang nghĩa rộng như khái niệm tiền lệ pháp, ngược lại nhiều tác giả khác lại

Trong xã hội hiện đại, nhìn chung các quốc gia trên thế giới thường chỉ
thừa nhận tiền lệ pháp do tòa án tạo ra, vì vậy ngày nay tiền lệ pháp thường
được sử dụng đồng nhất với án lệ.
Thứ ba, án lệ và án mẫu:
Mặc dù trong khoa học pháp lý ở Việt Nam hiện nay, khái niệm “án
mẫu” hầu như rất ít được đề cập, song trên thực tế có rất nhiều người sử dụng
thuật ngữ này và hiểu chúng đồng nhất với khái niệm “án lệ”.
Thuật ngữ “án mẫu” có thể hiểu một cách chung nhất là những bản án
mẫu mực, được xây dựng trên những cơ sở pháp luật hết sức vững chắc mà
trong những tình huống như vậy, khó có thể đưa ra phán quyết khác. Do đó,
khi có những tình huống tương tự thì tòa án phải đưa ra các phán quyết tương
tự25. Như thế, có thể thấy rằng án lệ và án mẫu đều là những bản án, những
quyết định của Tòa án có tính chuẩn mực và được lấy “làm mẫu” để các tòa
án tham khảo khi xét xử các vụ việc về sau có tính chất tương tự. Tức trong
các điều kiện tương tự thì tòa án đều phải ra những phán quyết chung được
25

ThS.Cao Việt Thăng (2011), “Án lệ và án mẫu – Những khả năng áp dụng ở nước ta hiện nay”, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, (195), Tháng 5/2011.

19


coi là chuẩn mực và các phán quyết đó được thừa nhận như những giá trị bắt
buộc chung. Đây chính là điểm dễ dẫn đến sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm này.
Điểm khác biệt căn bản nhất giữa án lệ và án mẫu đó là: án lệ là một
trường hợp tòa án sáng tạo pháp luật (đối với các vấn đề pháp luật mới) hay
giải thích pháp luật (đối với những vấn đề pháp luật đã được quy định nhưng
chưa rõ ràng, còn nhiều cách hiểu không đồng nhất) thì án mẫu được hình
thành trong trường hợp pháp luật đã hết sức rõ ràng, khó có thể hiểu khác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status