BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHÙNG PHƯƠNG THẢO
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ RÁC THẢI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lưu Ngọc Tố Tâm
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện
dưới sự hướng dẫn khoa học của giảng viên TS. Lưu Ngọc Tố Tâm.
Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa
được công bố dưới bất kì hình thức nào trước đây. Những số liệu phục vụ cho việc
phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có
chú thích và được ghi rõ trong phần danh mục tài liệu tham khảo. Ngoài ra, đề tài
còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ
chức khác đều có trích dẫn, chú thích nguồn gốc và đề cập tại phần danh mục tài
liệu tham khảo.
Nếu phát hiện có bất cứ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Phùng Phương Thảo
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
STT
01
Tên biểu đồ
Thiết bị điện tử thải bỏ gia tăng ở Việt Nam
Trang
13
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
STT
01
Tên sơ đồ
Quá trình tác động của các chất độc trong
rác thải điện tử tới môi trường, con người
Trang
18
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Bảng: Phần trăm các chất có trong rác thải điện tử
05
Bảng: Kim loại có trong một số linh kiện điện tử
06
Bảng: Các chất độc hại có trong rác thải điện tử
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RÁC THẢI ĐIỆN TỬ VÀ
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ RÁC THẢI ĐIỆN TỬ ......................................... 6
1.1. Những vấn đề chung về rác thải điện tử ........................................... 6
1.1.1. Khái niệm, phân loại rác thải điện tử ............................................. 6
1.1.2. Nguồn phát sinh rác thải điện tử .................................................. 10
1.1.3. Hiện trạng rác thải điện tử........................................................... 12
1.1.4. Tác động của rác thải điện tử ...................................................... 14
1.1.5. Vai trò của việc xử lý rác thải điện tử .......................................... 18
1.2. Những vấn đề chung của pháp luật về xử lý rác thải điện tử ........ 21
1.2.1. Khái niệm pháp luật về xử lý rác thải điện tử ............................... 21
1.2.2. Vai trò của pháp luật đối với việc xử lý rác thải điện tử............... 23
1.2.3. Nội dung của pháp luật về xử lý rác thải điện tử .......................... 25
1.3. Kinh nghiệm xây dựng pháp luật về xử lý rác thải điện tử của một
số nước trên thế giới .................................................................................. 28
1.3.1. Kinh nghiệm của Mỹ .................................................................... 28
1.3.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản .......................................................... 30
3.2. Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về xử lý
rác thải điện tử ở Việt Nam hiện nay ....................................................... 72
3.3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý rác thải điện
tử ở Việt Nam hiện nay ............................................................................. 77
3.3.1. Giải pháp pháp lý ........................................................................ 77
3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về xử lý rác thải
điện tử ở Việt Nam .................................................................................. 84
Tiểu kết chương 3 ......................................................................................... 90
KẾT LUẬN ................................................................................................... 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................
1
LỜI NÓI ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Ngành công nghiệp điện tử hiện nay đóng vai trò rất quan trọng, nó được ví
như thước đo trình độ phát triển khoa học kỹ thuật của các quốc gia trên thế giới.
Đối với Việt Nam vai trò của ngành công nghiệp này ngày càng to lớn. Công nghiệp
điện tử Việt Nam xuất hiện từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX nhưng chỉ thực sự
hình thành vào cuối những năm 80 và dần hoàn thiện đầu năm 2000 khi luồng đầu tư
nước ngoài vào ngành điện tử bắt đầu có hiệu ứng lan tỏa. Sự bùng nổ của nhu cầu
về hàng điện tử và sự cần thiết phải phát triển ngành công nghệ thông tin trong các
lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội dưới tác động của tăng trưởng kinh tế là
những luận cứ cơ sở cho một thị trường sôi động và hấp dẫn các nhà đầu tư nước
ngoài. Thế nhưng đằng sau sự phát triển của ngành công nghiệp này trên thế giới
cũng như ở Việt Nam là một lượng rác thải điện tử khổng lồ phát sinh hàng năm. Sự
gia tăng của rác thải điện tử tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển ngành công nghiệp điện
là ở những quốc gia, khu vực phát triển như Nhật Bản, Mỹ, Pháp, EU… Do đó,
nhiều nghiên cứu về rác thải điện tử cũng đã ra đời, điển hình như: Nghiên cứu của
các tác giả Gaidajis.G, Angelakoglou.K and Aktsoglou.D (2010) với tên gọi “Ewaste: Environmental Problems and Current Management”; Báo cáo “The Global
E- Waste Monitor 2014 Quantitities, flows and resource” của các tác giả Baldé
C.P.,Wang F., Kueher R., Huisman J; hay Solving the e-waste problem (Step)
intiative white paper (2014); One global definition of e-waste, United Nations
University… Trong các nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra được thực trạng rác thải
điện tử trên thế giới, những lợi ích cũng như tác hại của rác thải điện tử, phương
thức quản lý rác thải điện tử hiện nay và đề xuất những giải pháp để giải quyết tốt
vấn đề này trên thế giới.
Tại Việt Nam vấn đề rác thải điện tử mới được quan tâm trong vài năm trở lại
đây. Các công trình nghiên cứu về đề tài này còn khá hạn chế. Có thể kể đến một số
công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Current status of e-waste in VietNam and
future goals của tác giả Trương Mạnh Tuấn (2014), Cục kiểm soát ô nhiễm, Bộ tài
nguyên và môi trường hay nghiên cứu của tác giả Huỳnh Trung Hải (2014) với tên
gọi “Electric and Electronic Waste recycling in Viet Nam”, Trường Đại học Bách
khoa…
Vấn đề rác thải điện tử cũng đã được nghiên cứu trong một số đề tài luận án,
luận văn như: Luận văn thạc sĩ khoa học của tác giả Đặng Thị Hường (2013),
Nghiên cứu đánh giá tiềm năng tái chế chất thải điện tử và thu hồi kim loại có giá
trị từ bản mạch điện tử thải bỏ, Đại học quốc gia Hà Nội- Trường Đại học khoa học
tự nhiên, Hà Nội hay tác giả Đặng Trung Quý (2013) với Luận văn thạc sĩ khoa học
về Nghiên cứu sử dụng thủy tinh từ chất thải điện- điện tử để sản xuất vật liệu nhẹ
không nung ứng dụng trong xây dựng, Đại học quốc gia Hà Nội- Trường Đại học
khoa học tự nhiên, Hà Nội…
Ngoài ra, cũng đã có khá nhiều bài báo, tạp chí viết về vấn đề rác thải điện tử,
có thể kể đến như: Trương Việt Trường (2011), “Rác thải điện tử - xung đột môi
trường giữa các nước công nghiệp và các nước đang phát triển”, Tạp chí môi trường
số 8/2011; Nhật Anh (2012), “Hiểm họa và cơ may từ chất thải điện tử”, Tạp chí
STINFO số 10/2012, tr. 10-13; Huỳnh Trung Hải, Nguyễn Đức Quảng (2014),
Theo đó, phạm vi nghiên cứu được xác định trong luận văn bao gồm: khái niệm, vai
trò, các quy định cụ thể về việc xử lý rác thải điện tử, bao gồm: chủ thể chịu trách
nhiệm xử lý rác thải điện tử, điều kiện đối với cơ sở xử lý rác thải điện tử, nghĩa vụ
của chủ xử lý rác thải điện tử, những ưu đãi, hỗ trợ đối với chủ xử lý rác thải điện tử,
trách nhiệm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc xử lý rác thải điện tử,
trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về xử lý rác thải điện tử
và những giải pháp để hoàn thiện pháp luật về xử lý rác thải điện tử ở Việt Nam hiện
nay.
4.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định của pháp
luật về xử lý rác thải điện tử ở Việt Nam. Từ đó luận văn sẽ chỉ ra những điểm tiến
bộ cũng như những hạn chế còn tồn tại trong pháp luật về xử lý rác thải điện tử ở
Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra những giải pháp để hoàn thiện
pháp luật đồng thời nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về xử lý rác thải điện tử ở
Việt Nam.
5.
Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Để có thể xây dựng luận văn một cách logic và khoa học nhất thì một hệ thống
câu hỏi đã được xây dựng và được trả lời, cụ thể:
- Chương 1: luận văn đã trả lời những câu hỏi như: rác thải điện tử là gì, cách
phân loại như thế nào? Rác thải điện tử phát sinh từ đâu, nó có ảnh hưởng gì tới môi
trường, con người, xã hội? Tại sao phải xử lý rác thải điện tử? Ngoài những vấn đề
4
chung về rác thải điện tử, tại chương này tác giả còn nghiên cứu những vấn đề
chung của pháp luật về xử lý rác thải điện tử. Với phần này tác giả đưa ra những câu
hỏi sau: Pháp luật về xử lý rác thải điện tử là gì, tại sao việc xử lý rác thải điện tử
nghiên cứu chủ yếu của luận văn. Cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích: được sử dụng ở tất cả các chương, mục của luận văn
để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài.
- Phương pháp thống kê: được sử dụng ở cả 03 chương để tập hợp, xử lý các số
liệu…phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng ở cả 03 chương của luận văn
để đối chiếu, đánh giá, các quy định pháp luật khác nhau của một số quốc gia trên
5
thế giới về xử lý rác thải điện tử với pháp luật Việt Nam; so sánh pháp luật của Việt
Nam trước đây với pháp luật hiện hành.
- Phương pháp chứng minh: được sử dụng để chứng minh các luận điểm tại
chương 1, các nhận định về thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về xử lý rác
thải điện tử tại chương 2 và các yêu cầu, đề xuất phương án xây dựng, hoàn thiện
pháp luật về xử lý rác thải điện tử tại chương 3 của luận văn.
- Phương pháp tổng hợp, quy nạp: được sử dụng chủ yếu trong việc đưa ra
những kết luận của từng chương và kết luận chung của luận văn.
7.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Luận văn nghiên cứu về vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về xử lý rác
thải điện tử có sự so sánh đối chiếu với các văn bản pháp luật trước đó và pháp luật
nước ngoài, từ đó nêu ra những điểm đã đạt được cũng như những hạn chế còn tồn
tại trong một số quy định của pháp luật. Đồng thời, đưa ra những kiến nghị, giải
pháp để góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này. Qua đó
giáo dục và nâng cao ý thức của cộng đồng, các chủ thể có trách nhiệm trong việc
xử lý rác thải điện tử về kiến thức pháp luật và thực thi, chấp hành pháp luật về xử lý
rác thải điện tử.
Kết quả nghiên cứ là sản phẩm quan trọng đánh giá quá trình học tập của học
1.1.1.1. Khái niệm
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các thiết bị điện, điện tử ngày
càng trở nên phổ biến trong cuộc sống con người. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3
Chỉ thị 2011/65/EU ngày 08 tháng 06 năm 2011 của Liên minh Châu Âu về hạn chế
sử dụng một số chất nguy hại trong các thiết bị điện, điện tử (RoHS2) thì các thiết bị
điện, điện tử (electrical and electronic equipment –EEE) được hiểu là: thiết bị phụ
thuộc vào dòng điện hoặc từ trường để hoạt động và các thiết bị để sản xuất, chuyển
giao, đo lường của các dòng điện và từ trường của các dòng đó được thiết kế để sử
dụng với điện áp không quá 1000 volt cho dòng điện xoay chiều và 1500 volt cho
dòng điện một chiều. Các thiết bị này sau khi bị thải bỏ sẽ trở thành chất thải, loại
chất thải này được gọi là chất thải điện tử. Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác
nhau về chất thải điện tử tùy thuộc vào mỗi tổ chức hay quốc gia, vùng lãnh thổ.
Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) chất thải điện tử là: “Bất kì
thiết bị gia dụng nào tiêu thụ điện và đã đạt đến vòng đời cuối cùng của nó” 1. Theo
khái niệm này, chất thải điện tử có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, phạm vi các thiết bị được xác định là chất thải điện tử bao gồm bất kì
thiết bị gia dụng nào tiêu thụ điện năng. Những loại thiết bị không thuộc nhóm thiết
bị gia dụng hoặc là thiết bị điện tử gia dụng nhưng không tiêu thụ điện năng thì
không thuộc đối tượng điều chỉnh của khái niệm này.
Thứ hai, các thiết bị nêu trên được xác định là chất thải điện tử nếu nó đạt đến
vòng đời cuối cùng của nó.
Nhìn chung khái niệm này còn khá hạn chế, chưa khái quát được đầy đủ bản
chất của chất thải điện tử. Nếu chỉ giới hạn chất thải điện tử là các thiết bị điện tử gia
dụng tiêu thụ điện thì những thiết bị điện tử khác (ví dụ thiết bị điện tử dùng trong
văn phòng như: máy fax, máy photocopy, máy scan hay những chiếc điện thoại di
động, máy tính…) khi bị thải bỏ được coi là gì nếu không phải chất thải điện tử?
Ngoài ra, khái niệm này còn thiếu tính cụ thể khi đưa vào thuật ngữ “đạt đến vòng
đời cuối cùng”. Việc xác định vòng đời cuối cùng của một thiết bị điện tử rất khó
khăn, thậm chí doanh nghiệp sản xuất ra nó cũng không thể xác định một cách chính
1
STEP- Dự án sáng kiến giải quyết vấn đề rác thải điện tử của Liên Hợp Quốc
đã đưa ra khái niệm về chất thải điện tử như sau: “Chất thải điện tử là thuật ngữ chỉ
tất cả thiết bị điện- điện tử và một phần của nó đã bị thải bỏ bởi chủ sở hữu mà
không có ý định tái sử dụng” 3.
Khái niệm này được đưa ra vào năm 2014, nhìn chung nó được xây dựng khá
khoa học, đầy đủ và có tính khái quát cao. Theo đó, chất thải điện tử mang những
đặc điểm sau:
Một, về phạm vi: chất thải điện tử bao gồm tất cả các thiết bị điện tử và một
phần của nó. So với hai khái niệm đã nêu ở trên, rõ ràng với khái niệm này phạm vi
chất thải điện tử đã được khái quát đầy đủ, chính xác hơn rất nhiều.
Hai, các thiết bị điện- điện tử được nêu trên trở thành chất thải điện tử khi
chúng bị thải bỏ bởi chủ sở hữu mà không có ý định tái sử dụng. Như vậy, một thiết
bị điện tử có trở thành chất thải điện tử hay không phụ thuộc vào sự quyết định của
chủ sở hữu.
2
Gaidajis.G, Angelakoglou.K and Aktsoglou.D, tlđd chú thích 1, tr 193.
Solving the e-waste problem (Step) intiative white paper (2014), One global definition of e-waste, United
Nations University, tr 4.
3
8
Nhờ cách xây dựng khoa học như vậy mà khái niệm này có tính linh hoạt rất
cao, có thể áp dụng ở nhiều giai đoạn khác nhau. Trường hợp xuất hiện loại thiết bị
điện tử mới trên thị trường sau khi bị thải bỏ chúng cũng trở thành chất thải điện tử,
lúc này vẫn có thể áp dụng khái niệm của STEP.
Ở Việt Nam, khái niệm về chất thải điện tử vẫn chưa được xây dựng. Chúng ta
mới chỉ đưa ra được một số khái niệm liên quan như: chất thải, chất thải nguy hại,
Bảy, nhóm đồ chơi, giải trí và thể thao: tàu hỏa hoặc oto đua, video game, thiết
bị giải trí nhận tiền xu…
4
Nhật Anh (2012), “Hiểm họa và cơ may từ chất thải điện tử”, Tạp chí STINFO số 10/2012, tr 10.
9
Tám, nhóm dụng cụ y tế: thiết bị xạ trị, máy điện tim, máy chạy thận…
Chín, nhóm thiết bị quan trắc và kiểm soát: bộ điều chỉnh nhiệt, thiết bị cân
đo, cân chỉnh trong nhà và phòng thí nghiệm, các thiết bị quan trắc trong công
nghiệp…
Mười, nhóm máy dịch vụ tự động: máy rút tiền tự động, máy bán nước tự
động, điện thoại công cộng…
Qua cách phân loại này, có thể thấy được rác thải điện tử thực sự đa dạng,
phong phú. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều nước trên thế giới cũng chỉ tập trung quản
lý một số loại rác thải điện tử điển hình, phổ biến như: TV, điện thoại, máy tính, tủ
lạnh, máy điều hòa nhiệt độ… nhằm đạt hiệu quả quản lý cao nhất.
Ở nước ta, chưa có quy định nào đưa ra cách phân loại cụ thể cho chất thải điện
tử nói chung và rác thải điện tử nói riêng. Tuy nhiên hiện nay Thông tư số
36/2015/TT-BTNVMT ngày 30 tháng 06 năm 2015 của Bộ tài nguyên và môi
trường về quản lý chất thải nguy hại đã ghi nhận một số thiết bị điện tử được xếp
vào danh mục chất thải nguy hại khi bị thải bỏ. Trên cơ sở quy định này có thể dựa
vào mức độ nguy hại để phân loại rác thải điện tử thành: rác thải điện tử nguy hại và
rác thải điện tử thông thường. Theo đó những loại rác thải điện tử được coi là chất
thải nguy hại bao gồm:
- Các thiết bị, linh kiện điện tử thải hoặc các thiết bị điện khác có các linh kiện
điện tử có các thành phần nguy hại (trừ bản mạch điện tử không chứa các chi tiết có
các thành phần nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại) từ phương tiện giao thông
này có thể gây kích ứng, gây hại, gây độc cấp tính, gây độc từ từ hoặc mãn tính, gây
ung thư, gây độc cho sinh sản, gây đột biến gien và có thể sinh ra khí độc. Ngoài ra,
chúng còn có các thành phần nguy hại gây tác hại nhanh chóng hoặc từ từ đối với
môi trường và các hệ sinh vật thông qua tích lũy sinh học.
Thứ hai, trạng thái tồn tại đa số là ở thể rắn. Chúng thường tồn tại dưới các
dạng như: kim loại (sắt, nhôm, đồng…), nhựa…
Thứ ba, chúng được xác định là chất thải nguy hại trong mọi trường hợp,
không cần áp dụng ngưỡng chất thải nguy hại mà xác định luôn là chất thải nguy
hại.
Ngoài những thiết bị đã được xếp vào danh mục chất thải nguy hại như trên thì
những thiết bị điện tử còn lại sẽ được xếp vào danh mục rác thải điện tử thông
thường khi bị thải bỏ.
1.1.2. Nguồn phát sinh rác thải điện tử
Rác thải điện tử phát sinh từ: Doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện tử trong
nước; nhập khẩu rác thải điện tử từ nước ngoài và do người tiêu dùng thải ra.
1.1.2.1. Rác thải điện tử phát sinh từ các doanh nghiệp sản xuất thiết
bị điện tử trong nước
Báo cáo tóm tắt “Đánh giá tác động ban đầu về an toàn môi trường và sức
khỏe nghề nghiệp trong một số nhà máy sản xuất và lắp ráp điện tử tại Việt Nam”
do Trung tâm Phát triển & Hội nhập (CDI) thực hiện công bố hồi tháng 1/2014 cho
thấy Việt Nam hiện có hơn 500 nhà máy, công ty điện tử và 2/3 trong số đó là các
công ty có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế
đất nước5. Trong đó, có nhiều tên tuổi lớn của nước ngoài như: Samsung, Microsoft,
Canon… Sự thay đổi công nghệ nhanh chóng cùng với sự canh tranh của thị trường
đã buộc các doanh nghiệp phải liên tục nâng cấp mẫu mã, chất lượng nhưng vẫn
phải duy trì mức giá hợp lý. Đây chính là nguyên nhân rút ngắn vòng đời của sản
phẩm điện tử, khiến cho lượng rác thải điện tử tăng lên nhanh chóng trong những
năm qua.
5
mặt với rất nhiều vấn đề như môi trường, con người và cả vấn đề xã hội. Do đó, trên
thế giới hiện nay các quốc gia đang rất nỗ lực để kiểm soát hoạt động nhập khẩu
này.
1.1.2.3. Rác thải điện tử phát sinh từ người tiêu dùng
Dòng rác thải điện tử đến từ người tiêu dùng cũng đang tăng rất nhanh trong
thời gian qua. Lượng rác thải phát sinh từ nguồn này rất khó quản lý do nó có tính
đơn lẻ. Dòng rác thải này đến từ: người tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình hoặc văn
phòng. Những người tiêu dùng cá nhân thường thải bỏ các thiết bị như: điện thoại
di động, laptop, ipad, máy nghe nhạc… Hộ gia đình là nguồn gốc phát sinh của các
loại rác thải sau: tủ lạnh, điều hòa nhiệt độ, Tivi, máy giặt… Còn văn phòng là nơi
phát sinh của các loại rác thải điện tử như: máy in, máy photo, máy scan, máy fax…
6
Thống kê Hải quan (2016), “Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 12 và năm 2015”,
địachỉ: />k%C3%AA%20H%E1%BA%A3i%20quan, ngày truy cập: 10/06/2016
12
Lượng rác thải điện tử phát sinh từ nguồn này gia tăng nhanh chóng là do thói
quen tiêu dùng không bền vững của người tiêu dùng. Việt Nam có lực lượng yêu
công nghệ lớn, ngoài ra còn có các tầng lớp khác thích “chạy đua” theo xu hướng
phát triển công nghệ liên tục của thế giới để thể hiện đẳng cấp, bởi vậy họ sẵn sàng
bỏ rất nhiều tiền vào việc đổi mới các sản phẩm điện tử. Đời sống kinh tế ngày một
cải thiện đã khiến cho việc mua sắm dễ dàng hơn, do đó mà người tiêu dùng không
ngần ngại thải bỏ các thiết bị điện tử bị hỏng hóc hoặc lỗi thời. Ngoài ra, sự đa dạng
hóa về kiểu dáng và phát triển chức năng của các thiết bị đã thu hút người tiêu dùng
trong việc mua sắm các thiết bị mới nhất, hiện đại nhất. Điều này dẫn đến lượng
hàng hóa công nghệ được tiêu thụ ở Việt Nam thuộc hàng cao trên thế giới, kéo theo
đó là lượng rác thải điện tử tăng lên không ngừng theo thời gian.
Anh Tùng (2015), “Tài nguyên” chờ khai thác: rác thải điện tử, Tạp chí STINFO số 7/2015, tr 8.
Anh Tùng (2015), tlđd chú thích 7, tr 9.
Anh Tùng (2015), tlđd chú thích 7, tr 9.
10
Thùy Linh (2013), “Liên Hợp Quốc cảnh báo mối nguy hại từ rác thải điện tử”, Tin nhanh Việt Nam, địa
chỉ: ngày
truy cập: 17/07/2016.
13
1.1.3.2. Hiện trạng rác thải điện tử ở Việt Nam
Năm 2014 tại Việt Nam phát sinh 116 nghìn tấn rác thải điện tử 11. Với dân số
92,571 nghìn người thì lượng rác thải điện tử phát sinh theo đầu người ở nước ta
năm 2014 là 1,3 kg/người/năm. So với các quốc gia khác trong khu vực Châu Á thì
Việt Nam không phải là nước có lượng rác thải điện tử phát sinh lớn. Tuy nhiên tốc
độ gia tăng của loại rác thải này trong những năm tới là điều đáng lưu ý khi Việt
Nam đang vươn mình để trở thành một nước công nghiệp.
Nhu cầu sử dụng thiết bị điện - điện tử gia dụng ngày càng tăng cao cộng với
nguồn thải từ sản xuất công nghiệp và lượng nhập khẩu với nhiều hình thức sẽ làm
lượng rác thải điện tử gia tăng nhanh chóng ở Việt Nam. Trong 10-15 năm tới,
lượng rác thải điện tử ở nước ta ước tính đạt tới 7-8 kilogam/người/năm khi các sản
phẩm công nghệ của thế giới nói chung, của Việt Nam nói riêng ngày càng phát
triển 12. Ước tính đến năm 2020, riêng Hà Nội sẽ phải thải bỏ tới 161.000 chiếc tivi,
97.000 PC, 178.000 tủ lạnh, 136.000 máy giặt và 97.000 điều hòa nhiệt độ. Còn tại
Thành phố Hồ Chí Minh, ước tính sẽ có 700.000 tivi, 290.000 PC, 424.000 tủ lạnh,
339.000 máy giặt và 330.000 chiếc điều hòa bị thải bỏ 13. Với tốc độ này, nếu không
kẽm, sợi thủy tinh (02 hoá chất nguy hiểm nhất là chì và cadmium); một chiếc máy
tính chứa khoảng 1,8 - 3,6 kg chì; trong tụ điện, biến thế có PBB và PBDE là 2 chất
cực độc…14. Những chất cực độc có trong rác thải điện tử có thể để lại những hậu
họa khôn lường cho môi trường và con người. Cụ thể như sau:
1.1.4.1. Tác động của rác thải điện tử tới môi trường
Rác thải điện tử là một trong những yếu tố có thể gây ra nhiều tác động xấu cho
môi trường, điều này được thể hiện qua những khía cạnh dưới đây:
Thứ nhất, rác thải điện tử gây ô nhiễm môi trường
Thành phần chính trong rác thải điện tử là các kim loại, các hợp kim và một số
hợp chất dạng rắn. Khi ở trạng thái hoàn toàn bị cô lập chúng rất bền và không có
ảnh hưởng gì tới môi trường. Nhưng khi được tiếp xúc trực tiếp với không khí, độ
ẩm, ánh sáng… một loạt các quá trình hoá học xảy ra tạo thành các hợp chất và khả
năng chuyển đổi sang các trạng thái khác rất lớn làm cho chúng trở nên dễ hoà tan
trong nước, thẩm thấu vào đất và dễ khuếch tán vào không khí. Như vậy, bản thân
rác thải điện tử không độc hại nhưng sẽ gây hại cho môi trường khi bị xử lý không
đúng cách.
Đối với môi trường đất: Rác thải điện tử có thể gây ô nhiễm môi trường đất
nếu được xử lý bằng phương pháp chôn lấp thông thường. Cách xử lý này vừa gây
tốn diện tích mặt bằng vừa để lại hậu quả lâu dài. Rác thải điện tử được chôn lấp
dưới đất có thể rò rỉ ra các chất độc như: chì, thủy ngân, cadmium… Những chất này
có thể tồn tại rất lâu trong môi trường đất, hơn thế nữa chúng còn ảnh hưởng tới
những loài thực vật, động vật sinh sống tại đó.
Đối với môi trường nước: Tại nhiều cơ sở xử lý rác thải điện tử sau khi đã thu
hồi được những thành phần mong muốn thì thường chất đống rác thải tại bất kì chỗ
trống nào, trong đó có cả khu vực ven các kênh, mương, thậm chí ven các con sông.
Qua thời gian, lượng rác thải này không được xử lý sẽ làm phát tán các chất độc hại
vào môi trường nước xung quanh và gây ô nhiễm. Ngoài ra, nhiều cơ sở xử lý rác
thải điện tử còn đổ trực tiếp rác thải điện tử hoặc nước thải phát sinh trong quá trình
xử lý vào những con kênh, mương hay các dòng sông. Việc làm này khiến môi
trường nước bị ô nhiễm nặng nề bởi những chất độc hại như: chì, thủy ngân,
trong 5 mẫu đất khác nhau thu thập gần sông Ramganga, một nhánh quan trọng của
sông Hằng. Hàm lượng thủy ngân và asen gấp từ 1,5 - 2 lần so với tiêu chuẩn ở
Canada, trong khi hai chất này đều có thể dẫn đến ngộ độc mãn tính, đặc biệt thủy
ngân là chất độc thần kinh nổi tiếng15.
Tại Việt Nam, tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải điện tử cũng đã bắt
đầu xuất hiện. Điển hình có thể nói tới làng Đông Mai (xã Chỉ Đạo, huyện Văn
Lâm, tỉnh Hưng Yên)- nơi nghề tái chế rác thải điện tử đã có từ hơn 30 năm nay. Tại
đây, người dân xử lý rác thải điện tử chủ yếu bằng những phương pháp thủ công, thô
sơ. Những hóa chất độc hại trong rác thải điện tử được xả ngay ra sân, rồi đổ trực
tiếp theo kênh mương ra cánh đồng. Hóa chất gây ô nhiễm ở khắp các kênh mương,
khiến nhiều diện tích của làng không cấy trồng được. Không chỉ nước, đất, mà
không khí ở Đông Mai cũng ô nhiễm trầm trọng. Nghiên cứu của Viện Y học lao
động và vệ sinh môi trường về mức độ ô nhiễm chì tại xã Chỉ Đạo cho thấy, mức ô
nhiễm chì trung bình trong không khí vượt tiêu chuẩn 3,47 lần. Có những thời điểm,
hàm lượng chì vượt ngưỡng hơn 10 lần cho phép. Các loại thực phẩm như rau, cá có
hàm lượng chì nhiễm vượt tiêu chuẩn là 4,61 lần 16.
15
Yên Vũ (2015), Thủ phủ tái chế rác thải điện tử lớn nhất Ấn Độ, An ninh thủ đô, địa chỉ: ngày truy cập: 01/08/2016.
16
Thu Trang- Phạm Hồng (2013), Khó khăn xử lý chất thải điện tử, Báo tin tức, địa chỉ: ngày truy cập: 01/08/2016
16
Thứ hai, rác thải điện tử tác động tới vấn đề xung đột môi trường
Lượng rác thải điện tử phát sinh ngày càng nhiều đang tạo ra một vấn đề xã hội
rất bức xúc, đó là xung đột môi trường. Có nhiều cách hiểu khác nhau về xung đột
môi trường, nhưng hầu hết đều thống nhất với nhau đó là sự xung đột về lợi ích giữa
đến hệ thần kinh, cơ quan tạo ra máu, ảnh hưởng đến sự phát triển trí nhớ của trẻ em
thường xuyên tiếp xúc với các thiết bị này; Thủy ngân tác động đến da và chức năng
sinh sản; Crom 6 gây bệnh lở loét, thậm chí là ung thư da; PBDE gây rối loạn
17
Trương Việt Trường (2011), “Rác thải điện tử - xung đột môi trường giữa các nước công nghiệp và các nước đang phát
triển”, Tạp chí môi trường số 8/2011.
18
Trương Việt Trường, tlđd chú thích 16.
17
hormon (tương tự độc tính có trong chất độc màu da cam)19… Bên cạnh đó, còn rất
nhiều chất khác có trong rác thải điện tử cũng có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe của
con người như: Brom, asen, cadmium… Ảnh hưởng của các chất này được nêu chi
tiết tại Bảng 05 phần Phụ lục.
Trước hết, các chất độc hại này gây ảnh hưởng tới những người trực tiếp tiếp
xúc khi xử lý rác thải điện tử, đặc biệt là những người sử dụng phương thức xử lý
thô sơ, thủ công. Với những người không trực tiếp xử lý nhưng sống trong khu vực
môi trường bị ô nhiễm bởi rác thải điện tử thì sức khỏe của họ cũng chịu tác động
không nhỏ. Môi trường đất, nước hay không khí bị ô nhiễm bởi rác thải điện tử sẽ
ảnh hưởng đến những loài thực vật, động vật sinh sống ở trong môi trường đó. Mà
những loài thực vật, động vật này lại là nguồn cung cấp thực phẩm cho con người.
Do đó, không chỉ sức khỏe của những người trực tiếp xử lý rác thải mà sức khỏe của
những người sống trong môi trường bị ô nhiễm bởi rác thải điện tử cũng chịu tác
động rất lớn.
Để thấy rõ hơn mức độ độc hại của rác thải điện tử đối với sức khỏe, chúng ta
cùng nhìn vào thực trạng đã và đang diễn ra tại Trung Quốc- nơi được coi là bãi rác
điện tử lớn nhất trên Thế giới hiện nay. Thành phố bé nhỏ Guiyu ở miền duyên hải
Quá trình rác thải điện tử tác động tới môi trường và sức khỏe con người được
khái quát qua sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ: Quá trình tác động của các chất độc trong rác thải điện tử tới môi
trường, con người
Mưa
Các chất
độc
Nhiệt độ
Đổ bỏ,
chôn lấp
Ô nhiễm đất, nước,
thực phẩm
Rác thải
điện tử
Con người
Đốt
Khí độc
Ô nhiễm không khí
Nguồn: Hoàng Xuân Bảo (2012), Đánh giá thực trạng và tiềm năng tái chế chất thải
điện tử trên địa bàn thành phố Hải Phòng, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Khoa học