BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HÀ ANH THƯ
THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT
CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HÀ ANH THƯ
THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT
CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
quả thu được không chỉ do nỗ lực của cá nhân tôi mà còn có sự giúp đỡ của quý
thầy cô, gia đình và bạn bè.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Vũ Thị Hồng Vân, là
người đã dẫn dắt, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận
văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Luật Hà Nội đã quan tâm,
tạo điều kiện; cung cấp cho tôi những tư liệu quan trọng, cần thiết phục vụ cho việc
nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè – những người đã luôn
ở bên cạnh động viên, giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập để tôi luôn
vững tin và nỗ lực hoàn thành luận văn.
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLTTDS:
Bộ luật tố tụng dân sự
BLDS:
Bộ luật dân sự
Công ty TNHH:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Nghị định 78/NĐ-CP:
Nghị định 78/NĐ-CP ngày ngày 14 tháng 09 năm
2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp
Sở hữu trí tuệ:
SHTT
TAND:
Tòa án nhân dân
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ...................................................................................................................................... 1
PHẦN NỘI DUNG ................................................................................................................................. 7
CHƯƠNG 1 ............................................................................................................ 7
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM QUYỀN CỦA TOÀ ÁN TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI.......................... 7
1.1. Khái niệm về tranh chấp kinh doanh, thương mại và thẩm quyền của Tòa án
trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ............................................ 7
1.1.1. Khái niệm về tranh chấp kinh doanh, thương mại ................................ 7
1.1.2. Khái niệm về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ................ 9
1.1.3. Khái niệm về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại ............................................................................... 11
1.2. Căn cứ để phân định thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh
chấp kinh doanh, thương mại ................................................................................... 13
1.2.1. Căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về hoạt động
tư pháp ........................................................................................................ 13
1.2.2. Căn cứ vào các nguyên tắc hoạt động và cơ cấu tổ chức của hệ thống
Toà án ......................................................................................................... 15
1.2.3. Căn cứ vào những đòi hỏi khách quan của thực tiễn giải quyết tranh
chấp kinh doanh ......................................................................................... 16
3.1. Thực trạng áp dụng pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết
các tranh chấp kinh doanh, thương mại ..................................................................... 60
3.1.1. Số liệu về tình hình thụ lý, giải quyết các tranh chấp kinh doanh,
thương mại của Toà án ................................................................................ 60
3.1.2. Những kết quả đã đạt được ................................................................. 63
3.1.3. Những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân ...................................... 64
3.2. Một số giải pháp nhằm triển khai có hiệu quả các quy định pháp luật về
thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
...................................................................................................................................... 75
3.2.1. Giải pháp về pháp luật ........................................................................ 75
3.2.2. Giải pháp liên quan đến tổ chức thực hiện .......................................... 80
PHẦN KẾT LUẬN ............................................................................................................................. 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm trở lại đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nền
kinh tế nước ta đang trên đà phát triển và đã đạt được những thành công nhất định.
Đặc biệt không thể không nhắc đến sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại
quốc tế WTO, đây có thể coi là một bước ngoặt lớn của nền kinh tế nước nhà, tác
động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh, thương mại. Cụ thể, các hoạt động kinh
doanh, thương mại diễn ra đa dạng, phức tạp hơn, phủ rộng trên nhiều lĩnh vực, tính
cạnh tranh cao hơn, những điều này không khỏi kéo theo sự gia tăng đáng kể số
lượng các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại. Có những biện pháp
giải quyết tranh chấp mà các bên khi tiến hành các hoạt động kinh doanh thương mại
có nhiều quy định của BLTTDS đã bộc lộ những hạn chế, bất cập không đáp ứng đầy
đủ nhu cầu của người dân trong việc giải quyết các tranh chấp nảy sinh trong quan hệ
dân sự nói chung cũng như trong hoạt động kinh doanh thương mại nói riêng. Và Bộ
luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015 và có hiệu lực vào ngày
01/07/2016 (BLTTDS 2015) ra đời như một kết quả tất yếu.
BLTTDS 2015 ra đời chứa đựng nhiều nội dung mới so với Bộ luật cũ, ví dụ
như Bộ luật đã đưa ra quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì
lý do chưa có điều luật để áp dụng; cho phép Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết vụ
việc dân sự, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy
định; không chỉ có vậy, BLTTDS 2015 còn đưa ra nhiều nội dung mới liên quan đến
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong quá trình tham gia thủ tục tố
tụng dân sự (như vị trí, vai trò của Viện kiểm sát; việc tham gia các phiên toà, phiên
họp; việc phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa, phiên họp sơ thẩm;
quy định về thẩm quyền xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của Viện kiểm sát; quy
định về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân…) cùng rất nhiều nội dung mới khác. Một trong những điểm
mới nổi bật của BLTTDS 2015 không thể không nhắc đến đó là các quy định về thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của Toà án. Đây là một vấn đề
được nhận được sự quan tâm rất lớn từ phía Toà án cũng như các chủ thể hoạt động
kinh doanh thương mại bởi lẽ xác định được đúng thẩm quyền của mình, Toà án mới có
thể thụ lý đơn của đương sự, cũng từ đó tranh chấp, yêu cầu mới được giải quyết tiếp
tục theo thủ tục tố tụng dân sự một cách kịp thời, có hiệu quả. Xuất phát từ thực tế nêu
trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết
tranh các tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật hiện hành” làm luận
văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học của mình.
3
các tác giả đều áp dụng đối với BLTTDS 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011.
Nhưng việc nghiên cứu thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của
4
Toà án, tiếp cận từ các quy định mới của BLTTDS 2015 thì chúng tôi chưa thấy có
công trình nghiên cứu nào được công bố.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành (của BLTTDS
2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 và của BLTTDS 2015 có hiệu lực vào ngày
01/07/2016) về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp kinh
doanh, thương mại.
* Phạm vi nghiên cứu
- Thứ nhất, về lý luận, luận văn sẽ nghiên cứu các vấn đề chung về thẩm
quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Toà án như khái niệm, đặc
điểm, các căn cứ để phân định thẩm quyền, v…v.
- Thứ hai, về thực trạng pháp luật, luận văn nghiên cứu các quy định pháp
luật về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh,
thương mại theo BLTTDS 2015 trong quan hệ so sánh với các quy định của
BLTTDS 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011
- Thứ ba, về thực trạng thực hiện quy định pháp luật, luận văn sẽ đánh giá
thực tiễn thi hành pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các
tranh chấp kinh doanh, thương mại theo BLTTDS 2004 được sửa đổi, bổ sung
năm 2011, do BLTTDS 2015 hiện chưa có hiệu lực thi hành. Bên cạnh đó, khi
đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật theo BLTTDS 2004 được sửa đổi, bổ sung
năm 2011, chúng tôi cũng sẽ đối chiếu với quy định pháp luật của BLTTDS
2015, từ đó đánh giá những tác động của quy định pháp luật hình thành trong
thực tiễn áp dụng, đồng thời tiếp tục đóng góp ý kiến hoàn thiện các quy định
như thế nào?
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Trong luận văn của mình, chúng tôi đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp
nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp phân tích (để làm rõ các quy
định mới của BLTTDS về thẩm quyền của Toà án), phương pháp so sánh (để đối
chiếu các quy định mới với quy định cũ về thẩm quyền của Toà án từ đó đánh giá
xem các quy định mới có những điểm tiến bộ nào, còn những vấn đề gì chưa được
khắc phục) và phương pháp xã hội học như lấy số liệu, sử dụng các kết quả thống
kê, phương pháp khảo sát khi đưa ra các con số và vụ việc thực tiễn. Cuối cùng, biện
pháp tổng hợp được sử dụng để làm nổi bật rõ vấn đề.
6
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa khoa học
- Lần đầu tiên vấn đề thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
của Toà án được nghiên cứu dưới góc độ những quy định mới của BLTTDS 2015.
- Trong quá trình phân tích, đối chiếu những quy định mới của BLTTDS 2015
với BLTTDS 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 về vấn đề thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp kinh doanh, thương mại của Toà án, luận văn đưa ra những nhận xét về
mức độ hợp lý của quy định đó, đánh giá xem những quy định này đã đáp ứng được
nhu cầu thực tiễn hay chưa để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện
pháp luật (nếu cần).
* Ý nghĩa thực tiễn
- Sau khi tìm hiểu thực tiễn thi hành pháp luật về thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp kinh doanh, thương mại của Toà án, bên cạnh việc đưa ra kiến nghị nhằm
tiếp tục hoàn thiện pháp luật (nếu cần), luận văn còn đề xuất một số giải pháp để tháo
gỡ các bất cập đã và đang có khả năng gặp phải trong thực tiễn giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại tại Toà án.
kinh tế; tranh chấp thương mại; tranh chấp kinh doanh, thương mại… Nhìn chung, ở
một phương diện nào đó, các khái niệm trên có cùng nội hàm, tuy nhiên qua từng thời
kỳ, đứng trước bối cảnh kinh tế cụ thể mà các nhà làm luật lại sử dụng những thuật
ngữ khác nhau.
Theo BLTTDS 2015 thì tranh chấp kinh doanh, thương mại đã được quy định
theo hướng khái quát hóa thay vì sử dụng phương pháp liệt kê như quy định của tại
BLTTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011, cụ thể:
“1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá
nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,
tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
1
Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ đển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà nẵng, tr. 972.
8
3. Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch
về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
4. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa
công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng
quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công
ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia,
tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
5. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc
thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.”
Từ những nội dung và nhận định nêu trên, chúng tôi xin đưa ra định nghĩa:
Tranh chấp kinh doanh, thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về
của tranh chấp dân sự chủ yếu là cá nhân và pháp nhân.
Ba là, các quan hệ kinh doanh, thương mại có bản chất là các quan hệ tài sản
nên nội dung tranh chấp thường phản ánh những xung đột chủ yếu liên quan đến tài
sản, liên quan tới lợi ích kinh tế các bên.
Bốn là, do hoạt động kinh doanh, thương mại là một quá trình liên tục với
nhiều công đoạn khác nhau có mối quan hệ hữu cơ với nhau, vì vậy, các tranh chấp
kinh doanh, thương mại thường rất phức tạp và thường liên quan đến nhiều ngành
nghề, nhiều chủ thể thậm chí còn có thể ảnh hưởng đến một thị trường, một quốc gia
... mà không chỉ đơn thuần là tranh chấp giữa các chủ thể đơn lẻ như trong tranh
chấp dân sự. Các tranh chấp kinh doanh, thương mại nếu không được giải quyết một
cách triệt để, kịp thời có thể gây ra những hậu quả mang tính phản ứng dây chuyền
làm đình trệ hoạt động kinh doanh, thương mại và gây tác động xấu đến lợi ích của
các chủ thể tham gia vào thương trường.2
Tóm lại, tranh chấp kinh doanh, thương mại là tranh chấp phát sinh trong đời
sống kinh tế, xã hội, nó hội tụ đầy đủ các đặc điểm của một tranh chấp dân sự nói
chung. Tuy nhiên, tranh chấp kinh doanh thương mại là tranh chấp phát sính trong
quá trình sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh doanh khi thực hiện hoạt động
thương mại đòi hỏi phải có những phương thức giải quyết tranh chấp một cách
nhanh gọn, hiệu quả đáp ứng được nhu cầu của các chủ thể kinh doanh. Việc xác
định nội hàm của khái niệm “tranh chấp kinh doanh, thương mại” có ý nghĩa quan
trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt trong việc xác định cơ chế, thẩm
quyền, trình tự và thủ tục giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại.
1.1.2. Khái niệm về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
Về bản chất kinh tế, tranh chấp kinh doanh, thương mại chính là sự xung đột
về lợi ích của các bên khi tham gia quan hệ kinh doanh, thương mại. Khi các tranh
chấp kinh doanh, thương mại xuất hiện có nghĩa là lợi ích kinh tế của một trong các
bên đã bị xâm phạm và sự mâu thuẫn về lợi ích này làm ảnh hưởng không nhỏ đến
2
Bùi Nguyễn Phương Lê (2005), Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án theo Bộ luật Tổ
Ngoài ra, nguyên tắc xét xử công khai của toà án còn có tác dụng giáo dục ý thức
chấp hành pháp luật của mọi người, đồng thời răn đe, cảnh báo những hành vi vi
phạm pháp luật.
Thứ ba, việc giải quyết tranh chấp thông qua quyết định của toà án có thể qua
nhiều cấp xét xử.
Hiện nay, hoạt động xét xử của Toà án thông qua hai cấp xét xử: sơ thẩm và
phúc thẩm. Trong một số trường hợp cụ thể, các bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật còn có thể xét xử thủ tục đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm. Nguyên
tắc nhiều cấp xét xử đảm bảo cho quyết định của Toà án được chính xác, công khai,
khách quan và đúng pháp luật.
11
Thứ tư, các phán quyết của Toà án được đảm bảo thi hành bằng chính sức
mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
Thứ năm, Toà án giải quyết các tranh chấp theo nguyên tắc xét xử tập thể và
theo nguyên tắc đa số.
Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án không chỉ góp
phần làm ổn định các quan hệ kinh tế thị trường mà còn tác động tích cực vào các
quan hệ đó, đảm bảo cho các quan hệ kinh tế này tồn tại và phát triển phù hợp với
định hướng phát triển chung của đất nước. Ngoài ra, trên thực tế, thông qua việc giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án, Nhà nước sẽ kịp thời phát hiện,
ghi nhận những khiếm khuyết, vướng mắc của các quy định pháp luật từ đó tiếp tục
sửa đổi, bổ sung, ban hành các quy định pháp luật mới nhằm hoàn thiện hệ thống
pháp luật của nước ta, tạo dựng một môi trường pháp lý ổn định cho các chủ thể
tham gia các quan hệ kinh tế.
1.1.3. Khái niệm về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại
Việc xác định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp kinh
nhau về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước.
Từ những nghiên cứu trên, thẩm quyền có thể được hiểu là “khả năng xem
xét, giải quyết một vấn đề của tổ chức, cá nhân trong phạm vi pháp luật quy định
của pháp luật”.
Khoản 3, Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định “Quyền lực nhà nước là thống
nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Trong đó, Tòa án là cơ quan
thực hiện quyền tư pháp. Căn cứ vào Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 thì
tòa án có chức năng chính là xét xử. Như vậy, Tòa án thực hiện thẩm quyền của
mình trong xét xử các vụ án vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định
của pháp luật; để bảo vệ pháp luật, đảm bảo sự công bằng xã hội. Thuật ngữ “thẩm
quyền” lúc này không những chỉ ra phạm vi, ranh giới hoạt động của Tòa án mà còn
giúp phân biệt chức năng của Tòa án với các cơ quan nhà nước khác.
Đề cập tới thẩm quyền của Tòa án, tác giả Nguyễn Đức Mai cho rằng “Thẩm
quyền của tòa án là một thể thống nhất bao gồm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với
nhau đó là thẩm quyền hình thức và thẩm quyền về nội dung. Thẩm quyền về hình
thức thể hiện ở quyền hạn xem xét và phạm vi xem xét của Tòa án (thẩm quyền xét
xử và phạm vi xét xử) còn thẩm quyền về nội dung thể hiện ở quyền hạn giải quyết,
quyết định của Tòa án đối với những vấn đề được xem xét”6.
5
Nguyễn Thanh Bình (2001), “Khái niệm thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các khiếu
kiện hành chính của công dân”, Luật học, (04), tr. 3-8.
6
Nguyễn Đức Mai (1993), Về thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm”, Toà án nhân dân, (01), tr 8.
13
7
Nguyễn Thanh Bình (2001), “Khái niệm thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các khiếu
kiện hành chính của công dân”, Luật học, (04), tr. 3-8.
14
Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu
cầu khách quan đặt ra là phải tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, điều chỉnh phạm
vi nội dung và phương thức hoạt động của Nhà nước cho phù hợp. Trong cải cách
bộ máy nhà nước, cải cách tư pháp có vị trí rất quan trọng. Bởi vì, các cơ quan tư
pháp là công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước để thực hiện quyền làm chủ của
nhân dân, bảo vệ nhân dân, các quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của người
dân, bảo đảm kỷ cương xã hội. Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết 49-NQ/TW) đã
chỉ rõ “Cải cách tư pháp phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, … kế
thừa truyền thống pháp lý dân tộc, những thành tựu đã đạt được của nền tư pháp xã
hội chủ nghĩa Việt Nam: tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài
phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế; đáp ứng được
xu thế phát triển của xã hội trong tương lai…”
Trong hệ thống cơ quan tư pháp của Việt Nam thì Toà án là cơ quan thực
hiện quyền tư pháp chủ yếu, với chức năng chính là xét xử các vụ án mà pháp luật
quy định. Đường lối cải cách tư pháp nói trên có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn
thiện pháp luật, đặc biệt là những quy định về việc phân định thẩm quyền của Toà
án. Bởi vì các quy định này nếu được quy định rõ ràng, minh bạch sẽ giúp các Toà
án thực hiện nhiệm vụ, chức năng của mình một cách chính xác, hiệu quả, đảm bảo
quyền và lợi ích của nhân dân.
Một trong những nội dung cơ bản mà Nghị quyết số 49 đã đề ra, đó là: “Tổ
chức Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm:
tổ chức, điều này tác động không nhỏ đến sự phân định thẩm quyền giải quyết tranh
chấp kinh doanh, thương mại của Toà án. Những đặc thù đó là:
Trước hết, nguyên tắc hai cấp xét xử của Toà án là cơ sở quan trọng để phân
định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh. Theo nguyên tắc này, một vụ
án có thể bị xét xử theo hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm và có thể có một thủ tục đặc
biệt là thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Nguyên tắc này bảo đảm việc xét xử
của Toà án đúng đắn, khách quan, toàn diện hơn đồng thời bảo vệ tốt hơn lợi ích
hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên do mỗi cấp xét xử không được tổ chức tương ứng
với mỗi cấp Toà án nên pháp luật lại phải có nhiệm vụ phân định thẩm quyền cho
phù hợp.
Điều 3 Luật Tổ chức TAND năm 2014 quy định về tổ chức TAND bao gồm:
TAND tối cao; TAND cấp cao; TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
8
Ban chấp hành Trung ương (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020
16
TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (và tương đương) và Tòa án quân
sự. Như vậy, Tòa án được tổ chức trong một hệ thống thống nhất là hệ thống TAND,
gồm các TAND và các Tòa án quân sự. Trong hệ thống TAND của Việt Nam, chỉ có
TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự, quy
định này đã đặt ra cho pháp luật tố tụng nhiệm vụ quy định những vụ án nào thuộc
thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện và vụ án nào do TAND cấp tỉnh
giải quyết.
Mặt khác, theo quy định tại Điều 27, Điều 30, Điều 38, Điều 45 Luật tổ chức
TAND năm 2014 thì với mỗi cấp Toà án khác nhau lại được tổ chức thành các Toà
chuyên trách. Các toà chuyên trách này lại có thẩm quyền xử lý các loại vụ việc cụ thể.
thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định của luật tố tụng; trong khi để đủ tiêu
chuẩn làm Thẩm phán trung cấp thì người đó phải có thời gian làm công tác pháp
luật từ 13 năm trở lên hoặc đã là thẩm phán sơ cấp từ đủ 5 năm trở lên; để dủ tiêu
chuẩn làm Thẩm phán cao cấp thì người đó phải có thời gian làm công tác pháp luật
từ 18 năm trở lên hoặc đã là thẩm phán trung cấp từ đủ 5 năm trở lên… Như vậy, có
thể thấy Thẩm phán ở tòa cấp tỉnh có ngạch cao hơn so với Thẩm phán ở tòa cấp
huyện. Bên cạnh đó, thực tiễn công tác xét xử cho thấy, đối với những tranh chấp
kinh doanh, thương mại có tính chất phức tạp, đặc thù ví dụ như tranh chấp liên
quan đến quyền sở hữu trí tuệ hoặc công ty với các thành viên trong công ty…thì
thường được giải quyết bởi Thẩm phán là những người có nhiều kinh nghiệm xét xử
cũng như chuyên môn sâu trong các lĩnh vực tương ứng.
Do đó, năng lực giải quyết tranh chấp kinh doanh của Toà án luôn là một căn
cứ quan trọng để phân định thẩm quyền cho Toà án các cấp.
1.2.5. Căn cứ vào tính chất xét xử
Để giải quyết một tranh chấp, pháp luật quy định nhiều thủ tục xét xử, mỗi
thủ tục xét xử lại có những yêu cầu khác nhau nên tính chất của các thủ tục xét xử
cũng khác nhau.
Trước hết là thủ tục xét xử sơ thẩm, với tính chất là xét xử lần đầu nên Toà án
cấp sơ thẩm được giải quyết các vấn đề của vụ án, xác định quyền và nghĩa vụ
đương sự làm cơ sở cho việc thi hành án. Tiếp theo là thủ tục xét xử phúc thẩm, là
việc Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Toà án cấp
sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Đối với giám đốc
thẩm, tái thẩm, là việc xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng
có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án hoặc do mới phát hiện được tình tiết
quan trọng của vụ án mà Toà án và các đương sự đã không biết được khi Toà án giái
quyết vụ án.
Như vậy, tính chất của các thủ tục xét xử do pháp luật quy định chính là cơ sở
để xác định nhiệm vụ, quyền hạn của một cấp xét xử. Hay nói một cách khác các