BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LƢƠNG TUẤN GIANG
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƢƠNG TIỆN GIAO THÔNG
ĐƢỜNG BỘ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ G ÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LƢƠNG TUẤN GIANG
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƢƠNG TIỆN GIAO
THÔNG ĐƢỜNG BỘ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60380104
9
1.2.1. Quy định của pháp luật về tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ từ sau Cách mạng tháng Tám năm
1945 đến trước khi ban hành BLHS 1985 ……………………………
9
1.2.2. Quy định của BLHS 1985 về tội vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ ……………………………..
16
Kết luận Chƣơng 1 ………………………………………………
22
Chƣơng 2. Quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển
phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ trong BLHS năm 1999 trong sự
so sánh với BLHS năm 2015 …………………….……...………….
23
2.1. Quy định của BLHS năm 1999 về tội vi phạm quy định về
điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ ………………………
24
2.1.1. Dấu hiệu định tội của tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ ……………………………………
3.1. Thực tiễn áp dụng quy định về tội vi phạm quy định về điều
kiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ ……………………………
58
3.2. Các biện pháp đảm bảo hiệu quả áp dụng quy định về tội vi
phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ .........................
3.2.1. Biện pháp liên quan đến pháp luật …………………………
68
69
3.2.2. Các biện pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về
tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ... 69
Kết luận Chƣơng 3 ………………………………………………… 71
KẾT LUẬN……………………………………………………………
72
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau những năm đổi mới một cách toàn diện và sâu sắc, đất nước ta đã đạt
được những thành tựu vô cùng to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Quá trình cải cách
chính trị và kinh tế được phát động năm 1986 đã biến Việt Nam từ một trong
những nước nghèo nhất thế giới với thu nhập bình quân đầu người khoảng 100
USD trở thành một nước thu nhập trung bình thấp với thu nhập bình quân đầu
có tới 50% số người tham gia giao thông không dùng đèn báo khi chuyển
hướng, 85% không dùng còi đúng quy định, 70% không dùng phanh tay, 90%
không sử dụng đúng đèn chiếu sáng xa, gần và 72% không đội mũ bảo hiểm khi
ngồi trên mô tô trên những tuyến đường bắt buộc. Ngoài ra, tình trạng vượt đèn
đỏ, uống rượu bia say, chở quá tải, quá tốc độ trong thời gian qua vẫn luôn ở
mức báo động và rất khó kiểm soát. Có thể thấy, những hành vi vi phạm quy
định về an toàn giao thông đường bộ đang diễn ra một cách thường xuyên và
phổ biến trong đời sống hàng ngày, nó không chỉ gây thiệt hại về kinh tế, mà
còn gây thiệt hại nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, đến tính mạng, sức
khỏe con người. Do đó, đấu tranh phòng, chống với loại tội vi phạm quy định về
an toàn giao thông đường bộ hiện nay hơn lúc nào hết đòi hỏi sự nghiêm minh,
kịp thời và kiên quyết.
Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999 đã có những quy
định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đã
góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh và phòng, chống tội phạm này. Tuy
nhiên, xuất phát từ thực tiễn áp dụng hiện nay, các quy định của Bộ luật hình sự
1999 đã bộc lộ những bất cập, chưa được cụ thể, chưa thống nhất, do đó nhận
thức về tội phạm này có nơi, có lúc còn không được nhất quán. Trong một số
trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng còn lúng túng, chưa có quan điểm
thống nhất, hoặc mắc phải thiếu sót trong việc giải quyết các vụ phạm tội vi
phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Hiện nay, Bộ
3
luật hình sự năm 2015 đã được ban hành và có một số đổi mới trong quy định về
tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, cần phải được triển khai,
thực hiện trong thời gian tới (từ 1 tháng 7 năm 2017). Vì vậy, việc nghiên cứu
một cách khoa học, toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về tội
vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ sẽ không chỉ
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quy định của BLHS về tội
vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; thực tiễn áp
dụng quy định và các biện pháp đảm bảo hiệu quả áp dụng quy định về tội loại
tội phạm này.
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu quy định về tội vi phạm quy định về
điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo BLHS năm 1999 trong mối
liên hệ với quy định tương ứng trong BLHS năm 2015 và nghiên cứu thực tiễn
áp dụng quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ theo BLHS năm 1999.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Đưa ra được các biện pháp đảm bảo hiệu quả áp
dụng quy định của BLHS về tội vi phạm các quy định về tham gia giao thông
đường bộ.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Phân tích, làm rõ những vấn đề chung về tội vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ;
+ Phân tích, đánh giá quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ trong BLHS năm 1999 trong sự so sánh với
quy định về tội tội vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ trong
BLHS năm 2015;
5
+ Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định về tội vi phạm quy định
về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ;
+ Kiến nghị các biện pháp đảm bảo hiệu quả áp dụng quy định về tội vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU
KHIỂN PHƢƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm tội vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao
thông đƣờng bộ
Theo khoản 1, Điều 8 BLHS năm 1999 tội phạm được định nghĩa như
sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật
hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc
vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm
phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự,
an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của
công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ
nghĩa.”.
Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
được quy định tại Điều 202 BLHS năm 1999 cũng là một tội phạm nên nó mang
đầy đủ các đặc điểm của tội phạm nói chung như: đặc điểm về tính nguy hiểm
cho xã hội; đặc điểm về hành vi; đặc điểm về lỗi và đặc điểm về chủ thể của tội
phạm.
- Đặc điểm về tính nguy hiểm cho xã hội: Đây được coi là dấu hiệu cơ
bản, quan trọng nhất của mọi tội phạm. Nguy hiểm cho xã hội ở đây được hiểu
là đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình
sự bảo vệ. Cụ thể, đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao
thông đường bộ thì tính nguy hiểm cho xã hội thể hiện ở chỗ xâm phạm đến an
8
9
nghĩa là đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không ở trong tình trạng không
có năng lực trách nhiệm hình sự.
Từ những đặc điểm trên, tác giả xin đưa ra khái niệm về tội vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như sau:
Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là
hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ do người có năng lực
trách nhiệm hình sự mà điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thực hiện
với lỗi vô ý, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức
khoẻ, tài sản của người khác hoặc có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt
nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời.
1.2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội vi phạm quy
định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ
1.2.1. Quy định của pháp luật về tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến
trước khi ban hành BLHS 1985
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi đã mở ra một thời kỳ mới cho
đất nước ta, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Vào thời điểm đó, chính
quyền nước ta mới được thành lập nên còn rất nhiều bỡ ngỡ, đồng thời các thế
lực thù địch vẫn đang âm thầm hoạt động để lật đổ chính quyền non trẻ này. Vì
thế, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa rất chú trọng đến việc bảo vệ, củng
cố và xây dựng chính quyền, xây dựng bộ máy Nhà nước vững mạnh. Song song
với việc dùng vũ trang để chiến đấu chống lại kẻ thù, Chính phủ Việt Nam dân
chủ cộng hòa đã ban hành một loạt các Sắc luật, Sắc lệnh quy định việc trừng trị
những hành động xâm phạm nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội, tài
chính, trật tự, an ninh xã hội và chính quyền Nhà nước.
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ được quy định muộn hơn so với các tội
của Nhà nước ta quy định về quy tắc đảm bảo an toàn giao thông đường bộ.
Tiếp theo văn bản trên, đã có hàng loạt các văn bản pháp luật về đảm bảo an
11
toàn giao thông vận tải được Nhà nước ta ban hành như: Nghị định số 139/NĐ
ngày 19/12/1955 của Bộ Giao thông và Bưu điện sửa đổi Điều 22 và Điều 24
Luật đi đường bộ, Nghị định số 44-NĐ ngày 27/5/1958 của Bộ Giao thông và
Bưu điện sửa đổi Luật đi đường bộ; Nghị định số 10 ngày 11/01/1968 của Hội
đồng Chính phủ ban hành Điều lệ và kỷ luật an toàn giao thông vận tải trong
thời chiến... Các văn bản pháp luật chuyên ngành trên đây là cơ sở cho việc xây
dựng các quy phạm pháp luật về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện
giao thông đường bộ trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Ngày 19/01/1955, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số
442/TTg về việc trừng trị một số tội phạm trong đó có tội vi phạm quy định về
điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; đây có thể coi là quy phạm pháp
luật hình sự đầu tiên quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương
tiện giao thông đường bộ. Tại Điều 4 của Thông tư đã quy định: “Không cẩn
thận hay không theo luật đi đường mà gây tai nạn làm người khác bị thương sẽ
phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm, nếu gây tai nạn làm chết người có thể bi phạt tù
đến 10 năm”.
Rõ ràng, việc ra đời Thông tư số 442/TTg đã đánh dấu một bước phát
triển lớn trong lịch sử lập pháp hình sự nước ta. Cùng với đó, lần đầu tiên tội vi
phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đã được quy
định. Từ quy định của Thông tư số 442/TTg về tội vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét
sau:
- Về quy định về hành vi phạm tội: Theo như quy định của Thông tư số
442/TTg thì những hành vi không cẩn thận hay vi phạm các quy tắc giao thông
sản của nhân dân thì không cấu thành tội phạm.
Sau một thời gian thi hành, Thông tư số 442/TTg đã bộc lộ những hạn chế
trong việc áp dụng đối với trường hợp gây tai nạn làm chết nhiều người hoặc
13
gây thiệt hại lớn cho tài sản của công dân. Chính vì vậy, ngày 29/6/1955 Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số 556/TTg bổ khuyết Thông tư số
442/TTg ngày 19/01/1955 về việc trừng trị một số tội phạm. Thông tư số
556/TTg quy định bổ khuyết Điều 4 Thông tư số 442/TTg như sau:
Không cẩn thận hay không theo luật đi đường mà gây tai nạn làm người
khác bị thương sẽ bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm. Nếu gây tai nạn làm
chết người có thể bị phạt tù đến 10 năm.
Trường hợp gây ra tai nạn lớn làm chết nhiều người và thiệt hại lớn đến
tài sản nhân dân thì có thể bị phạt đến tù chung thân hoặc tử hình
So với quy định tại Thông tư số 442/TTg, quy định về tội vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại Thông tư số 556/TTg đã
bổ sung thêm dấu hiệu gây hậu quả đến tài sản của nhân dân và dấu hiệu làm
chết nhiều người vào dấu hiệu định khung tăng nặng. Tuy nhiên, Thông tư số
556/TTg cũng không quy định dấu hiệu gây thiệt hại đến tài sản của nhân dân là
một dấu hiệu định tội riêng đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương
tiện giao thông đường bộ mà hậu quả gây thiệt hại lớn đến tài sản nhân dân phải
đi kèm với hậu quả làm chết nhiều người thì mới cấu thành tội phạm tăng nặng.
Có thể thấy, Thông tư số 556/TTg vẫn chưa thể khắc phục hoàn toàn những hạn
chế của Thông tư số 442/TTg về quy định tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ.
Như vậy, trong suốt thời gian dài từ sau ngày giải phóng miền Bắc năm
1954 đến trước ngày giải phóng miền Nam năm 1975, tội vi phạm quy định về
điều khiển phương tiện giao thông đường bộ vẫn chỉ được xử lý theo Thông tư
phương tiện giao thông. Điểm khác biệt lớn nhất của quy định trong Sắc luật số
03 – SL/76 so với quy định tại Thông tư số 442/TTg và 556/TTg là đã quy định
dấu hiệu gây thiệt hại cho tài sản cũng sẽ cấu thành tội phạm (Sắc luật số 03 –
SL/76 quy định gây tại nạn nghiêm trọng nên có thể hiểu rằng thiệt hại ở đây là
thiệt hại về sức khỏe, tính mạng cũng như tài sản).
15
- Về khung hình phạt: Sắc luật số 03 – SL/76 đã quy định hai khung hình
phạt chính là:
+ Khung thứ nhất (khung cơ bản) có mức phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm áp
dụng cho trường hợp gây tai nạn nghiêm trọng.
+ Khung thứ hai (khung tăng nặng) có mức phạt tù đến 15 năm tù áp dụng
trong trường hợp gây tai nạn đặc biệt nghiêm trọng.
Như vậy, Sắc luật số 03 – SL/76 đã không còn quy định khung hình phạt
cao nhất dành cho tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ nói riêng hay tội vi phạm luật lệ giao thông nói chung là chung thân
và tử hình như quy định tại Thông tư 556/TTg mà thay vào đó khung hình phạt
với mức cao nhất chỉ là 15 năm tù. Ngoài ra, Sắc luật số 03 – SL/76 đã quy định
thêm một hình phạt bổ sung nữa đó là hình phạt tiền dành cho người phạm tội.
Sắc luật số 03 – SL/76 đã thể hiện một bước tiến bộ hơn so với Thông tư số
442/TTg và 556/TTg trong việc quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông, qua đó góp phần vào việc xử lý tội phạm này trong thời
kỳ đó. Tuy nhiên, trong Sắc luật số 03 – SL/76 thì tội vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ vẫn được quy định chung với các tội vi
phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt, đường thủy,
đường hàng không nên chưa thể hiện được sự phân hóa trách nhiệm hình sự cao.
1.2.2. Quy định của BLHS 1985 về tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ
người bị nạn.
3- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm
đến hai mươi năm.
17
4- Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc
biệt nghiêm trọng nếu được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không
giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
So với các văn bản trước đây quy định về tội vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ, BLHS năm 1985 đã có một bước tiến
mới trong kỹ thuật lập pháp. BLHS năm 1985 đã quy định hành vi vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong một điều luật về tội
danh “Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả
nghiêm trọng”. Quy định về tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận
tải gây hậu quả nghiêm trọng trong BLHS năm 1985 có một số điểm mới như
sau:
- Điều luật đã quy định rõ tội danh.
- Điều luật đã mô tả cụ thể các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội vi phạm
các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng bao gồm:
+ Dấu hiệu về khách thể của tội phạm: khách thể trực tiếp của tội vi phạm
các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều
186 BLHS năm 1985 là an toàn giao thông vận tải nói chung bao gồm: an toàn
giao thông vận tải đường bộ, an toàn giao thông vận tải đường sắt, an toàn giao
thông vận tải đường thủy và an toàn giao thông vận tải đường hàng không.
+ Dấu hiệu về chủ thể của tội phạm: chủ thể của tội vi phạm các quy định
về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng phải là người có năng
lực trách nhiệm hình sự tức là người không phải đang mắc bệnh tâm thần hoặc
một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
- Bước tiến lớn nhất của BLHS năm 1985 so với các văn bản quy phạm
pháp luật trước đó trong quy định về tội vi phạm các quy định về an toàn giao
thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng được thể hiện trong quy định về các tình
tiết định khung tăng nặng. Điều 186 BLHS năm 1985 đã quy định các tình tiết
định khung tăng nặng tại khoản 2 và 3 của Điều luật. Các tình tiết đó bao gồm:
19
+ Điều khiển phương tiện giao thông vận tải mà không có bằng lái; trong
khi say rượu hoặc say do dùng chất kích thích khác;
+ Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp
người bị nạn;
+ Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. (Tuy nhiên tại thời điểm BLHS
năm 1985 có hiệu lực thì lại không có văn bản nào hướng dẫn định lượng tình
tiết này)
- Về khung hình phạt, điều luật đã quy định một khung hình phạt cơ bản
(cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm)
và hai khung hình phạt tăng nặng (khoản 2, 3 Điều 186 BLHS năm 1985). Điều
này đã khắc phục được hạn chế trong việc xét xử không thống nhất khi sử dụng
các văn bản quy định trước đó.
- Về hình phạt, điều luật quy định hình phạt chính là cải tạo không giam
giữ và hình phạt tù. Như vậy, khác với các văn bản trước đây, BLHS năm 1985
đã quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các trường hợp phạm
tội mà thiệt hại gây ra là ít nghiêm trọng, đây là một tiến bộ lớn của BLHS năm
1985. Ngoài ra, Điều 186 BLHS năm 1985 đã không quy định áp dụng hình phạt
tù chung thân hoặc tử hình đối với tội phạm này và quy định mức hình phạt cao
nhất của hình phạt tù tăng lên là 20 năm.
- Bên cạnh hình phạt chính, BLHS năm 1985 còn quy định người phạm
tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm những chức vụ,
Điều 186 BLHS năm 1985.
Kế thừa và phát huy những tiến bộ cũng như từ thực tiễn áp dụng BLHS
năm 1985 trong việc đấu tranh chống và phòng ngừa tội vi phạm quy định về an
toàn giao thông vận tải trong nhiều năm, BLHS năm 1999 quy định tách các
hành vi phạm tội được quy định tại Điều 186 BLHS năm 1985 thành bốn tội
phạm khác nhau tại bốn điều luật khác nhau. Đó là các tội danh sau:
- Điều 202: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ.
- Điều 208: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường sắt.