BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN NGỌC TRÂM
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN NGỌC TRÂM
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
riêng và các học viên khác nói chung những kiến thức, kinh nghiệm cần thiết
và quý báu.
Cuối cùng, học viên xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ học viên trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 12 tháng 07 năm 2016.
Học viên
Nguyễn Ngọc Trâm
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .............................................................................. 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ............................................... 4
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn .................................................................. 4
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn ..................................................................... 4
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn .............................................. 4
4.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn.................................................................... 4
4.2. Nhiệm vụ của luận văn...................................................................................... 5
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu .............................................. 5
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn........................................ 6
7. Bố cục của luận văn ........................................................................................... 7
Chương 1................................................................................................................ 8
LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ
Ở NƯỚC NGOÀI SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM .............................................. 8
1.1. Lý luận về người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam 8
1.1.1. Khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài .......................................... 8
1.1.2. Nguồn gốc hình thành cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài ..... 10
2.3.1. Các quy định của pháp luật về quyền chung của người Việt Nam định cư ở
nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam ....................................................................... 49
2.3.2. Các quy định của pháp luật về nghĩa vụ chung của người Việt Nam định cư ở
nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam ....................................................................... 53
2.4. Các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam
định cư ở nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam ..... 55
2.4.1. Quy định trong trường hợp giao đất có thu tiền sử dụng đất ........................ 56
2.4.2. Quy định trong trường hợp cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm............ 57
2.4.3. Quy định trong trường hợp cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời
gian thuê ............................................................................................................... 58
2.4.4. Quy định trong trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất 59
2.5. Các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam
định cư ở nước ngoài sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghệ, khu
chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế ........................................................... 60
2.5.1. Quy định trong trường hợp được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất .. 61
2.5.2. Quy định trong trường hợp thuê đất, thuê lại đất ......................................... 62
2.6. Các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam
định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; người Việt Nam định
cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng
đất ở tại Việt Nam ............................................................................................... 64
2.6.1. Quy định trong trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở
hữu nhà ở tại Việt Nam .......................................................................................... 64
2.6.2. Quy định trong trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài không
thuộc đối tượng mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam............ 66
2.7. Các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam
định cư ở nước ngoài thuê đất để xây dựng công trình ngầm ........................... 69
2.7.1. Quy định trong trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian
thuê ....................................................................................................................... 70
nước ngoài đã góp phần tạo ra những thay đổi to lớn của nền kinh tế quốc
dân. Nhà nước ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của người Việt Nam
định cư ở nước ngoài và từng bước trao cho họ những quyền và nghĩa vụ cơ
bản như một công dân Việt Nam trong quá trình sử dụng đất ở Việt Nam.
Những chế độ, chính sách này đã được thể chế hóa trong quy định của pháp
luật từ những năm 1993 và một loạt những văn bản pháp luật khác có liên
quan.
Mặc dù các chính sách và pháp luật đất đai trong lĩnh vực quyền và
nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã có rất nhiều những
bước tiến so với những ngày đầu hình thành. Từ việc quy định cho họ chỉ có
quyền được thuê đất ở Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư theo trong quy
định của pháp luật đất đai năm 1993. Đến nay, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài đã có thể thực hiện rất nhiều quyền khác và tiến tới bình đẳng với
các chủ thể sử dụng đất khác trong nước. Nhưng thực tế phát triển của đất
nước cho thấy vẫn còn có những thiếu sót trong việc đảm bảo cho người Việt
Nam định cư ở nước ngoài được thực hiện đầy đủ các quyền cũng như nghĩa
vụ của mình trong các giao dịch đất đai là rất có ý nghĩa.
2
Có thể thấy, việc xây dựng được các cơ sở pháp lý bảo đảm thực hiện
tốt các quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng
đất ở Việt Nam trong nền kinh tế hội nhập như hiện nay đòi hỏi phải có sự
nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về việc người
Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam. Trên cơ sở đó đề
xuất những giải pháp nhằm khác phục những bất cập, tồn tại cũng như đẩy
mạnh, phát huy những điểm hợp lý trong lĩnh vực này, đảm bảo quyền và lợi
ích hợp pháp của nhóm đối tượng này. Qua đó tạo động lực lòng tin và tiếp
tục thu hút nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài về
Nam.
- Khóa luận tốt nghiệp của Lưu Công Thành (2012), Hoàn thiện pháp
luật về quyền của tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam.
- Khóa luận tốt nghiệp của Lê Hưng Tứ (2016), Pháp luật về quyền của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
- Khóa luận tốt nghiệp của Trần Thị Ngọc Ánh (2016), Pháp luật về
quyền của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam để
thực hiện các dự án đầu tư.
- Chuyên đề 11 của Đề tài khoa học cấp trường của Đỗ Xuân Trọng,
Hoàn thiện pháp luật về quyền dân sự về nhà ở của tổ chức, cá nhân, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài khi được phép mua nhà ở tại Việt Nam.
Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu nêu trên đã góp
phần tạo ra những cơ sở lý luận và chỉ ra được những vấn đề thực tiễn cho
việc quy định về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước
ngoài sử dụng đất ở Việt Nam. Nhưng mỗi một công trình nghiên cứu lại
được thực hiện ở các giai đoạn khác nhau cũng như trên các khía cạnh khác
nhau và chủ yếu nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định
cư ở nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư ở Việt Nam – một
mảng trong tổng thể quyền và nghĩa vụ của họ khi sử dụng đất ở Việt Nam.
Một số công trình khác tuy đã trực tiếp nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi sử dụng đất ở Việt Nam nhưng lại
trước thời điểm Luật Đất đai Việt Nam năm 2013 ra đời nên đến thời điểm
hiện tại không còn phù hợp. Bởi vậy việc nghiên cứu pháp luật về quyền và
nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam
4
vào thời điểm này được xem là một công việc có ý nghĩa cấp bách khi Việt
5
quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở
Việt Nam, việc nghiên cứu đề tài của luận văn nhằm các mục đích sau đây:
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền và nghĩa vụ của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài với tư cách là một chủ thể sử dụng đất
ở Việt Nam.
- Làm rõ thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt
Nam định cư ở nước ngoài cũng như thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ
của họ trong hoạt động sử dụng đất ở Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền và
nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, đáp ứng có hiệu quả các
yêu cầu do thực tế cuộc sống đặt ra và phù hợp với xu thế chung của thế giới.
4.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích nghiên cứu kể trên, đề tài luận văn có nhiệm vụ
sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về người Việt Nam định cư ở nước
ngoài với tư cách là một chủ thể đặc biệt nhưng lại bình đẳng với các chủ thể
khác trong nước về hoạt động sử dụng đất; cơ sở lý luận của việc quy định
quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong lĩnh vực
này.
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng quyền và nghĩa
vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, các quy định pháp luật có liên
quan để làm rõ cơ sở thực tiễn của việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp
luật về lĩnh vực này.
- Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật đất đai nói
chung và các quy định về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở
nước ngoài nói riêng trên định hướng xóa bỏ sự phân biệt giữa người Việt
Nam định cư ở nước ngoài và người Việt Nam ở trong nước khi sử dụng đất.
nhóm đối tượng này. Bên cạnh đó, luận văn cũng trình bày được quá trình
hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam.
- Luận văn đã tổng hợp, thống kê được các quy định của pháp luật về
quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở
Việt Nam, trên cơ sở đó chỉ ra được những điểm hợp lý cũng như những hạn
chế, bất cập của pháp luật hiện hành có liên quan đến lĩnh vực này; đồng thời
khẳng định nhu cầu cấp bách của việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho sự
7
phát triển của hoạt động đầu tư của người Việt Nam định cư ở nước ngoài về
Việt Nam.
- Luận văn đã đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các
quy định về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
trong hoạt động sử dụng đất trước bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta và xu thế hội nhập thế giới.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của người Việt
Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam.
- Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền và
nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam.
8
định số 51/1999/NĐ-CP ngày 08/07/1999 quy định chi tiết thi hành Luật
khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) quy định tại khoản 1 Điều 3:
9
“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư theo Luật khuyến khích đầu tư
trong nước bao gồm người có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam cư
trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.”.
Có thể thấy các định nghĩa trên mới chỉ đề cập đến người Việt Nam
định cư ở nước ngoài bao gồm: người có quốc tịch Việt Nam nhưng sinh sống
ở nước ngoài và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước
ngoài, chứ chưa phân biệt được rõ định nghĩa về “người Việt Nam định cư ở
nước ngoài” và định nghĩa về “người Việt Nam ở nước ngoài”. Cho đến Luật
Quốc tịch năm 1998 thay thế cho Luật Quốc tịch năm 1988 thì định nghĩa về
những chủ thể này đã được đưa ra, cụ thể tại khoản 3 và khoản 4 Điều 2:
“- Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc
Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài.
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người
gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.”.
Như vậy, theo quy định của Luật Quốc tịch năm 1998 thì để xác định
một người là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hay người Việt Nam ở
nước ngoài căn cứ vào việc người này cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước
ngoài hay chỉ là đang thường trú, tạm trú ở nước ngoài. Trong pháp luật đất
đai, khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhắc tới tại Điều 2
Nghị định số 81/2001/NĐ-CP ngày 05/11/2001 của Chính phủ v/v người Việt
Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở Việt Nam: “Người Việt Nam định cư ở
nước ngoài quy định tại Nghị định này là công dân Việt Nam và người gốc
Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài đã được quy định tại
Luật Quốc tịch Việt Nam ngày 01/01/1999”, những người này về đầu tư, hoạt
cư ở nước ngoài. Có thể thấy, định nghĩa về người Việt Nam định cư ở nước
ngoài được hiểu rất rộng, một mặt thể hiện sự quan tâm của Nhà nước ta đối
với cộng đồng bà con xa Tổ quốc, mặt khác cũng nhằm mở rộng thu hút đầu
tư của họ đối với quê hương.
1.1.2. Nguồn gốc hình thành cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước
ngoài1
Năm 1954, Hiệp định Genevơ được ký kết nhằm giúp chấm dứt chiến
tranh tại Việt Nam và cả Đông Dương, chấm dứt sự hiện diện của quân đổi
Pháp và chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Một trong những nội dung
thỏa thuận trong Hiệp định Genevơ đã tạm thời phân chia đất nước thành hai
1
Andrew T. Pham (2010), “The Returning Diaspora: Analyzing oversea Vietnamese (Viet Kieu)
Contributions toward Vietnam’s Economic Growth”, Depocen.
11
miền Bắc – Nam, lấy ranh giới là vĩ tuyến mười bảy. Tại thời điểm đó, chính
quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tập trung về miền Bắc Việt
Nam, chính quyền và quân đổi khối Liên hiệp Pháp tập trung về miền Nam
Việt Nam (sau này lấy tên là Chính phủ Việt Nam Cộng hòa). Ngay sau thời
khắc chia Việt Nam ra làm hai vùng tập trung quân sự, một cuộc di cư lớn của
gần 900.000 người dân miền Bắc, đa số là người Công giáo, đã vào miền
Nam với niềm tin tôn giáo của họ.
Từ năm 1955 đến năm 1975, chính quyền ở miền Nam Việt Nam đã cố
gắng xây dựng một nhà nước mới từ sự viện trợ chủ yếu là của Hoa Kỳ và cả
của Pháp. Trong giai đoạn này, mọi mặt kinh tế, chính trị và xã hội của người
dân đều chịu ảnh hưởng từ các nước phương Tây này làm cho sự khác biệt
giữa miền Bắc và miền Nam càng lớn. Và đến tháng 04/1975, chương trình
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Đồng bào định cư ở nước
ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc
Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu
nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước. Nhà nước tạo điều kiện thuận
lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, chấp hành tốt pháp luật nước sở
tại; bảo vệ quyền lợi chính đáng của đồng bào. Làm tốt công tác thông tin
trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài về tình hình trong
nước và các chủ trương, chính sách của Nhà nước. Có chính sách khuyến
khích người Việt Nam, trí thức Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương,
góp phần xây dựng đất nước; khen thưởng nhiều người có thành tích đóng
góp cho Tổ quốc”2. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 cũng ghi nhận tại Điều
18: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của
cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ qan hệ gắn bó với gia
đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương.”. Luật Quốc tịch năm
2014 cũng đã quy định rõ tại Điều 7: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người gốc
Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê
hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước…”.
2
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tại Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng.
13
Với những chủ trương, chính sách ngày càng mở rộng của Nhà nước, tư
Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao (2011), Báo cáo tổng quan về tình hình di cư của công dân Việt Nam ra nước
ngoài.
14
Theo số liệu của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài,
tại thời điểm năm 2010 có trên 3.200 dự án của cộng đồng người Việt Nam
định cư ở nước ngoài với số vốn lên đến 5,7 tỷ USD đang được đầu tư tại Việt
Nam, trong đó khoảng 60% số dự án hoạt động có hiệu quả. Một báo cáo của
Ngân hàng Thế giới năm 2010 đã xếp Việt Nam ở vị trí thứ 16 trong số 20
quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất thế giới năm 2010, mức kiều hối được đánh
giá là rất đáng kể so với các nguồn vốn khác (lượng vốn đầu tư từ kiều hối
năm 2010 là 8,26 tỷ USD; vốn từ đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là 9,6 tỷ
USD; vốn từ hỗ trợ phát triển chính thức ODA là 2,6 tỷ USD). Lượng kiều
hối gửi về Việt Nam mỗi năm tăng trung bình 10-15%/năm, từ mức 1,34 tỷ
USD năm 2000 tăng lên đến 13,2 tỷ USD năm 20154. Nguồn tài chính này
chủ yếu đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, bù đắp vào thâm hụt cán cân thương
mại, giúp giảm thiểu rủi ro trong việc huy động vốn, góp phần giải quyết việc
làm cho người lao động.
Dòng vốn kiều hối giai đoạn 2000 - 2015
14
12
(Tỷ USD)
10
8
6
4
2
bình mỗi năm có khoảng 300 chuyên gia, trí thức về nước hợp tác, đóng góp
chuyên môn chủ yếu trên các lĩnh vực; tư vấn trong hoạch định chính sách
phát triển đất nước, nhất là trong các ngành kinh tế, khoa học, chuyển giao
công nghệ, giáo dục, đào tạo; làm cầu nối hợp tác, tìm kiếm nguồn đầu tư
quốc tế cho lĩnh vực khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực trong
nước…6 Đến nay thì số lượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài về Việt
Nam chung tay xây dựng đất nước vẫn ngày càng tăng.
Như vậy, có thể thấy cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài
có những đóng góp rất quan trọng vào sự nghiệp phát triển đất nước vì mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn mình”.
6
Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao (2011), Báo cáo tổng quan về tình hình di cư của công dân Việt Nam ra nước
ngoài.
16
1.2. Lý luận pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư
ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam
1.2.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng pháp luật về quyền và
nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt
Nam
Theo quy định của pháp luật hiện hành, Luật Đất đai năm 2013 ghi
nhận các chủ thể là người sử dụng đất ở Việt Nam tại Điều 5, các chủ thể này
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận
chuyển quyền sử dụng đất. Và người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo
quy định của pháp luật về quốc tịch cũng là một trong số những chủ thể được
Nhà nước công nhận là người sử dụng đất (khoản 6 Điều 5 Luật Đất đai năm
để đưa đất nước đi lên là một nhu cầu bức thiết đối với từng công dân. Vì vậy
mà Nhà nước ta đã liên tục có những chính sách mới, mở rộng hành lang pháp
lý nhằm khuyến khích người Việt Nam định cư ở nước ngoài về quê hương,
đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước. Và việc quy định các vấn đề
pháp lý đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt
Nam là một trong những chính sách cần thiết để họ có thể chung tay xây dựng
đất nước.
- Thứ hai, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và chủ động từng bước
hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu của Nhà nước ta.
Trong đường lối của Đảng và Nhà nước ta từ những năm đổi mới đã
xác định nền kinh tế nước ta là nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Nghị quyết 21-NQ/TW năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương v/v
tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã
khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
là một nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa chịu sự
chi phối bởi các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội và các yếu tố bảo đảm
tính định hướng xã hội chủ nghĩa”. Công cuộc đổi mới hiện nay yêu cầu phải
hoàn thiện về thể chế này mà trước hết phải hình thành được các thị trường
mang tính “đầu vào” của hoạt động sản xuất – kinh doanh; đó là thị trường
vốn, thị trường lao động, thị trường bất động sản và thị trường khoa học công
nghệ. Đối với các thị trường vốn, thị trường lao động và thị trường khoa học
công nghệ, nước ta đã có nhiều đổi mới, giao lưu với các nước trên thế giới để
phát triển những thị trường này. Tuy nhiên, với đặc thù là đất đai thuộc sở
7
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội, tr. 41.
18
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia,
tr. 83, 84.
9
Đặng Thị Hằng (2010), Những vấn đề pháp lý về sử dụng đất của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại
Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 15.