BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐÀO HUYỀN TRANG
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lưu Ngọc Tố Tâm
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được thực
hiện với sự hướng dẫn khoa học của giảng viên TS. Lưu Ngọc Tố Tâm.
Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa
công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây. Mọi tham khảo, số liệu trong các
bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu
thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ tên tác giả, tên công trình, thời gian công
bố trong phần tài liệu tham khảo và chú dẫn cuối trang. Ngoài ra, trong luận
văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác,
cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
về nội dung luận văn của mình.
ĐÀO HUYỀN TRANG
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT THẢI Y TẾ VÀ
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ ........................................ 7
1.1. Những vấn đề chung về chất thải y tế ..................................................... 7
1.1.1. Khái niệm chất thải y tế................................................................ 7
1.1.2. Ảnh hưởng của các loại chất thải y tế ......................................... 11
1.1.3. Hiện trạng của chất thải y tế ........................................................ 14
1.2. Những vấn đề chung về pháp luật quản lý chất thải y tế ..................... 18
1.2.1. Khái niệm pháp luật quản lý chất thải y tế ................................. 18
1.2.2. Vai trò của pháp luật trong việc quản lý chất thải y tế ............... 21
1.2.3. Nội dung của pháp luật về quản lý chất thải y tế........................ 23
1.3. Kinh nghiệm xây dựng pháp luật về quản lý chất thải y tế của một số
quốc gia trên thế giới........................................................................................... 27
1.3.1. Kinh nghiệm của Mỹ .................................................................... 27
1.3.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản ......................................................... 28
1.3.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc ..................................................... 29
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 .................................................................................. 33
CHƢƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỤ THỂ VỀ QUẢN LÝ
CHẤT THẢI Y TẾ Ở VIỆT NAM ................................................................. 34
2.1. Các quy định pháp luật cụ thể về trách nhiệm của chủ nguồn thải,
chủ thu gom, vận chuyển, chủ lƣu giữ, xử lý trong quản lý chất thải y tế . 35
2.1.1. Đối với chủ nguồn chất thải y tế................................................. 35
2.1.2. Đối với chủ thu gom, vận chuyển chất thải y tế........................ 39
2.1.3. Đối với chủ lƣu giữ, xử lý chất thải y tế .................................... 42
2.1.4. Trách nhiệm đánh giá tác động môi trƣờng của chủ các dự án
3.4.2. Cần tăng cường xã hội hóa công tác xử lý chất thải y tế ........... 84
3.4.3. Giải pháp về khoa học công nghệ................................................ 85
3.4.4. Giải pháp về hợp tác quốc tế ........................................................ 87
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 .................................................................................. 89
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 91
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 96
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý chất thải nói chung và chất thải y tế nói riêng đang là một vấn đề khá
bức xúc trong công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam hiện nay. Khi dân số Việt
Nam đang ngày càng gia tăng, kinh tế ngày càng phát triển thì những tác động tiêu
cực đến môi trường cũng ngày càng nhiều. Môi trường ô nhiễm dẫn đến gia tăng các
dịch bệnh và số người nhập viện tăng cao hằng năm từ đó dẫn đến sự quá tải trong
các bệnh viện đồng thời cũng kéo theo số lượng chất thải y tế tăng lên đáng kể. Chất
thải y tế có chứa những mầm bệnh, hóa chất và rất nhiều các nguy cơ khác gây hại
cho sức khỏe cộng đồng và môi trường sống. Nếu không được xử lý đúng cách, chất
thải y tế có thể gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng và lâu dài. Trong thời gian gần
đây, các phương tiện truyền thông cũng liên tục đưa tin về các bệnh viện gây ô nhiễm
môi trường vì xử lý chất thải không đúng cách hoặc trực tiếp xả nước thải chưa xử lý
ra môi trường, gây rất nhiều bức xúc cho dư luận như trường hợp của bệnh viện đa
khoa tư nhân Lê Ngọc Tùng, bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước... Điều này cho thấy
công tác quản lý chất thải y tế cũng chưa thực sự được quan tâm sát sao, sự phối hợp
của các cơ quan từ trung ương đến địa phương chưa đạt được hiệu quả dẫn đến các tổ
chức, cá nhân lợi dụng, vi phạm pháp luật. Hành vi vi phạm chỉ được phát hiện khi đã
gây hậu quả nghiêm trọng trong một thời gian nhất định và làm môi trường bị ô
nhiễm nặng nề.
Đề tài khoa học:
- Đề tài nghiên cứu khoa học của Bộ Y tế, “Mô tả thực trạng ô nhiễm môi
trường do chất thải y tế, các giải pháp xử lý chất thải y tế và triển khai mô hình quản
lý chất thải y tế tại bệnh viện, trung tâm y tế huyện”, do PGS.TS. Đào Ngọc Phong
(chủ nhiệm đề tài), Cơ quan chủ trì Đại học Y Hà Nội năm 2007;
Sách:
- Cù Huy Đấu – Trường Đại học kiến trúc Hà Nội, “Thực tiễn quản lý chất thải
rắn y tế ở Việt Nam” – Tuyển tập các báo cáo khoa học hội nghị môi trường Việt
Nam, Hà Nội năm 2004;
- Nguyễn Huy Nga, Tổng quan tình hình quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
- Bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế, Nxb. Y học, Hà Nội năm 2004;
Luận án, luận văn, khóa luận:
- Luận án tiến sỹ y học “Thực trạng quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện
huyện tỉnh Hải Dương” của tác giả Trần Thị Minh Tâm năm 2005;
- Luận án tiến sỹ luật học “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý chất thải
nguy hại” của tác giả Vũ Thị Duyên Thủy năm 2009;
3
- Luận văn thạc sỹ y học “Đánh giá thực trạng quản lý và ảnh hưởng của chất
thải y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ lên môi trường xung quanh” của tác giả
4
- Khóa luận tốt nghiệp “Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý rác thải và nước
thải y tế tại bệnh viện C tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Nguyễn Việt Dũng năm 2012;
- Khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam”
của tác giả Nguyễn Thị Phượng năm 2012.
Bài báo, tạp chí:
- TS. Nguyễn Văn Phương, “Chất thải và quy định quản lý chất thải”, được
đăng trên Tạp chí Luật học số 4 năm 2003;
- TS. Nguyễn Văn Phương, “Một số vấn đề về khái niệm chất thải”, được đăng
trên Tạp chí Luật học số 10 năm 2006;
Cho đến nay, chưa có một công trình nào ở tầm thạc sĩ luật học đề cập trực
tiếp tới vấn đề pháp luật về quản lý chất thải y tế ở Việt Nam. Vì vậy với đề tài “Pháp
luật về quản lý chất thải y tế ở Việt Nam”, tôi mong muốn đóng góp một phần công
sức nhỏ bé của mình vào việc hệ thống và phân tích toàn diện các vấn đề pháp lý liên
quan đến quản lý chất thải y tế trên phạm vi cả nước, đồng thời góp phần xây dựng và
hoàn thiện một số quy định pháp luật để hoạt động quản lý chất thải y tế được hiệu
quả hơn.
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống các quy định pháp luật về quản
lý chất thải y tế ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn đề cập đến các quy định pháp luật
về quản lý chất thải y tế dưới góc độ pháp luật kinh tế, với cái nhìn cụ thể của pháp
luật môi trường. Nội dung chính mà luận văn đi sâu nghiên cứu bao gồm: khái niệm,
vai trò của pháp luật về quản lý chất thải y tế; các quy định cụ thể về trách nhiệm của
các chủ thể trong việc quản lý chất thải y tế như chủ thu gom, chủ vận chuyển, chủ
lưu giữ, xử lý chất thải và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những giải pháp để
hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải y tế ở Việt Nam.
- Sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, so sánh, kết hợp lí
luận chung với thực tế;
- Thu thập tài liệu, thông tin từ sách, báo, tạp chí, những nghiên cứu khoa học
đồng thời tìm hiểu thực tế để kiểm chứng và nhìn nhận vấn đề đúng đắn và đầy đủ hơn;
- Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, bao gồm phương pháp
duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử để góp phần làm sáng tỏ vấn đề;
6
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa khoa học của luận văn:
Luận văn góp phần hệ thống những khái niệm, lý luận về quản lý chất thải tế.
Đồng thời, phân tích, đánh giá một cách khoa học những ưu điểm cũng như những
tồn tại hạn chế của quy định của pháp luật hiện hành về quản lý chất thải y tế. Luận
văn xây dựng được một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải y
tế ở Việt Nam hiện nay. Hơn nữa, các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử
dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học.
- Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
Một số kiến nghị của luận văn có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây
dựng và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật về
quản lý chất thải y tế nói riêng.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phần
nội dung chính của luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung về chất thải y tế và pháp luật về quản lý
chất thải y tế
- Chương 2: Các quy định pháp luật cụ thể về quản lý chất thải y tế ở Việt
Nam
- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý
chất thải y tế ở Việt Nam
thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt
động khác”. Theo định nghĩa này, chất thải bao gồm các đặc điểm:
- Thứ nhất, chất thải phải là vật chất,
Vật chất là một phạm trù rất rộng, nó bao hàm tất cả các dạng thực thể tồn tại
bên ngoài ý thức của con người và độc lập với ý thức đó. Như vậy, với định nghĩa
này thì chất thải có thể tồn tại ở dưới dạng rắn, lỏng, khí hoặc các dạng khác.
- Thứ hai, vật chất đó được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,
sinh hoạt hoặc hoạt động khác,
8
“Được thải ra” được hiểu là các vật chất được đưa ra khỏi quá trình sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, hoặc sinh hoạt. Trong những hoạt động này, vật chất “được thải
ra” khi chủ sở hữu không đưa vào khai thác giá trị và công dụng của vật chất đó nữa.
Đây là hành vi từ bỏ quyền sở hữu của chủ sở hữu khi vật chất đã hết giá trị sử dụng.
Như vậy, vật chất đó có phải là chất thải hay không phụ thuộc hoàn toàn vào ý
chí chủ quan của chủ sở hữu. Tuy nhiên, phải loại trừ trường hợp do đặc thù trong
hoạt động của mình, chủ sở hữu phải thải bỏ vật chất và hoạt động thải bỏ này mang
tính chất bị động đối với chủ sở hữu cũng như đối với đối tượng khác. Một vật chất
sẽ tồn tại dưới dạng chất thải từ khi chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp thải ra
cho đến khi nó được đưa vào sử dụng ở một chu trình sản xuất hoặc chu trình sử dụng
khác.
Vật chất này được sản sinh ra từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,
sinh hoạt, hoặc các hoạt động khác của con người như: hoạt động du lịch, khoa học…
Tùy vào các tiêu chí khác nhau, chất thải có thể được phân chia thành các loại
như sau:
- Căn cứ vào nguồn phát sinh: có thể chia thành 3 loại: chất thải sinh hoạt, chất
thải y tế, chất thải công nghiệp;
- Căn cứ vào trạng thái tồn tại của chất thải có thể chia thành: chất thải rắn,
chất thải lỏng, chất thải khí và các chất thải ở dạng khác;
Quy chế quy định: “Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất
có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn
mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất
khác gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người”.
Đến năm 2014, định nghĩa này đã được sửa đổi và hoàn thiện hơn với cách
diễn đạt rất ngắn gọn tại Khoản 13 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 “Chất
thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ,
gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác”.
Khi đối chiếu khái niệm chất thải nguy hại ở hai văn bản pháp luật trên, có thể
dễ dàng nhận thấy về mặt hình thức thì khái niệm chất thải nguy hại trong Luật Bảo
vệ môi trường 2014 đã rút gọn đi rất nhiều về số lượng câu, chữ, cách diễn đạt cũng
rõ ràng hơn và súc tích hơn. Tuy nhiên, điều đó vẫn không làm giảm hay sai lệch
phần nội dung mà khái niệm muốn đề cập đến:
Một là, chất thải nguy hại là một loại chất thải do đó nó mang đầy đủ các đặc
điểm của chất thải.
Hai là, chất thải nguy hại có các đặc tính lý, hóa hoặc sinh học có thể gây
nguy hại trực tiếp hay gián tiếp khi tương tác với các chất khác hoặc cơ thể sống như
dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại
khác.
Có nhiều tiêu chí để phân loại chất thải nguy hại như: phân loại theo chất thải
công nghiệp; phân loại theo loại nguy hại; theo nhóm hóa học; theo thành phần hóa
học ban đầu; theo tình trạng vật lý… Chất thải nguy hại được phân loại theo các
10
nhóm nguồn hoặc dòng thải chính như: Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác, chế
biến khoáng sản, dầu khí và than; chất thải từ ngành sản xuất hóa chất vô cơ, hữu cơ;
chất thải từ ngành luyện kim; chất thải từ ngành sản xuất vật liệu xây dựng và thủy
tinh; chất thải từ ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản; chất thải từ ngành y tế và thú
y; chất thải từ các cơ sở tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải, xử lý nước cấp sinh hoạt và
nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất
thải nguy hại không lây nhiễm (Khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLTBYT-BTNMT).
11
Chất thải y tế thông thường là chất thải y tế không chứa các yếu tố lây nhiễm
hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại.
Khoản 7 Điều 2 Nghị định số 80/2014/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày
6/8/2014 về thoát nước và xử lý nước thải định nghĩa: “Nước thải là nước đã bị thay
đổi đặc điểm, tính chất do sử dụng hoặc do các hoạt động của con người xả vào hệ
thống thoát nước hoặc ra môi trường”. Từ đó, có thể hiểu nước thải y tế là nước đã bị
thay đổi đặc điểm, tính chất do sử dụng hoặc do hoạt động của con người trong các
cơ sở y tế, được xả vào hệ thống thoát nước hoặc ra môi trường.
1.1.2. Ảnh hưởng của các loại chất thải y tế
Chất thải y tế phát sinh chủ yếu là từ các cơ sở y tế như: bệnh viện, trung tâm
vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú,
trung tâm lọc máu, nhà xác...; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học, cơ
sở sản xuất dược phẩm; ngân hàng máu...
Chất thải y tế có thể gây ra những ảnh hưởng xấu đối với cả con người, sinh
vật và môi trường nếu như không được xử lý đúng cách. Việc tiếp xúc với các chất
thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương cho con người và sinh vật. Đó là do
trong chất thải y tế có thể chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, chất độc hại, các loại
hóa chất, dược phẩm nguy hiểm, các chất thải phóng xạ và các vật sắc nhọn...
Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế là những người có nguy cơ chịu
tác động xấu từ loại chất thải này, có thể bao gồm những người làm việc trong các cơ
sở y tế, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, những người ở ngoài các cơ sở y tế làm
nhiệm vụ vận chuyển, xử lý chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi
nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sót trong khâu quản lý chất thải.
thương kép: vừa gây tổn thương lại vừa lây truyền các bệnh truyền nhiễm. Những vấn
đề đáng lưu tâm là sự nhiễm trùng có thể được lây truyền bởi sự xâm nhập qua da của
các tác nhân gây bệnh, ví dụ như nhiễm khuẩn huyết do virut. Các loại kim tiêm đã
tiêm qua da là một phần quan trọng của loại hình chất thải sắc nhọn và là mối nguy
hiểm đặc biệt bởi chúng thường bị dính máu bệnh nhân.
Chất thải y tế sắc nhọn nếu không được thu gom đúng cách, bị rơi vãi ra ngoài
môi trường có thể gây tổn thương hoặc gây ra cái chết cho những động vật vô tình
dẫm phải hoặc ăn phải loại chất thải này.
Ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm:
Nhiều loại hóa chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế là những
mối nguy cơ đe dọa sức khỏe con người (các độc dược, các chất gây độc gen, chất ăn
mòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ, gây shock phản vệ...). Các loại
chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn có thể
tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ. Chúng có thể gây
nhiễm độc do tiếp xúc cấp tính và mãn tính, gây ra các tổn thương như bỏng. Sự
nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc dược phẩm qua
da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa. Việc tiếp xúc với các chất
dễ cháy, chất ăn mòn, các hóa chất gây phản ứng (formaldehyd và các chất dễ bay hơi
13
khác) có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp. Các
tổn thương phổ biến hay gặp nhất là các vết bỏng.
Các chất thải hóa chất được thải thẳng vào hệ thống cống thải có thể gây nên
các ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải sinh học hoặc gây
ảnh hưởng độc hại tới hệ sinh thái tự nhiên nhận được sự tưới tiêu bằng nguồn nước
này. Những vấn đề tương tự như vậy cũng có thể bị gây ra do các sản phẩm của quá
đốt ở trong điều kiện không lý tưởng, không đạt yêu cầu. Việc thiêu đốt chất thải y tế
không đủ nhiệt độ trong khi rác thải đưa vào quá nhiều trong lò đốt sẽ gây ra nhiều
14
bụi và khói đen. Nếu đốt chất thải y tế đựng trong các túi nhựa nylon PCV cùng với
các loại dược phẩm nhất định có thể tạo ra hơi axít, thường là HCl và SO2. Trong quá
trình đốt, các dẫn xuất halogen như F, Cl, Br, I... ở nhiệt độ thấp có thể hình thành
nên chất dioxin và furan là những chất vô cùng độc hại ngay cả ở nồng độ thấp.
Ngoài ra, các kim loại nặng dễ bay hơi như thủy ngân cũng có thể phát tán, thải ra
theo khí thoát của lò đốt. Một số phương pháp xử lý khác như chôn lấp có thể phát
sinh các chất gây ô nhiễm cho môi trường không khí như: CH4, H2S…1 Hơn nữa, chất
thải y tế nếu được tập trung quá nhiều tại một địa điểm mà lại gần khu dân cư thì
cũng gây mất mỹ quan và kéo theo đó là ruồi nhặng, chuột bọ ảnh hưởng rất lớn đến
sinh hoạt của cộng đồng dân cư xung quanh đó.
1.1.3. Hiện trạng của chất thải y tế
Các cơ sở y tế là nguồn phát sinh ra các loại chất thải y tế vì vậy số lượng cơ
sở y tế và số giường bệnh trên cả nước có xu hướng tăng dần qua các năm là nguyên
nhân trực tiếp dẫn đến sự gia tăng của chất thải y tế.
Qua số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê có thể thấy rõ sự gia tăng đáng
kể của số lượng cơ sở y tế và số giường bệnh qua các năm 2003, 2009 và 2014:
Bảng 1 : Số lƣợng cơ sở y tế trên cả nƣớc
Năm
2003
2009
2014
61,0
Trạm y tế xã, phường
10.448,0
10.979,0
11.110,0
Trạm y tế của cơ quan, xí nghiệp
810,0
710,0
710,0
Cơ sở khác
55,0
34,0
32,0
Nguồn: Tổng cục Thống kê
1
222,0
Phòng khám đa khoa khu vực
9,3
8,1
8,5
Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng
10,8
4,9
6,7
Trạm y tế xã, phường
45,1
49,4
52,1
Trạm y tế của cơ quan, xí nghiệp
8,3
năm 2015 là khoảng 3 triệu kg chất thải thông thường và 548.320 kg chất thải y tế
nguy hại3.
2
Xem: Xử lý chất thải y tế vẫn là gánh nặng cho ngân sách bệnh viện. Nguồn: http://vihema.gov.vn/xu-ly-chatthai-y-te-van-la-ganh-nang-cho-ngan-sach-benh-vien.html, ngày truy cập 20/7/2016.
3
Xem: Hà Nội tăng cường kiểm tra công tác xử lý chất thải tại các cơ sở y tế. Nguồn: http://infonet.vn/ha-noitang-cuong-kiem-tra-cong-tac-xu-ly-chat-thai-tai-cac-co-so-y-te-post126603.info, ngày truy cập: 13/07/2016.
16
Năm 2015 thành phố Hồ Chí Minh có 10 bệnh viện thuộc quản lý trực tiếp của
Bộ Y tế và 30 bệnh viện từ hạng 1-2, 24 trung tâm y tế quận huyện, 25 bệnh viện tư
nhân, 12.780 cơ sở khám chữa bệnh, phòng mạch tư thuộc quản lý của Sở Y tế. Bình
quân mỗi ngày tất cả các đơn vị y tế trên địa bàn thành phố thải ra khoảng 9 tấn rác y
tế. Tất cả các đơn vị y tế thuộc quản lý của Sở Y tế đều được chỉ đạo ký hợp đồng với
Công ty Môi trường đô thị TP. Hồ Chí Minh để chuyên chở và xử lý rác y tế 4.
Điều tra của Trung tâm Quan trắc môi trường Bắc Kạn năm 2015 cho thấy,
trung bình mỗi ngày các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh thải ra khoảng gần 1.000kg chất
thải rắn và gần 300m3 nước thải. Chất thải chủ yếu phát sinh từ các cơ sở y tế tuyến
huyện (chiếm 40,7% tổng lượng chất thải rắn và 41,06% tổng lượng nước thải). Do
đa phần có quy mô nhỏ, chủ yếu khám, kê đơn thuốc và sử dụng những thủ thuật đơn
giản nên các phòng khám tư nhân có lượng chất thải phát sinh ít nhất (chiếm 6,7%
tổng lượng chất thải rắn và 10,84% tổng lượng nước thải)5.
Theo số liệu thống kê về tình hình quản lý chất thải y tế của tỉnh Kon Tum,
khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh từ các cơ sở y tế trong toàn tỉnh Kon Tum năm
2015 như sau: Cơ sở khám, chữa bệnh là các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện:
Lượng chất thải rắn phát sinh trong ngày là 1.863 kg/ngày (trong đó: chất thải nguy
hại là 310.5 kg/ngày; chất thải thông thường là 1.552,5 kg/ngày). Cơ sở là các phòng
bình 01 - 03 kg chất thải nguy hại/ngày, mỗi phòng khám tư nhân và trạm y tế xã xả
thải trung bình 0,1 - 0,15 kg /ngày7.
Lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh cũng có sự biến động ở từng loại cơ sở
y tế khác nhau. Các bệnh viên đa khoa trung ương thường là nơi tập trung số lượng
bệnh nhân lớn, điều trị nhiều loại bệnh khác nhau vì vậy nên khối lượng chất thải y
tế, đặc biệt là chất thải y tế nguy hại cũng phát sinh nhiều nhất, xếp sau là các bệnh
viện chuyên khoa trung ương và bệnh viện đa khoa cấp tỉnh. Có thể thấy rõ điều này
qua bảng thống kê của Bộ Y tế giai đoạn 2005 – 2010:
Bảng 3: Sự biến động về khối lƣợng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các loại
cơ sở y tế khác nhau
Đơn vị tính: kg/giường bệnh/ngày
Loại bệnh viện
Bệnh viện đa khoa trung ương
Bệnh viện chuyên khoa trung ương
Bệnh viện đa khoa tỉnh
Bệnh viện chuyên khoa tỉnh
Bệnh viện huyện, ngành
Năm 2005
0,35
0,23 – 0,29
0,29
0,17 – 0,29
0,17 – 0,22
Năm 2010
0,42
0,28 – 0,35
0,35
Công ước Basel 1989 về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy
hiểm và việc tiêu hủy chúng, quy định: “Quản lý là việc thu thập, vận chuyển và tiêu
hủy các phế thải nguy hiểm hoặc các phế thải khác bao gồm cả việc giám sát các địa
điểm tiêu hủy”.
Với định nghĩa này, quản lý chất thải là khái niệm để chỉ một tổ hợp các hoạt
động bao gồm thu thập, vận chuyển, tiêu hủy phế thải và giám sát các địa điểm tiêu
hủy. Chiểu theo Công ước Basel thì phế thải được hiểu là các chất hoặc các đồ vật mà
người ta tiêu huỷ, có ý định tiêu huỷ hoặc phải tiêu huỷ chiếu theo các điều khoản của
luật lệ quốc gia.
Định nghĩa này bộc lộ một số hạn chế như: cách hiểu về phế thải chỉ bao gồm
các loại chất thải rắn có thể tiêu hủy, chứ chưa bao gồm nước thải và khí thải không
thể tiêu hủy; hơn nữa tổ hợp những hoạt động được liệt kê trong khái niệm “quản lý”
cũng chưa thực sự nêu được đầy đủ các hoạt động từ khâu phát sinh đến khâu xử lý,
tiêu hủy chất thải, làm cho khái niệm “quản lý” bị bó hẹp, chưa toàn diện.
Ở Việt Nam, khái niệm quản lý chất thải được định nghĩa lần đầu tiên tại
Thông tư liên tịch số 1590/1997/TTLT-BKHCNMT-BXD ngày 03/04/1997 về các
biện pháp cấp bách trong quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp, theo
đó “Quản lý chất thải là các hoạt động nhằm kiểm soát toàn bộ quá trình từ khâu sản
sinh chất thải đến thu gom, vận chuyển, xử lý (tái sử dụng, tái chế), tiêu huỷ (thiêu
đốt, chôn lấp...) chất thải và giám sát các địa điểm tiêu huỷ chất thải”.
Định nghĩa này có sự tiếp thu từ định nghĩa quản lý của Công ước Basel, tuy
nhiên các nhà làm luật đã bổ sung thêm các hoạt động từ khâu phát sinh đến thu gom,
vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải và giám sát địa điểm tiêu hủy chất thải. Thêm
nữa, định nghĩa đã sử dụng từ “chất thải” nghĩa là bao gồm tất cả các loại vật chất ở
mọi dạng trạng thái tồn tại bị thải bỏ chứ không bó hẹp như cách hiểu “phế thải” ở
Công ước Basel.
Hiện nay theo Luật bảo vệ môi trường 2014, quản lý chất thải là quá trình
phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái
chế và xử lý chất thải (Khoản 15 Điều 3). Theo đó, quản lý chất thải có một số đặc
điểm sau đây:
tra, giám sát việc thực hiện”.
Có thể thấy định nghĩa liệt kê một loạt các hoạt động trong công tác quản lý
chất thải y tế nhưng theo một thứ tự khá lộn xộn chứ không tuần tự từ khâu phát sinh
đến khi chất thải được xử lý. Cụ thể là hoạt động “giảm thiểu” chất thải lại được đưa
ra sau các khâu phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, trong khi
đáng nhẽ giảm thiểu chất thải phải là khâu đầu tiên của quá trình quản lý chất thải.
Khắc phục những hạn chế này, Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYTBTNMT của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên môi trường ngày 31/12/2015 Quy định về
quản lý chất thải y tế đã định nghĩa: “Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu,
phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và
giám sát quá trình thực hiện” (Khoản 3 Điều 3).
Theo khái niệm này, quản lý chất thải y tế có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, quản lý chất thải y tế là một mảng của quản lý chất thải nói chung vì
vậy nó cũng mang các đặc điểm của quản lý chất thải. Trước hết, quản lý chất thải y
20
tế cũng là một “quá trình”, là tập hợp của nhiều hành động khác nhau theo một trật
tự nhất định.
Thứ hai, quản lý chất thải y tế có mục đích nhằm “giảm thiểu” lượng phát
sinh chất thải y tế ngay từ nguồn phát sinh.
Thứ ba, quản lý chất thải y tế bao gồm các hoạt động là “phân định, phân loại,
thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực
hiện”. Đây là một chu trình khép kín để chất thải y tế luôn luôn được kiểm soát, quản
lý từ khi phát sinh đến khi được tái chế hoặc xử lý bằng phương pháp thích hợp.
Định nghĩa này đã sắp xếp tuần tự các hoạt động trong quá trình quản lý chất
thải y tế và rút gọn một số từ ngữ như gộp hoạt động “xử lý, tiêu hủy chất thải y tế”
vào chỉ còn là “xử lý chất thải y tế”, bỏ cụm từ “tái sử dụng” là hợp lý bởi chất thải
y tế có những đặc thù nhất định, khó có thể tái sử dụng được mà chỉ có thể tái chế
hoặc xử lý triệt để. Định nghĩa mới đã bám khá sát định nghĩa về quản lý chất thải tại
Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 tạo nên một cách hiểu thống nhất từ luật đến văn