BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
---------------
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Công nghệ sinh học
Mã ngành
: 60420201
PHÂN LẬP, ĐỊNH DANH VÀ XÁC ĐỊNH TỶ LỆ,
ĐỘ NHẠY CẢM KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN
KỊ KHÍ TRÊN CÁC MẪU BỆNH PHẨM
HỌC VIÊN THỰC HIỆN
: NGUYỄN THỊ THỦY
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. TRỊNH THỊ THU HẰNG
Hà Nội, 10/2016
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của thầy cô, các anh chị, các em và các bạn. Với lòng
kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Lãnh đạo, Phòng sau đại học, Bộ môn - Công nghệ sinh học - Viện đại
học Mở Hà Nội, khoa Vi Sinh - Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Đa Khoa Đức Giang.
TS. Trịnh Thị Thu Hằng - Viện đại học Mở Hà Nội, cô đã trực tiếp hướng
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẲT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN .................................................................................. 3
1.1. Lịch sử phát triển của ngành vi khuẩn học kị khí ........................................... 3
1.2. Đặc điểm chung của vi khuẩn kị khí .............................................................. 5
1.2.1. Khái niệm về vi khuẩn kị khí................................................................... 5
1.2.2. Phân loại vi khuẩn kị khí theo mức độ nhạy cảm với oxy ........................ 5
1.2.3. Vị trí tồn tại của vi khuẩn kị khí .............................................................. 6
1.2.4. Một số đặc điểm của vi khuẩn kị khí gây bệnh ở người ........................... 7
1.3. Tình hình nhiễm khuẩn do vi khuẩn kị khí ở người........................................ 8
1.4. Một số bệnh cảnh do vi khuẩn kị khí gây nên ở người ................................. 10
1.5. Tình hình nghiên cứu về vi khuẩn kị khí trên thế giới và Việt Nam ............. 15
1.5.1. Trên thế giới .......................................................................................... 15
1.5.2. Tại Việt Nam ........................................................................................ 16
CHƯƠNG 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................... 20
2.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................. 20
2.2. Vật liệu........................................................................................................ 20
2.2.1. Môi trường ............................................................................................ 20
2.2.2. Hóa chất ................................................................................................ 20
2.2.3. Thiết bị.................................................................................................. 20
2.3. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 21
2.3.1. Phương pháp lấy và lưu trữ mẫu ............................................................ 21
2.3.2. Phương pháp nuôi cấy phân lập vi khuẩn kị khí..................................... 22
2.3.3. Phương pháp định danh vi khuẩn kị khí bằng kít định danh ID 32A ...... 22
2.3.4. Định danh bằng phương pháp giải trình tự gen 16S rARN..................... 24
The minimum inhibitory concentration
Nồng độ ức chế tối thiểu
rARN
Ribosomal Acid ribonucleic
ARN Riboxom
PCR
Polymerase Chain Reaction
Phản ứng chuỗi polymerase
VKKK
Vi khuẩn kỵ khí
TZP
Piperacillin tazobactam
CHL
Cloramphenicol
DOX
Doxycyclin
IPM
bur
Bacteroides ureolyticus
pmg
Finegoldia magna
pol
Prevotella oralis
ame
Actinomyces meyeri
clo
Clostridium sp.
mib
Microbacterium sp.
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Số lượng, tỉ lệ và vị trí tồn tại của vi khuẩn kị khí.................................... 7
Bảng 1.2: Tỉ lệ các hình thái nhiễm trùng phân lập được vi khuẩn kị khí [15].......... 9
Bảng 2.1: Các cặp mồi sử dụng cho phản ứng PCR ............................................... 26
khuẩn hỗn hợp giữa vi khuẩn hiếu khí và vi khuẩn kị khí. Nhiễm trùng do vi khuẩn
kị khí là một câu hỏi luôn được đặt ra khi xem xét tất cả các hình thái nhiễm khuẩn
ở người.
Ở Việt Nam cũng như ở các nước đang phát triển nói chung, việc nuôi
cấy, phân lập, định danh và thử mức độ nhậy cảm với kháng sinh của vi khuẩn
kị khí trong các phòng xét nghiệm vi sinh lâm sàng hiện còn gặp nhiều khó
khăn, chưa trở thành thường quy, thường bị bỏ sót. Vi khuẩn kị khí vì vậy cho
đến nay cũng chưa có được vị trí xứng đáng trong chương trình giảng dạy và
chưa được nuôi cấy thường quy tại các phòng xét nghiệm vi sinh. Nguyên nhân
của tình trạng này là do chúng ta còn thiếu hiểu biết về các vi khuẩn kị khí,
điều kiện kỹ thuật của các phòng xét nghiệm còn nhiều thiếu thốn. Trong khi
đó các xét nghiệm tìm vi khuẩn kị khí nói chung là phức tạp, tốn kém, đòi hỏi
nhiều thời gian và kinh nghiệm.
Việc thử nghiệm kháng sinh với vi khuẩn kị khí gây nhiễm trùng là một việc
làm cần thiết ngay sau khi định danh được vi khuẩn kị khí gây bệnh. Tuy nhiên, với
vi khuẩn kị khí gây bệnh để có được kết quả kháng sinh đồ cũng cần thời gian từ 2
đến 4 ngày sau khi có kết quả định danh. Mức độ gia tăng đề kháng kháng sinh
ngày càng nghiêm trọng, trong 3 năm gần đây không có kháng sinh mới nào được
FDA (Cục an toàn thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ) chấp nhận, mà tốc độ đa
kháng kháng sinh tăng hàng ngày.
Xuất phát từ những thực tiễn trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài :
“Phân lập, định danh và xác định tỷ lệ, độ nhạy cảm kháng sinh của vi khuẩn kị
khí trên các mẫu bệnh phẩm” với mục tiêu là:
1
1. Phân lập, xác định tỷ lệ phân lập vi khuẩn kị khí trong các mẫu bệnh phẩm
lâm sàng.
2. Định danh các chủng vi khuẩn kị khí phân lập được
3. Xác định mức độ nhạy cảm kháng sinh của các loại vi khuẩn kị khí phân
nghiệm mức độ nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn kị khí, mở ra một kỷ nguyên
mới trong lĩnh vực này. Đó cũng chính là tiền để cho một loạt nghiên cứu lâm sàng
về các bệnh nhiễm trùng vi khuẩn kị khí.
3
Cho đến giữa thế kỷ 20, các nhiễm khuẩn vi khuẩn kị khí được hiểu là những
nhiễm trùng kinh điển do độc tố của các Clostridium là loài vi khuẩn có nha bào gây
ra và có những triệu chứng điển hình nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân. Ở nhiễm
trùng loại này, chẩn đoán bệnh thường chỉ dựa vào các triệu chứng lâm sàng, đó là
hoại thư sinh hơi do C. perfringens, uốn ván do C. tetani, ngộ độc thức ăn do C.
botulinum gây ra. Giai đoạn này vai trò gây bệnh của vi khuẩn kị khí không có nha
bào trong nhiều bệnh nhiễm trùng đã không được đánh giá đầy đủ. Từ những năm
60 trở lại đây, những tiến bộ trong các kỹ thuật nuôi cấy, phân lập, định danh và thử
nghiệm mức độ nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn kị khí đã tạo điều kiện cho
nhiều phòng xét nghiệm vi sinh đưa xét nghiệm tìm vi khuẩn kị khí vào thường quy
và cũng từ đó vai trò gây bệnh quan trọng của các vi khuẩn kị khí không có nha bào
trong các nhiễm khuẩn đã được khẳng định tại các nước phát triển.
Những thập kỷ gần đây, tại Việt Nam cũng như ở các nước đang phát triển
nói chung, nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã đưa quy trình kỹ thuật vào việc
nuôi cấy, phân lập, định danh và thử mức độ nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn
kị khí áp dụng trong các phòng xét nghiệm vi sinh lâm sàng nhưng kết quả còn
nhiều hạn chế, hiện còn gặp nhiều khó khăn, chưa trở thành thường quy, thường bị
bỏ sót. Vi khuẩn kị khí vì vậy vẫn chưa có được vị trí xứng đáng. Trong các bệnh
viện của khu vực Hà Nội thì có bệnh viện Việt Đức, bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện
Truyền nhiễm trung ương đã nuôi cấy vi khuẩn kị khí nhưng vẫn chưa có nghiên
cứu nào làm với lượng mẫu lớn được công bố về tỉ lệ mọc vi khuẩn kị khí trong các
bệnh phẩm của người bệnh có nhiễm trùng hay mức độ nhạy cảm kháng sinh của
các chủng vi khuẩn kị khí. Nguyên nhân của tình trạng này là do chúng ta còn thiếu
môi trường thạch nếu nồng độ oxy của môi trường nuôi cấy lớn hơn 0,5%. Chúng
thường chết sau khi tiếp xúc với không khí chỉ 10 phút. Những vi khuẩn nhóm này
thường rất khó nuôi cấy, dù áp dụng các phương pháp rất hiện đại.
Vi khuẩn kị khí nhạy cảm vừa phải với oxy (Capnophile): Những vi khuẩn
này có thể mọc trên môi trường thạch có khí trường 2-8% oxy. Chúng vẫn có thể
sống sau khi tiếp xúc với không khí trong khoảng thời gian trên 10 phút đến 60
phút, thậm chí 90 phút (tùy theo chủng).
Vi khuẩn kị khí chịu oxy (aerotolerant): Các vi khuẩn nhóm này sau khi đã
5
được nuôi cấy trong môi trường kị khí lần đầu từ bệnh phẩm, đã mọc thành khuẩn
lạc trên mặt thạch, nếu cho tiếp xúc với không khí nhiều giờ vẫn sống được.
Vi khuẩn nhóm microaerophilic: Những vi khuẩn này có thể mọc trong khí
quyển có thêm 10% C02 nhưng không mọc trong không khí hoặc môi trường kỵ khí
(ví dụ: Campylobacter, HP), khí trường đòi hỏi 5% oxy
Vi khuẩn kị khí tùy tiện: Những vi khuẩn này có thể sống được cả trong môi
trường kị khí và môi trường hiếu khí. Các vi khuẩn đường ruột họ
Enterebacteriaceae thuộc nhóm này.
1.2.3. Vị trí tồn tại của vi khuẩn kị khí
Trong thiên nhiên tồn tại nhiều loài vi khuẩn kị khí không gây bệnh. Điển
hình là các giống vi khuẩn kị khí có khả năng khử sulfat Desulfovibrio và
Desulfotomaculum.
Một số Clostridium có mặt ở cả trong bụi đất và đại tràng của người và động
vật. C. tetani và các Clostridium gây hoại thư sinh hơi (điển hình là C. peifringens)
thuộc nhóm này. C. botulinum lại chỉ tổn tại trong bụi đất, không có trong đại tràng
người bình thường.
Trong khi đó các vi khuẩn kị khí không có nha bào, bao gồm các trực khuẩn,
các cầu khuẩn Gram âm và Gram dương, lại chỉ tồn tại trên niêm mạc, da người và
1/l
Nếp lợi răng
1011 - 102
1000/l
Mặt răng
108 - 109
1/1
Dạ dày
102 - 105
1/1
Ruột non
102 - 104
1/1
Ruột già
1011 - 1012
Trong phòng thí nghiệm, phần lớn các vi khuẩn kị khí chỉ hoạt động được
khi EH thấp -0,5V mà nồng độ oxy lại cao. Y học đã biết Clostridium tetani dạng
7
không có nha bào thì EH phải là +0,1V, còn có nha bào thì EH phải là -0,1V mới
phát triển được.
Do đặc tính sinh học để tồn tại và phát triển của vi khuẩn kị khí như trên nên
trong bệnh lí ở người chỉ khi nào có thương tổn làm giảm hay ngừng tuần hoàn đến
các tổ chức như phẫu thuật, chấn thương, xơ gan động mạch hay do tác động của
nội độc tố vi khuẩn Gram âm (L.P.S), do viêm tắc động tĩnh mạch, do ung thư chèn
ép, cản trở lưu huyết tại chỗ. Ngoài ra, phần lớn còn cần sự phối hợp của các vi
khuẩn ái khí gây bệnh cũng như nhiều loại vi khuẩn kị khí với nhau.
1.3. Tình hình nhiễm khuẩn do vi khuẩn kị khí ở người
Xác định vi khuẩn kị khí trong một bệnh cảnh nhiễm trùng là rất quan trọng
vì các vi khuẩn kị khí sống bình thường trong cơ thể người với số lượng rất lớn, ít
nhất là bằng hoặc gấp 1.000 lần vi khuẩn hiếu khí, tuy vậy, chỉ có một số ít trong số
đó có thể gây bệnh. Ví dụ: như trong nhóm Bacteroid thì Bacteroid fragilis là có
khả năng gây bệnh nhất vì có bỏ bọc polysaccharid. Do đó khi phân lập được
Bacteroid fragilis thì vai trò gây bệnh hoặc phối hợp gây bệnh là chắc chắn nhưng
nếu phân lập được Bacteroid vulgatus thường có mặt trong các bệnh cảnh nhiễm
trùng có nguồn gốc từ phân thì vai trò thực sự gây bệnh chỉ là rất hạn hữu.
8
Bảng 1.2: Tỉ lệ các hình thái nhiễm trùng phân lập được vi khuẩn kị khí [15]
Các hình thái nhiễm trùng
Nhiễm khuẩn huyết
Lồng ngực
Viêm phổi
Áp xe phổi
62-100
85-93
Ổ bụng
Dịch ổ bụng
Viêm ruột thừa
Áp xe gan
Hệ thống đường mật
Áp xe túi mật
Áp xe âm đạo
Mủ âm đạo sau phá thai
Viêm túi mật
81-94
92
52
45
88
75
67
25-48
Tổ chức phần mềm
Áp xe chân lông
Nhiễm trùng bàn chân tiểu đường
Các vi khuẩn kị khí gây ngộ độc thức ăn: Clostridium botulium, chúng có
trong thức ăn do quá trình sản xuất và bảo quản không đảm bảo vệ sinh.
Bệnh nhiễm trùng uốn ván:
Những vết thương có tình trạng thiếu ôxy do: Miệng vết thương bị bịt kín, tổ
chức bị hoại tử nhiều, thiếu máu, có dị vật ở vết thương, có vi khuẩn gây mủ khác
kèm theo... tạo thuận lợi cho nha bào uốn ván phát triển gây bệnh.
Uốn ván là một bệnh truyền nhiễm cấp tính gây nên bởi trực khuẩn
Clostridium tetani và ngoại độc tố hướng thần kinh của nó. Bệnh lây qua da và
niêm mạc tổn thương. Đặc điểm lâm sàng là một trạng thái co cứng cơ liên tục và
có những cơn giật cứng. Khởi đầu là co cứng cơ nhai, sau lan ra các cơ mặt, thân
mình và tứ chi.
10
Nhiễm trùng da và mô mềm:
Các bệnh nhiễm trùng thường xuyên liên quan đến vi khuẩn kị khí bao gồm
nhiễm trùng bề mặt, bị nhiễm bệnh do vết cắn của người hoặc động vật, loét da,
viêm mô tế bào, mủ da, viêm tuyến mồ hôi, dạ dày hoặc vết thương mở khí quản,
ghẻ hoặc nhiễm trùng kerion, eczema, bệnh vẩy nến, viêm da dị ứng, eczema
herpeticum, nhiễm dưới da nang bã nhờn và nhiễm trùng vết thương sau phẫu thuật.
Bệnh nhiễm trùng mô dưới da bao gồm: áp xe dưới da và áp xe vú, loét tư
thế nằm, u nang pilonidal hoặc xoang, viêm loét Meleney của bệnh tiểu đường
(mạch máu hay dinh dưỡng) loét, vết cắn, vết thương, kị khí viêm mô tế bào và
hoại tử, hoại tử vi khuẩn hiệp đồng và nhiễm trùng vết thương. Nhiễm trùng mô
mềm kị khí sâu hơn đang hoại tử, viêm mô tế bào hoại tử và viêm mô tế bào
crepitus. Đây có thể liên quan đến viêm cơ và myonecrosis.
Bệnh phẩm thu được từ vết thương và nhiễm trùng mô dưới da và áp xe trực
tràng (áp xe quanh trực tràng, loét tư thế nằm) hoặc thu được từ các nhiễm trùng ở
bệnh nhân đái tháo đường. Đây là những vi khuẩn thuộc nhóm B. fragilis,
Peptostreptococcus.
Viêm quanh răng và Sâu răng:
Vai trò chủ yếu của Streptoccus metans và thường có thêm Streptoccus
salivatus, Streptoccus feacalis, actinomyces và vi khuẩn kị khí phân lập từ cao răng
và viêm quanh răng chủ yếu là fusobacteroid funduliformis.
Kháng sinh có chỉ định: penicilllin hoặc cefuroxyme (chú ý: ở đây có yếu tố
quá mẫn không chỉ đơn thuần nhiễm trùng, nhất là viêm quanh răng).
Nhiễm trùng đường phổi: Có thể 3 dạng biểu hiện:
- Apxe phổi: ổ apxe thường độc có đường kính từ 2cm trở lên.
- Viêm phổi do vi khuẩn kị khí được chẩn đoán nhờ vào hình ảnh X quang
với hình ảnh mờ rải rác, 2 phế trường nhưng không có hang.
- Viêm phổi hoại tử (Nescrositing pneumonia): phổi có nhiều vùng hoại tử và
có hang nhỏ trên nhiều thuỳ phổi hay trên nhiều phân thuỳ của một thuỳ, có thể lan
sang màng phổi.
Viêm nội tâm mạc:
Kỹ thuật nuôi cấy kị khí đã có nhiều tiến bộ và cũng do yêu cầu của các bác
sỹ lâm sàng ngày càng chú ý nên việc phân lập được vi khuẩn kị khí trong nhiễm
trùng nội tâm mạc ngày càng tăng. Đặc điểm là ít xảy ra trên bệnh nhân có bệnh
tim từ trẻ nhưng sau thay van động mạch chủ lại hay gặp và hay có biến chứng
nghẽn mạch.
Nguồn gốc là từ nhiễm trong miệng họng và dạ dày ruột. Các chủng vi khuẩn
thường gặp: Bacteroid fragilis, Fusobacterium nucleatum, Fusobacterium
necophorun, Clostridium perfringens
Việc điều trị khá khó khăn, phải kết hợp clindamycin với imipinem.
Nhiễm trùng kị khí tại não:
Nguồn gốc là từ nhiễm trùng xoang mặt hoặc từ xương chũm gây apxe màng
cứng hay viêm màng năo. Cũng có thể từ một cục tắc di chuyển lên não từ apxe
phổi hay từ các nốt sùi của van tim nội tâm mạc cấp.
12
13
Peptostreptococcus spp chủ yếu là hầu họng, phổi và các đường sinh dục nữ. Sự kết
hợp của những sinh vật này có liên quan đến nguồn gốc của nhiễm trùng ban đầu và
hệ vi khuẩn nội sinh.
Nhiễm trùng sơ sinh
Trẻ sơ sinh tiếp xúc với hệ vi khuẩn âm đạo mẹ, trong đó có hệ vi khuẩn hiếu
khí và kị khí có thể dẫn đến sự phát triển của nhiễm khuẩn kị khí. Các bệnh nhiễm
trùng bao gồm viêm mô tế bào (gây ra bởi Bacteroides spp.), nhiễm khuẩn huyết,
viêm phổi (do Bacteroides spp.), viêm kết mạc (do clostridial), viêm rốn và ngộ độc
trẻ sơ sinh do loài Clostridial có thể đóng một vai trò trong viêm ruột hoại tử. Quản
lý các nhiễm trùng nên cần điều trị của bệnh lý nền hiện tại và quản lý điều trị
kháng sinh thích hợp.
Nhiễm trùng đường sinh dục nữ
Nhiễm trùng đường sinh dục nữ gây ra bởi vi khuẩn kị khí là đa vi trùng và
bao gồm: mô mềm vùng tầng sinh môn, âm hộ và áp xe tuyến Bartholin, viêm âm
đạo do vi khuẩn, nội mạc tử cung, pyometra, salpingitis, áp xe phần phụ, áp xe
buồng trứng, nhiễm trùng liên quan đến biện pháp tránh thai trong tử cung, viêm
vùng chậu, có thể bao gồm viêm mô tế bào vùng chậu và áp xe, amnionitis, viêm
tắc tĩnh mạch vùng chậu, phá thai, bệnh nhiễm trùng sản khoa và phụ khoa sau phẫu
thuật. Điều quan trọng là để tránh làm nhiễm với hệ vi sinh bình thường.
Tiêu chảy do viêm ruột già có giả mạc sau khi dùng kháng sinh:
Triệu chứng tiêu chảy thông thường thấy có sau khi dùng kháng sinh như
penicillin G, ampiciline, tetraciline, chloramphenicol, cotrimoxazol, lincomycine...
nhưng viêm ruột già có giả mạc (Pseudomembrannous) là một trạng thái khá nặng
và thường xảy ra sau khi dùng clindamycin trong đó vai trò của Clostridium difficile
được nêu lên hàng đầu. Clostridium difficile thường trong ruột già nhưng số lượng
rất ít và việc phân lập cũng rất khó khăn. Độc tố của Clostridium difficile có tính
dương (GPAC) [17]. Kết quả này được so sánh với những kết quả nghiên cứu khác
sử dụng PCR với trình tự 16S rRNA, và với MIC của benzylpenicillin, clindamycin,
piperacillin-tazobactam, meropenem và metronidazole được xác định bởi Etests. Hệ
thống MALDI-TOF MS xác định một cách chính xác 94,9% số vi khuẩn yếm khí
đến mức độ chi, và 86,8% với mức độ loài. Theo nghiên cứu kết quả kháng kháng
15
sinh của các chủng vi khuẩn kỵ khí cho thấy 73,3% số mẫu phân lập đều không
nhạy cảm với penicillin, tỷ lệ kháng cao thường gặp ở Bacteroides (99,2%) và
Prevotella spp (69,2%). Khoảng 18,5% các chủng kháng clindamycin. Piperacillintazobactam cho kết quả nhạy cảm với hầu hết các chủng vi khuẩn kị khí trừ
Bacteroides fragilis. Có 43,8% số chủng Bacteroides fragilis không nhạy cảm với
kháng sinh Piperacillin-tazobactam. Meropenem và metronidazole là 2 kháng sinh
còn nhạy cảm nhiều nhất với 96,9% và 97,9% số chủng cho kết quả nhạy cảm.
Áp xe não là một trong những áp xe của hệ thống thần kinh trung ương
(CNS) bệnh gây tử vong cao, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Nghiên cứu của
các tác giả Sudhaharan và cộng sự về áp xe não do vi khuẩn kỵ khí tiến hành bằng
phương pháp hồi cứu 430 mẫu áp-xe não (dịch hút mủ và / hoặc mô) từ các bệnh
viện có xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn kỵ khí, từ năm 1987 đến năm 2014 cho kết
quả có 116mẫu/430mẫu (27%) có vi khuẩn mọc. Trong đó số mẫu có vi khuẩn kị
khí là 48 mẫu chiếm 41,1%. Trong các vi khuẩn kị khí thu được Peptostreptococcus
là vi khuẩn hay gặp nhất chiếm 51,4% Ngoài ra các căn nguyên yếm khí hay gặp
khác là Bacteroides và loài Peptococcus [35].
Các kết quả nghiên cứu thu được đã cho thấy vi khuẩn kị khí vẫn nhạy cảm
cao với Imipenem, chiếm 90.78%, đứng thứ hai là Piperacillin-tazobactam 86.43%,
Chloramphenicol là 78.6%, Doxycyclin có độ nhạy tương tự, đề kháng cao nhất gặp
ở nhóm kháng sinh Metronidazole 25.47%.
Theo nghiên cứu của Hammond JM trên 34 bệnh nhân áp xe phổi thì đến
66% bệnh nhân phân lập được vi khuẩn kị khí. Trong số vi khuẩn kị khí phân lập
nuôi cấy bằng bình MART.
Tại bệnh viện Việt Đức, việc nuôi cấy vi khuẩn kị khí đã đạt được một số
thành tựu nhất định, đã có 03 công trình nghiên cứu của Lê Thị Thiều Hoa về nuôi
cấy phân lập vi khuẩn kị khí tiến hành trong 3 giai đoạn khác nhau tại bệnh viện
Việt Đức từ năm 1988 đến năm 2000 với số lượng dịch mật nuôi cấy tương ứng là
41, 211 và 100 mẫu đã thấy tỷ lệ nhiễm vi khuẩn kị khí tương ứng là: 46 %, 27 %
và 24 % [3, 4,5].
Ngoài ra nghiên cứu của Lê Tiến Hải trong 40 mẫu nước mật của bệnh nhân
sỏi mật tại viện Không Quân tỷ lệ vi khuẩn kị khí là 17,5 % [1].
17