Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong luật hình sự việt nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn hà nội - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TẠ THỊ THU HƢƠNG

TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƢỜI
KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI HÀ NỘI.

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 60380104

Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Văn Hùng

HÀ NỘI - NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo chính xác,
tin cậy và trung thực. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu,
phân tích một cách khách quan và phù hợp với thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà
Nội. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Trường Đại học Luật Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn !



Tòa án nhân dân tối cao

TNHS:

Trách nhiệm hình sự

VKSNDTC:

Viện kiểm sát nhân dân tối cao


DANH MỤC BẢNG

Số hiệu
bảng
Bảng số 1

Tên bảng

Trang

Số vụ/số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội chứa chấp,

56

tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trên
địa bàn thành phố Hà Nôi từ năm 2011 – 2015

Bảng số 2

chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có trên địa bàn thành phố Hà Nôi từ năm 2011 –
2015.
Biểu đồ số 2

Cơ cấu kết quả xét xử sơ thẩm đối với các bị cáo
phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có trong 5 năm (từ 2011-2015)

79


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu
Mục lục
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài……………………………………………......

1

2. Tình hình nghiên cứu đề tài…………………………………………….

2

3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.. 4
3.1. Mục đích nghiên cứu ………………………………………………....... 4

tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có …………………………

11


1.2.1. Trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999………………… …… 11
1.2.2. Quy định tại Bộ luật hình sự năm 1999………………………………. 18
1.2.3. Quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015………………………………. 19
1.3. Các yếu tố cấu thành của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
ngƣời khác phạm tội mà có………………………………………………

22

1.3.1. Khách thể của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có …………………………………………………………….

23

1.3.2. Mặt khách quan của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có………………………………………………………………

29

1.3.3. Chủ thể của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có……………………………………………………………………

34

1.3.4. Mặt chủ quan của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có ……………………………………………………………… 35

phạm tội mà có …………………………………………………………….

51


2.2. Thực tiễn định tội danh ………………………………………………

55

2.3. Thực tiễn quyết định hình phạt ……………………………………… 66
2.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử tội chứa chấp
hoặc tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có …………………..... 75
Kết luận Chƣơng 2…………………………………………………………

84

PHẦN KẾT LUẬN ……………………………………………………....... 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành
công cuộc đổi mới một cách toàn diện từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI cho tới nay
và đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng. Nền kinh tế chuyển từ chế độ quản
lý tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa dưới sự quản lý của Nhà nước đã vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăng
trưởng khá cao. Tình hình chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được


hoặc đấu tranh phòng ngừa tội xâm phạm trật tự công cộng trên một địa bàn nhất
định. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách
toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật và thực tiễn
xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học. Đặc biệt là
những quy định mới của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có trong Bộ luật hình sự năm 2015.
Việc nghiên cứu toàn diện vấn đề lý luận và các quy định của BLHS về tội
chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo BLHS 1999 và
Bộ luật hình sự năm 2015, cũng như đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng các quy định về tội phạm này vẫn là vấn đề cần thiết trên cả hai phương diện
lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta hiểu rõ hơn và có hệ thống những
vấn đề pháp lý cơ bản với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có theo luật hình sự Việt Nam như: Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý, trách
nhiệm hình sự (TNHS) đối với người phạm tội và thực tiễn xét xử với tội chứa
chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong thời gian từ năm
2010 – 2015 trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Trên cơ sở đó, luận văn chỉ ra một số vướng mắc làm cản trở công tác giải
quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải
pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy
định của BLHS Việt Nam về xử lý loại tội phạm này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đạt được mục đích trên, luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ
sau: a) Phân tích, làm rõ lịch sử hình thành và phát triển những quy định về tội
chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong luật hình sự
Việt Nam; b) Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận như: khái niệm, dấu hiệu

chiếu; phân tích quy phạm pháp luật, khảo sát thực tiễn; nghiên cứu, điều tra án
điển hình để phân tích và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên cứu trong
luận văn này.


6

5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
5.1. Về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu và những đề xuất của luận văn sẽ có ý nghĩa quan trọng
đối với việc nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật hình sự
hiện hành về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ở
nước ta. Và đồng thời, cũng thông qua kết quả nghiên cứu của luận văn tác giả
mong muốn luận văn của mình cũng góp phần hoàn thiện hơn lý luận về hành vi
chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong khoa học luật
hình sự Việt Nam và từ đó cũng góp phần thúc đấy sự phát triển khoa học luật hình
sự ở Việt Nam hiện nay.
5.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập. Những
đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận chứng khoa học phục vụ
cho công tác lập pháp và nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, truy tố và xét xử
đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Đồng
thời qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội chứa
chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có theo luật hình sự Việt Nam;
Chương 2: Thực tiễn xét xử tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác

lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế…xâm phạm
những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.4
Khái niệm này đã thể hiện một cách rõ ràng, cụ thể về tội phạm: đó là hành
vi (của một hoặc một nhóm người) nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm các quy định
của BLHS, vi phạm các chuẩn mực đạo đức, phá vỡ các trật tự bình thường của
2

Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2005, tr 349.
Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2005, tr 1603 .
4
Bộ luật Hình sự, Nxb Lao động. năm 2014, trang 41.
3


8

hoạt động xã hội, gây ra những hậu quả xấu cho lợi ích của xã hội và cần phải
trừng trị. Hơn nữa, khái niệm này cũng đã khái quát được đầy đủ 4 yếu cấu thành
của tội phạm: khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan.
Theo từ điển Luật học, thì “hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm
tội mà có là hành vi cất giấu hoặc tạo điều kiện cho việc cất giấu những tài sản
mình biết rõ do hành vi phạm tội của người khác mà có được5”. Còn “hành vi tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là hành vi mua, trao đổi, nhận hoặc giúp
cho việc mua bán, trao đổi tài sản do người khác phạm tội mà có6”.
Và khi thực hiện hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có thì người đó không có sự hứa hẹn trước với người có tài sản do phạm tội
mà có, vì nếu có hứa hẹn trước thì người thực hiện hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ
tài sản do người khác phạm tội sẽ là người giúp sức trong đồng phạm của tội phạm
đã thực hiện để có được tài sản.
Trên cơ sở này có thể đưa ra khái niệm của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

Tại Điều 2 của Bộ luật hình sự 1999 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội
đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Do vậy, chỉ
người nào phạm một trong các tội được quy định trong Bộ luật hình sự mới phải
chịu trách nhiệm hình sự. Hay nói cách khác không thể có tội phạm nếu như hành
vi đó chưa được mô tả tại một điều Luật cụ thể ở phần các tội phạm của Bộ luật
hình sự. Như vậy, người nào đó thực hiện hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản
do nguời khác phạm tội mà có chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này nếu
hành vi của người đó phù hợp với hành vi được mô tả tại Điều 250 của Bộ luật
hình sự. Còn hành vi đó mà không được quy định tại Điều 250 của Bộ luật hình sự
thì không thể coi người đó phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có.
Dấu hiệu thứ ba của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có là do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện
Người có năng lực trách nhiệm hình sự là con người cụ thể đạt độ tuổi do pháp
luật hình sự quy định, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Điều
12 của Bộ luật hình sự quy định độ tuổi chịu TNHS như sau: “1. Người từ đủ 16
tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. 2. Người từ đủ 14 tuổi
trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất
nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng7”.
7

Bộ luật hình sự, Nxb Lao động, năm 2014, trang 46.


10

Như vậy, đối với người thực hiện hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có sẽ bị truy cứu TNHS khi họ có đủ năng lực TNHS theo
điều 12 Bộ luật hình sự và không thuộc trường hợp không có năng lực TNHS (là
trường hợp khi thực hiện hành vi tội phạm họ đang mắc bệnh tâm thần hoặc một

tác đấu tranh phòng và chống tội phạm đạt hiệu quả.
Đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có,
người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc
một số hình phạt bổ sung. Theo quy định tại Điều 250 Bộ luật hình sự thì hình phạt
chính có thể áp dụng là: phạt tiền; cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn và hình
phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật hình sự là phạt tiền; tịch
thu tài sản, và tùy từng trường hợp cụ thể mà có thể áp dụng cả hai hình phạt bổ
sung hoặc một trong hai hình phạt bổ sung.
Tóm lại, các dấu hiệu trên là những dấu hiệu chung của khái niệm tội chứa
chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Các dấu hiệu đó là cơ sở
để phân biệt tội phạm với hành vi chưa cấu thành tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có và cũng được thể hiện trong CTTP được quy
định trong Bộ luật hình sự.
1.2. Khát quát lịch sử lập pháp hình sự quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu
thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có
Mỗi loại tội phạm đều có lịch sử hình thành và phát triển, giai đoạn sau là sự
kế thừa và phát triển của giai đoạn trước và tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có cũng trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển
như vậy. Chính vì vậy, tác giả sẽ đi nghiên cứu lịch sử lập pháp về tội chứa chấp
hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo ba giai đoạn:
1.2.1. Trước khi ban hành bộ Luật hình sự năm 1999
* Dưới chế độ phong kiến đến trước cách mạng tháng 8 năm 1945
Dưới chế độ phong kiến các triều đại đều sử dụng luật pháp là công cụ điều
chỉnh các quan hệ xã hội, bảo vệ chế độ phong kiến đặc biệt là xây dựng hệ thống
hình luật. Trong đó, việc xây dựng và áp dụng hệ thống hình luật thành công nhất
trong lịch sử phong kiến của nước ta phải kể đến Bộ luật Hồng Đức (hay còn gọi là
Quốc triều hình luật) dưới thời Vua Lê Thánh Tông vào năm 1483, “được coi là


12

Lê Thị Sơn (2004), Quốc triều hình luật, Nxb Khoa học xã hội, năm 2004, trang 5.
Quốc triều hình luật, Nxb Chính trị quốc gia Hà nội năm 1995, trang 166.
10
Nguyễn Văn Thành, Vũ Trinh, Trần Hựu (1994),Hoàng Việt luật lệ, Nxb Văn hóa thông tin,năm 1994, trang 650.
9


13

tội mà có, có liên quan đến một tội chính là tội trộm cắp tài sản. Nếu người chứa
chấp tài sản trộm cắp cố ý cùng thực hiện tội trộm cắp dưới dạng giúp sức, chứa
chấp tài sản trộm cắp được, được chia tang vật trộm cắp được, thì bị xử chém cùng
những người trộm cắp; nếu cùng thực hiện tội trộm cắp và sau đó chứa chấp tài sản
trộm cắp được, thì không cần biết có được chia tang vật trộm cắp được hay không,
đều bị xử chém. Còn trong trường hợp người chứa chấp tài sản trộm cắp không
thực hiện tội trộm cắp và cũng không được chia tang vật trộm cắp được, thì phạt
100 trượng, lưu 3000 dặm. Và nếu ai không biết tài sản có được do trộm cắp, chỉ là
chứa tạm thì không buộc tội.
Trong Hoàng Việt Hình Luật dưới thời Pháp thuộc tội này được quy định tại
khoản 6 Điều 351: “người nào tri tình mà oa trữ một phần hay toàn phần của trộm
cướp hoặc của lừa gạt hoặc của gì do phạm tội đại hình mà lấy được, thì người oa
trữ sẽ bị phạt một nửa tội danh mà luật đã định phạt về tội đại hình ấy mà người
ao trữ đã tri tình”, “oa trữ” chỉ hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ của gian. Như vậy,
cả Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long và Hoàng Việt Hình Luật đều đã đề cập
đến tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Đặc biệt
Hoàng Việt Hình Luật cũng đã có bước tiến mới khi quy định loại tội này không
chỉ liên quan đến tội trộm cắp tài sản như trong Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia
Long mà có liên quan đến các loại tội phạm khác11.
* Từ khi cách mạng tháng 8 thành công đến trước năm 1985.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, để bảo vệ những công trình,

thỏa thuận trước giữa những người chứa chấp hoặc tiêu thụ với người thực hiện
hành vi chiếm đoạt tài sản.
Để quy định cụ thể hơn về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có nhằm bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tài sản riêng của công dân
việc Nhà nước ban hành hai pháp lệnh: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài
sản xã hội chủ nghĩa 1970 và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng
của công dân 1970 là cần thiết và đúng đắn. Cụ thể: tại Điều 17 Pháp lệnh trừng trị
các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa 1970 thì tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài
sản xã hội chủ nghĩa bị chiếm đoạt được quy định: “1. Kẻ nào biết rõ là tài sản xã
hội chủ nghĩa đã bị chiếm đoạt mà chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản đó thì bị phạt tù
từ 6 tháng đến 5 năm. 2. Phạm tội trong những trường hợp sau đây: a) Có tính
chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm; b) Có tổ chức; c) Chứa chấp hoặc
tiêu thụ tài sản với số lượng lớn hay là tài sản có giá trị đặc biệt; d) Dùng tài sản


15

chứa chấp vào việc kinh doanh, bóc lột, đầu cơ, đút lót hoặc vào những việc phạm
tội khác; Thì bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm.” và tại Điều 13 Pháp lệnh trừng trị
các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân 1970 thì tội chứa chấp hoặc tiêu thụ
tài sản riêng của công dân bị chiếm đoạt cũng được quy định tương tự12.
Trong hai pháp lệnh này, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản riêng của công
dân bị chiếm đoạt và tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản xã hội chủ nghĩa bị chiếm
đoạt đã được quy định thành tội danh riêng. Về kỹ thuật lập pháp cơ bản là giống
nhau về cách quy định tội danh, những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng và quy
định cụ thể cấu thành cơ bản của tội phạm, các cấu thành tội phạm tăng nặng cũng
được xác định với các tình tiết tăng nặng cụ thể và tương ứng với khung hình phạt
phù hợp với mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau của tội phạm. Ngoài ra, về
khách thể của tội phạm thì cả hai pháp lệnh đều xác định tội này có khách thể là
quan hệ sở hữu và được xếp vào nhóm tội cố ý trực tiếp xâm phạm tài sản.

đoạt trong các văn bản pháp luật hình sự ban hành trước đây, tội chứa chấp hoặc
tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong Bộ luật hình sự năm 1985 có
tính khái quát cao hơn, nội hàm rộng, chính xác hơn. Cụ thể, không chỉ chứa chấp
hoặc tiêu thụ tài sản xã hội chủ nghĩa, tài sản riêng của công dân do hành vi chiếm
đoạt mà có, mà còn cả những tài sản khác do những hành vi phạm tội khác gây ra.
Thứ hai, về trách nhiệm hình sự: Bộ luật hình sự năm 1985 đã quy định ba
khung hình phạt, ngoài khung cơ bản, còn có hai khung tăng nặng hình phạt. So
với các văn bản pháp luật hình sự ban hành trước đây, quy định về tội chứa chấp
hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong Bộ luật hình sự năm
1985, thể hiện sự phân hóa trách nhiệm hình sự rõ ràng, với các tình tiết tăng nặng
định khung hình phạt cụ thể hơn, từ đó tạo điều kiện cá thể hóa trách nhiệm hình
sự trong áp dụng pháp luật. Ngoài ra, theo các khoản 2, khoản 3 Điều 218 người
phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có còn có thể
bị quản chế hoặc cấm cư trú từ một đến năm năm. Bị phạt tiền từ 1.000 đồng đến
50.000 đồng và có thể bị tịch thu một phần tài sản: “Điều 218. Hình phạt bổ
sung[……] 2. Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều từ 199 đến
203, thì có thể bị quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm. 3. Người
nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều từ 199 đến 203, thì bị phạt tiền từ

13

Số chuyên đề về Bộ luật hình sự 1999, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, năm 2000, trang 237.


17

một nghìn đồng (1.000) đến năm mươi nghìn đồng (50.000 đồng) và có thể bị tịch
thu một phần tài sản14.
Thứ ba, Bộ luật hình sự năm 1985 đã quy định, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ
tài sản do người khác phạm tội mà có thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status