BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC
THƯƠNG MẠI - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
NGÔ XUÂN VĨNH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. BÙI NGỌC CƯỜNG
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn trích dẫn đầy đủ và trung
thực. Kết quả nêu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Hà Nội, ngày 17 tháng 12 năm 2016
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Ngô Xuân Vĩnh
ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP
ĐỒNG THƯƠNG MẠI ............................................................................................. 6
1.1. Khái quát về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại ................................ 6
1.1.1. Hợp đồng thương mại - hình thức pháp lý chủ yếu của các quan hệ kinh
doanh trong nền kinh tế thị trường .................................................................... 6
1.1.2. Khái niệm chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại.............................. 11
1.1.3. Đặc điểm của chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại ........................ 13
1.2. Ý nghĩa của chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại ............................... 14
1.3. Khái quát pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại ............. 16
1.3.1. Nguồn pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại ............... 16
1.3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng các quy định pháp luật về
chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại ......................................................... 19
1.3.3. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về chế tài do vi phạm
hợp đồng thương mại ở Việt Nam .................................................................... 21
1.3.3.1. Pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại trong cơ chế tập
trung bao cấp ................................................................................................ 22
1.3.3.2. Pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại từ khi ban hành
Pháp lệnh Hợp đòng kinh tế ngày 25 tháng 9 năm 1989 đến năm 2006. ........ 23
1.3.3.3. Pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại từ năm 2006
(khi Luật Thương mại năm 2005 có hiệu lực) đến nay ................................... 26
1.3.4. Những nội dung cơ bản của pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng
thương mại ....................................................................................................... 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1......................................................................................... 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP
LUẬT VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
.................................................................................................................................. 30
2.1. Các căn cứ áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại ................... 30
2.1.1. Hành vi vi phạm hợp đồng thương mại .................................................. 30
3.2.1. Bổ sung quy định về vi phạm hợp đồng trước thời hạn.......................... 61
3.2.2. Hoàn thiện quy định về quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp
đồng và các hình thức chế tài khác .................................................................. 61
3.2.3. Hoàn thiện quy định về chế tài phạt vi phạm ......................................... 62
3.2.4. Bổ sung quy định loại trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 266
trong căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 303
Luật Thương mại năm 2005............................................................................. 63
3.2.5. Hoàn thiện quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm
hợp đồng thương mại ....................................................................................... 63
3.2.5.1. Quy định cụ thể về các điều kiện để xác định một sự kiện là căn cứ
miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng ......................................................... 63
3.2.5.2. Bổ sung quy định điều kiện để công nhận thỏa thuận miễn trừ trách
nhiệm hợp đồng giữa các bên ........................................................................ 64
3.3.5.3. Quy định rõ về trường hợp miễn trách nhiệm do xảy ra sự kiện bất khả
kháng ............................................................................................................ 64
3.2.5.4. Quy định cụ thể về trường hợp thực hiện quyết định của cơ quan quản
lý Nhà nước có thẩm quyền là căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
...................................................................................................................... 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3......................................................................................... 66
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................. 69
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12 năm
1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đưa ra những quan niệm mới về con
đồng và tăng cường trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng. So
với Luật Thương mại năm 1997, phần chế tài trong Luật Thương mại năm 2005 được
bổ sung và hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu
rộng các quan hệ thương mại ngày càng đa dạng và phức tạp, đặc biệt là các quan hệ
thương mại quốc tế thì các quy định hiện hành về chế tài trong thương mại vẫn còn
nhiều bất cập, đặc biệt là những khác biệt giữa các quy định về các hình thức chế tài
trong Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005, gây không ít khó khăn
cho việc áp dụng và thực thi pháp luật.
Hơn nữa, quy định về các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
hiện nay còn rất nhiều bất cập, đòi hỏi phải có một công trình nghiên cứu pháp luật về
chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại một cách tổng quát trên cả phương diện lý
luận cũng như thực tiễn pháp luật để thấy được vị trí, vai trò cũng như mối quan hệ
giữa các hình thức chế tài trong thương mại và giữa chế tài trong thương mại so với
các hình thức chế tài khác trong hệ thống pháp luật.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Chế tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực
thương mại - những vấn đề lý luận và thực tiễn" hiện nay mang tính cấp thiết nhằm
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ thương mại cũng như
duy trì trật tự kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy tiến bộ xã
hội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua chủ đề nghiên cứu về chế tài do vi phạm hợp đồng thương
mại đã thu hút được sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu ở những góc độ và phạm
vi khác nhau như:
- Cuốn sách: "Áp dụng trách nhiệm hợp đồng trong kinh doanh" của tác giả
Nguyễn Thị Dung (Nxb Chính trị quốc gia năm 2001);
3
- Tác giả Quách Thúy Quỳnh với luận văn thạc sỹ luật học năm 2005, Trường
4
chế tài.. Luận văn nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng
thương mại theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, ngoài ra có sự đối chiếu
với các quy định của Bộ Luật dân sự năm 2005 và Bộ Luật dân sự năm 2015 sẽ có
hiệu lực từ ngày 01- 01- 2017. Đồng thời so sánh các quy định về chế tài do vi phạm
hợp đồng thương mại của Việt Nam với một số quốc gia cũng như các điều ước quốc
tế có liên quan trong một số trường hợp cần thiết để thực hiện được mục tiêu nghiên
cứu.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về
Nhà nước và pháp luật cũng như hệ thống các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà
nước ta trong sự nghiệp đổi mới. Đó là các quan điểm, chủ trương trong lĩnh vực xây
dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước, đặc biệt là các quan điểm về xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật trong cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết
học Mác - Lênin, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,
phương pháp lịch sử và phương pháp so sánh, khảo cứu thực tiễn để nghiên cứu những
vấn đề về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại ở Việt Nam.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật
về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại ở Việt Nam để từ đó đề xuất các giải pháp
cụ thể tiếp tục hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Để thực hiện được mục đích trên, các nhiệm vụ mà luận văn phải giải quyết
gồm:
- Nghiên cứu, làm rõ bản chất pháp lý, ý nghĩa của chế tài do vi phạm hợp đồng
thương mại, cấu trúc pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại và quá
trình hình thành và phát triển của các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng thương
mại ở Việt Nam.
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM
HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
1.1.1. Hợp đồng thương mại - hình thức pháp lý chủ yếu của các quan hệ
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, hình thức pháp lý chủ yếu của các quan hệ tài sản
nói chung và các quan hệ kinh doanh nói riêng chính là hợp đồng. "Bản chất của hợp
đồng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hay
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trên cơ sở tự do, tự nguyện và bình đẳng" [10, tr.109].
Tuy nhiên, một thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ
được coi là hợp pháp khi được Nhà nước thừa nhận và đảm bảo thực hiện, tức là phải
đảm bảo các yêu cầu về thẩm quyền giao kết; về mục đích, đối tượng giao kết; về hình
thức của sự thỏa thuận... đó chính là các quy định của pháp luật về hợp đồng. Một thỏa
thuận đáp ứng được các yêu cầu trên là một hợp đồng hợp pháp.
Pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng thương mại nói riêng luôn là nội
dung quan trọng trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia và hợp đồng thương mại là
công cụ pháp lý chủ yếu để các thương nhân thực hiện hoạt động kinh doanh thu lợi
nhuận của mình. Tuy nhiên, với những truyền thống pháp luật khác nhau, trình độ phát
triển kinh tế, xã hội và tập quán kinh doanh không đồng nhất mà quan niệm về hợp
đồng thương mại còn có sự khác nhau giữa các quốc gia.
Ở các nước theo truyền thống pháp luật châu Âu lục địa (Civil Law) như Pháp,
Đức và các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật này thì khái niệm hợp
đồng thương mại chỉ là khái niệm mang tính học thuật chứ không phải thuật ngữ chính
thức được sử dụng trong pháp luật thực định. "Pháp luật của các nước này không có
không do bên không có mục đích lợi nhuận quyết định (Khoản 3 Điều 1 Luật thương
mại năm 2005).
Thứ tư, một đặc trưng khác của hợp đồng thương mại là tính bồi hoàn. "Pháp
luật của hầu hết các nước đều quy định hợp đồng thương mại phải mang tính bồi hoàn.
Ngay cả khi trong hợp đồng không có thỏa thuận về giá cả thì một bên trong hợp đồng
thương mại có quyền yêu cầu thanh toán bằng tiền hoặc bằng các hình thức khác do
việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng"[8].
Thứ năm, pháp luật thương mại các nước có những yêu cầu khắt khe hơn đối
với thương nhân tham gia quan hệ hợp đồng. Ví dụ, thương nhân phải đáp ứng yêu cầu
về sự trung thực, cẩn trọng khi giao kết và thực hiện hợp đồng (Điều 347 Bộ luật
thương mại Đức). Nguyên tắc hợp lý và tận tâm cũng được quy định trong pháp luật
của các nước theo truyền thống pháp luật Anh - Mỹ. Bộ luật thương mại thống nhất
Hoa Kỳ định nghĩa tận tâm là sự trung thực và tuân thủ các tiêu chuẩn thương mại hợp
lý khi tiến hành các thương vụ một cách trung thực. Hơn nữa, pháp luật của hầu hết
11
các nước không phân biệt hệ thống pháp luật đều buộc thương nhân phải chịu trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại mà không phụ thuộc vào lỗi.
1.1.2. Khái niệm chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là một loại chế tài phát sinh trong quá
trình thực hiện hợp đồng, do đó để hiểu thế nào là chế tài do vi phạm hợp đồng thương
mại cần hiểu khái niệm chế tài.
Chế tài là một khái niệm mang tính chất pháp lý, hiểu theo nghĩa hẹp là một bộ
phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động mà Nhà nước dự kiến
để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh. Các biện pháp tác động nêu ở
bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật sẽ được áp dụng đối với tổ chức hay cá nhân
nào vi phạm pháp luật, không thực hiện đúng mệnh lệnh của Nhà nước đã nêu ở bộ
phận quy định của quy phạm pháp luật.
bồi thường thiệt hại là chế tài được áp dụng phổ biến nhất.
Pháp luật Việt Nam cũng chỉ đưa ra khái niệm "Vi phạm hợp đồng là việc một
bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo
thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này" (Khoản 12 Điều 3 Luật
thương mại năm 2005) và liệt kê các loại chế tài trong thương mại, bao gồm: Buộc
thực hiện đúng hợp đồng; Phạt vi phạm; Buộc bồi thường thiệt hại; Tạm ngừng thực
hiện hợp đồng; Đình chỉ thực hiện hợp đồng; Hủy bỏ hợp đồng; và các biện pháp khác
do các bên thỏa thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều
ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế (Điều 292
Luật thương mại năm 2005).
Các hình thức chế tài được liệt kê nêu trên là các loại chế tài áp dụng đối với
hành vi vi phạm hợp đồng thương mại. Như vậy, chế tài do vi phạm hợp đồng thương
mại theo quy định của Luật thương mại năm 2005 là trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
thương mại, là sự gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi của bên có hành vi vi phạm hợp
đồng.
Một cách khái quát có thể hiểu: chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là
hình thức chế tài áp dụng đối với các chủ thể không thực hiện hay thực hiện không
đúng, không đầy đủ các cam kết theo hợp đồng, theo đó bên có hành vi vi phạm hợp
đồng thương mại phải gánh chịu một hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi vi phạm của
mình gây ra.
13
1.1.3. Đặc điểm của chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại có một số đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, về căn cứ phát sinh: chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại phát
sinh trong lĩnh vực thương mại khi có hành vi vi phạm một hợp đồng thương mại có
hiệu lực pháp luật. Khác với các loại chế tài pháp lý nói chung được áp dụng đối với
mọi hành vi vi phạm pháp luật, chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại chỉ được áp
đã liệt kê có 6 hình thức chế tài cụ thể do vi phạm hợp đồng thương mại và các hình
thức khác do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định pháp luật. Để đảm bảo nguyên
tắc tự do kinh doanh, tự do hợp đồng, khi các bên tự nguyện thiết lập quan hệ hợp
đồng thì nghĩa vụ hợp đồng là nghĩa vụ trực tiếp giữa các bên. Do đó, khi xảy ra vi
phạm hợp đồng, bên vi phạm phải trực tiếp chịu trách nhiệm với bên bị vi phạm, tức
trực tiếp gánh chịu hậu quả bất lợi, còn bên bị vi phạm sẽ trực tiếp được thụ hưởng
những bù đắp vật chất mà bên vi phạm phải thực hiện.
Thứ năm, mục đích của việc xây dựng và áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng
thương mại là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp
đồng. Xây dựng chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại trước tiên là để ngăn ngừa và
hạn chế những hành vi vi phạm hợp đồng và khi xảy ra vi phạm hợp đồng là nhằm
khôi phục lại trạng thái ban đầu, bồi hoàn những tổn thất đã xảy ra và trừng phạt bên
có hành vi vi phạm.
1.2. Ý nghĩa của chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, quyền tự do kinh doanh, trong đó có quyền tự do
hợp đồng đã được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Các hợp đồng thương mại được giao
kết hợp pháp phải trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, việc vi phạm các nghĩa vụ theo
hợp đồng sẽ phải chịu những chế tài theo thỏa thuận giữa các bên và quy định của
pháp luật. Do đó, chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại có ý nghĩa quan trọng, thể
hiện ở một số khía cạnh cơ bản sau:
Thứ nhất, chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng thương mại. Khi tham gia vào quan hệ hợp
đồng thương mại, các bên đều hướng đến những lợi ích nhất định. Lợi ích này trước
hết là những lợi ích hợp pháp nhận được từ việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng như
lợi nhuận mua, bán hàng hóa hay phí dịch vụ... Hành vi vi phạm hợp đồng sẽ trực tiếp
15
ảnh hưởng, làm giảm sút những lợi ích trên của bên bị vi phạm và để bảo vệ lợi ích
16
đó, chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại góp phần đảm bảo cho quyền tự do hợp
đồng được thực hiện và đảm bảo trật tự vận hành của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
1.3. Khái quát pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
1.3.1. Nguồn pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta, các quan hệ thương mại có phương thức hình thành chủ yếu là thông qua các
quan hệ hợp đồng. Pháp luật hợp đồng chính là nền tảng pháp lý của mọi sự thỏa thuận
tự nguyện, luôn đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các quan hệ hợp đồng bình
đẳng, an toàn, cùng có lợi giữa các tổ chức, cá nhân.
Việc pháp luật quy định và từng bước mở rộng quyền tự do kinh doanh, tự do
hợp đồng đã tạo ra sức sống mới cho các doanh nghiệp và diện mạo mới cho nền kinh
tế. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và ổn định các quan hệ
kinh tế, bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Do
đó, pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại có ý nghĩa quan trọng không
chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể trong quan hệ hợp đồng mà còn
nhằm duy trì trật tự cho cả nền kinh tế.
Hiểu một cách khái quát: Pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh do vi phạm chế độ pháp lý về hợp đồng thương mại.
Cấu trúc pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại có sự khác nhau
phụ thuộc vào hệ thống pháp luật đó thừa nhận những nguồn luật nào điều chỉnh lĩnh
vực pháp luật này. Ở các nước theo hệ thống thông luật (Common Law) như Anh, Mỹ,
án lệ là nguồn luật quan trọng, thẩm phán có quyền giải thích và sáng tạo pháp luật.
Còn ở những nước theo hệ thống dân luật (Civil Law) như Pháp, Đức, thẩm quyền này
của thẩm phán bị hạn chế, án lệ là nguồn luật không chủ yếu, khi xét xử chủ yếu dựa
vào các quy định của luật, văn bản dưới luật, thậm chí Điều 5 Bộ luật Dân sự Pháp quy
định "Cấm các thẩm phán đặt ra các quy định chung có tính chất quy chế để tuyên án
hệ đó mà còn đưa ra nguyên tắc áp dụng pháp luật. Theo đó, trong một quan hệ cụ thể
các quy định của luật chuyên ngành sẽ được ưu tiên áp dụng trước, những vấn đề nào
luật chuyên ngành không quy định hoặc không quy định đầy đủ thì sẽ áp dụng luật
chung.
Luật Thương mại Việt Nam cũng ghi nhận nguyên tắc trên, Điều 4 Luật
Thương mại năm 2005 quy định:
19
"1. Hoạt động thương mại phải tuân theo Luật thương mại và pháp luật có liên
quan.
2. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác khi áp dụng
quy định của luật đó.
3. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong
các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự".
Bên cạnh nguyên tắc luật chung - luật chuyên ngành, việc áp dụng pháp luật
còn tuân theo nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế, Khoản 1 Điều 5 Luật
Thương mại năm 2005 quy định: "Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán
thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy
định của điều ước quốc tế đó".
Pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại ở Việt Nam là một bộ
phận của pháp luật hợp đồng và pháp luật thương mại nói chung. Do đó, nguồn pháp
luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại bao gồm: văn bản pháp luật quốc gia,
điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế và pháp luật nước ngoài (nếu các bên
trong quan hệ hợp đồng có quyền và thỏa thuận lựa chọn áp dụng hoặc được điều ước
quốc tế dẫn chiếu đến). Trong đó hệ thống các văn bản pháp luật quốc gia về hợp đồng
và hoạt động thương mại là chủ yếu với luật chung là Bộ luật Dân sự và luật chuyên
ngành là Luật Thương mại cùng các văn bản luật chuyên ngành khác về từng hoạt