PHẠM HỒNG SƠN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬT KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO THÔNG VẬN TẢI
PHẠM HỒNG SƠN
2014 - 2016
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO THÔNG VẬN TẢI
PHẠM HỒNG SƠN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ......................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .............................................................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu đề tài ............................................................................... 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài. .............................................................................. 3
5. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 4
6. Phương pháp nghiên cứu đề tài ........................................................................ 4
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG
HOẠT ĐỘNG GIAO THÔNG VẬN TẢI VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO THÔNG VẬN TẢI .................................. 6
1.1. Những vấn đề lý luận về bảo vệ môi trường trong hoạt động giao thông
vận tải ..................................................................................................................... 6
1.1.1. Khái niệm hoạt động giao thông vận tải ....................................................... 6
1.1.2. Khái niệm bảo vệ môi trường trong hoạt động giao thông vận tải ............... 8
1.1.3. Thực trạng bảo vệ môi trường trong giao thông vận tải ở Việt Nam. ........ 10
1.2. Những vấn đề chung về pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động giao
thông vận tải ........................................................................................................ 15
1.2.1. Khái niệm pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động giao thông vận tải
.............................................................................................................................. 15
1.2.2. Các nội dung cơ bản của pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động giao
thông vận tải ......................................................................................................... 16
1.2.3. Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động giao thông vận tải. .. 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................... 23
CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TẠI VIỆT NAM ................... 24
2.1. Các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong phát triển kết cấu hạ tầng
giao thông vận tải ................................................................................................. 25
2.1.1. Các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong giai đoạn chuẩn bị dự án.
3.2.2. Đẩy mạnh việc thực hiện các biện pháp kiểm soát khí thải từ các phương
tiện giao thông đường bộ. ..................................................................................... 67
3.2.3. Đẩy mạnh việc triển khai đề án kiểm tra khí thải xe máy. ......................... 68
3.2.4 Tăng cường việc sử dụng phương tiện công cộng. ...................................... 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .................................................................................... 73
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 75
PHỤ LỤC ............................................................................................................. 78
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Giao thông vận tải là một ngành sản xuất vật chất độc lập và đặc biệt của nền
kinh tế quốc dân. Nó không sản xuất ra hàng hoá mà chỉ lưu thông hàng hoá. Đối
tượng của vận tải là con người và những sản phẩm vật chất do con người làm ra.
Chất lượng sản phẩm vận tải là đảm bảo cho hàng hoá không bị hư hỏng, hao hụt,
mất mát; đảm bảo phục vụ hành khách đi lại thuận tiện, an toàn, nhanh chóng. Sản
phẩm giao thông vận tải không thể dự trữ và tích luỹ được. Vận tải chỉ có thể tích
luỹ được sức sản xuất dự trữ đó là năng lực vận tải. Mặt khác sản phẩm này cùng
được “sản xuất” ra và cùng được “tiêu thụ”.
Trong những năm gần đây, tại Việt Nam, giao thông vận tải được xác định là
một trong những hoạt động tạo ra nhiều áp lực đối với môi trường, đặc biệt là môi
trường không khí và môi trường nước. Theo kết quả khảo sát, thu thập tài liệu thực tế
trong thời gian từ năm 2000 - 2010 do Trung tâm Khoa học công nghệ và Bảo vệ môi
trường giao thông vận tải thuộc Viện Khoa học Công nghệ giao thông vận tải chủ trì
thực hiện Đề án: “Điều tra, khảo sát đánh giá hiệu quả các giải pháp giảm thiểu tác
động môi trường các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông đường bộ giai đoạn
thi công và khai thác cho thấy: Ở một số đơn vị, chủ đầu tư và nhà thầu chưa quan
tâm đúng mức đến việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường đặc
biệt là trong giai đoạn thi công, không thực hiện thường xuyên và đầy đủ các biện
thông vận tải” làm luận văn Thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bảo vệ môi trường là một lĩnh vực khá rộng mà đã có không ít các tác giả
nghiên cứu đến. Tuy vậy, số lượng tác giả nghiên cứu vấn đề bảo vệ môi trường
trong trong hoạt động giao thông vận tải lại không nhiều. Cụ thể hơn nữa là vấn đề
pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động giao thông vận tải cho đến nay vẫn
chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ
thống mà đó chỉ là một số bài viết đơn lẻ đăng trên các tạp chí chuyên ngành hoặc
các bài viết chung về ô nhiễm môi trường do giao thông vận tải, về chính sách giao
thông vận tải. Có thể kể đến một số công trình về vấn đề này như: Cuốn sách
2
“Giao thông đô thị, tầm nhìn, chiến lược và chính sách” của TS. Nguyễn Xuân
Thủy do nhà xuất bản Giao thông vận tải ấn hành năm 2015; Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp trường: “Pháp luật môi trường trong kinh doanh” của trường Đại học
Luật Hà Nội năm 2010; Tập bài giảng “Pháp luật môi trường trong kinh doanh”
của Trường Đại học Luật Hà Nội do Nhà xuất bản công an nhân dân phát hành năm
2013. Các công trình này chỉ đề cập đến các vấn đề chung có liên quan đến khía
cạnh môi trường trong hoạt động giao thông vận tải.
Như vậy, có thể khẳng định cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên
cứu một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật bảo vệ môi
trường trong hoạt động giao thông vận tải tại Việt Nam và những giải pháp hoàn
thiện pháp luật trong lĩnh vực này. Do vậy, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu
pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động giao thông vận tải ở nước ta với cấp
độ luận văn Thạc sỹ.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về
pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động giao thông vận tải ở Việt Nam hiện
kinh tế bền vững, chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu: phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp,
quy nạp, chứng minh, khảo sát thưc tiễn… để triển khai thực hiện trong đề tài.
Trong đó phương pháp phân tích, thống kê, và khảo sát thực tiễn là những phương
pháp sử dụng chủ yếu trong luận văn. Cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các chương, mục của luận văn
để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Phương pháp thống kê được sử dụng để tập hợp, xử lý các tài liệu, số liệu
phục vụ cho nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu ở chương 2, so sánh các quy
định của pháp luật Việt Nam với nhau.
4
- Phương pháp chứng minh được sử dụng để chứng minh các luận điểm, các
nhận định về thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật bảo vệ môi trường trong
hoạt động giao thông vận tải ở Việt Nam tại chương 2
- Phương pháp tổng hợp, quy nạp được sử dụng chủ yếu trong việc đưa ra
những kết luận của từng chương và kết luận chung của luận văn.
7. Kết cấu luận văn.
Ngoài Lời nói đầu, phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ môi trường trong hoạt động giao thông
vận tải và pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động giao thông vận tải
Chương 2: Các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động giao
thông vận tải tại Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt
động giao thông vận tải tại Việt Nam
Đó là: vận tải đường sắt, vận tải đường bộ, vận tải đường thuỷ, vận tải hàng không,
vận tải bằng đường ống (đường ống vận chuyển nhiên liệu, nguyên liệu rời).
Ra đời muộn hơn so với các ngành sản xuất vật chất khác như công nghiệp,
nông nghiệp, nhưng giao thông vận tải giữ một vai trò hết sức quan trọng trong sự
phát triển kinh tế xã hội:
- Giao thông vận tải thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, là cầu nối giúp
các ngành kinh tế phát triển và ngược lại. Với vai trò này, giao thông vận tải được
coi là một trong những ngành kinh tế dịch vụ chủ yếu có liên quan trực tiếp tới mọi
hoạt động sản xuất và đời sống của toàn xã hội. Nhờ có dịch vụ này mới tạo ra được
sự gặp gỡ của mọi hoạt động kinh tế- xã hội, từ đó giúp các ngành kinh tế cùng phát
triển. Ngược lại, chính sự phát triển của các ngành kinh tế lại tạo đà thúc đẩy ngành
giao thông vận tải đi lên.
Nhà kinh tế học Johnson cho rằng: “mạng lưới đường là một trong các nhân tố
cơ bản nhất để nâng cao chức năng kinh tế khu vực”. Ông còn nhận định một trong
các nguyên nhân làm cho sản xuất của các nhà máy ở thành thị đình đốn chính là do
đường xá, cầu cống dẫn đến nơi tiêu thụ quá thiếu và xấu. Đây cũng chính là
nguyên nhân buộc người nông dân phải bán sản phẩm của mình ngay tại nơi thu
hoạch hay tại nhà cho các lái buôn với giá rẻ [32]. Như vậy, sự thiếu thốn một hệ
thống các loại đường giao thông đạt tiêu chuẩn là nguyên nhân cơ bản của tình
trạng sản xuất yếu kém của một vùng lãnh thổ hoặc một đô thị. Một hệ thống giao
thông thuận tiện, đảm bảo sự đi lại, vận chuyển nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ sẽ
đảm đương vai trò mạch máu lưu thông làm cho quá trình sản xuất và tiêu thụ được
liên tục và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh ở mọi khu vực kinh tế.
- Giao thông vận tải góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Nhờ thu hút một khối
lượng lớn lao động đủ mọi trình độ, giao thông vận tải góp phần giải quyết công ăn
việc làm cho một số lượng không nhỏ người lao động. Đồng thời nó còn tạo ra hàng
ngàn việc làm cho những lĩnh vực liên quan như sản xuất xe ô tô, công nghiệp đóng
tàu, xây dựng cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu cống, bến bãi, nhà ga, bến cảng...).
có thể gây ô nhiễm và suy thoái môi trường. Ô nhiễm và suy thoái môi trường là hậu quả
8
không mong muốn khi thực hiện các hoạt động phát triển ở mọi quốc gia trên thế giới.
Cùng với việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên để phục vụ phát triển trong các
ngành kinh tế khác, tốc độ phát triển nhanh về số lượng các loại phương tiện giao thông
vận tải và hoạt động của chúng cũng làm tăng các áp lực đến môi trường. Những tác
động tiêu cực mà giao thông vận tải có thể gây ra cho môi trường là:
- Ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường không khí: Giao thông vận tải
hiện được xác định là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí
chủ yếu. Tại Việt Nam, số lượng ôtô và xe máy tăng nhanh ở khu vực đô thị là
nguồn lớn gây ô nhiễm môi trường không khí do có liên quan đến việc tiêu thụ
nhiên liệu xăng, dầu. Theo kết quả đánh giá của Bộ Tài nguyên và môi trường, ở
các đô thị, giao thông vận tải là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất đối với môi trường
không khí, đặc biệt là sự phát thải các khí CO và NO. Trong các đô thị lớn của nước
ta, lượng thải khí CO do giao thông thải ra chiếm tỷ lệ khoảng 70% đến 90% tổng
lượng thải ở đô thị [25]. Bên cạnh đó, hoạt động phát triển kết cấu hạ tầng giao
thông phát thải bụi từ các hoạt động đào, đắp, vận chuyển nguyên vật liệu cũng là
một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí.
- Ảnh hưởng xấu đến tài nguyên nước: Cùng với sự gia tăng các nhu cầu về
dịch vụ vận tải là tình trạng ngày một xấu đi của chất lượng môi trường biển, sông
hồ... Hoạt động của các loại tàu sông, biển trong đó ô nhiễm dầu là một trong những
vấn đề nổi cộm trên hầu hết các tuyến sông và cảng biển không chỉ đối với nước ta
mà đối với tất cả các nước khác trên thế giới. Bên cạnh đó, quá trình cải tạo, nâng
cấp các tuyến giao thông thủy lại là nguy cơ làm tăng độ đục của nước, thay đổi giá
trị pH của nước, gây phèn hóa và tăng khả năng xâm nhập mặn. Các sự cố tràn dầu
tại các cảng biển và trên các tuyến giao thông thủy nội địa thường gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến môi trường khu vực xảy ra tai nạn cũng là nguyên nhân làm xấu
khí ở các thành phố như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng… tại các
nút giao thông cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 3 – 5 lần; nồng độ khí CO, NO2
trung bình ngày ở một số nút giao thông lớn đã vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,2 –
1,5 lần [25].
10
Theo số liệu từ Cục Đăng kiểm Việt Nam, thời gian trước năm 2010, cả nước
có khoảng 20 triệu mô tô và xe máy, năm 2010 đã tăng lên khoảng 24 triệu xe và
đến năm 2015, dự báo lượng xe máy lưu hành trong cả nước khoảng 31 triệu xe.
Hàng ngày, chỉ cần một nửa số phương tiện trên hoạt động cũng đã xả ra môi
trường một lượng lớn các khí độc hại, trong đó có nhiều thành phần gây nên hiệu
ứng nhà kính, gây ra các loại bệnh như: Viêm nhiễm đường hô hấp do nhiễm vi
khuẩn, hen suyễn, viêm phế quản mạn tính, viêm mũi… Đặc biệt, tiếng ồn phát sinh
từ các hoạt động giao thông cũng đóng vai trò chủ yếu trong việc gây ô nhiễm. Có
60 – 80% các nguyên nhân do tiếng ồn từ động cơ như: Do ống xả, do rung động
các bộ phận xe, đóng cửa xe, còi xe, phanh xe, do sự tương tác giữa lốp xe và mặt
đường… Tiếng ồn gây tác hại rất lớn đến toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan thính
giác nói riêng. Tiếng ồn mạnh, thường xuyên gây nên bệnh đau đầu, chóng mặt,
trạng thái tâm thần bất ổn, mệt mỏi…
Báo cáo cũng cho thấy, sự phát thải của các phương tiện cơ giới đường bộ phụ
thuộc rất nhiều vào chất lượng các loại xe. Đối với các phương tiện như xe ô tô, xe
máy qua nhiều năm sử dụng có chất lượng thấp, hiệu quả sử dụng nhiên liệu thấp,
nồng độ chất độc hại, bụi trong khí xả cao… là nguyên nhân gây ô nhiễm nghiêm
trọng. Trong đó, xe máy là nguồn đóng góp chính các loại khí ô nhiễm, đặc biệt là
các khí thải CO, VOC… Xe tải và xe khách các loại lại thải nhiều NO2. Tại các khu
dân cư, mức độ ô nhiễm thấp hơn từ 2 đến 3 lần so với các trục đường giao thông.
Tuy nhiên, đối với khu dân cư nằm trong các đô thị lớn chịu ảnh hưởng rõ rệt của
giao thông, mức độ ô nhiễm vẫn vượt nhiều lần ngưỡng cho phép quy chuẩn Việt
và phát triển hệ thống giao thông công cộng. Phải tăng cường phương tiện giao
thông công cộng (xe buýt, xe điện trên không, xe điện ngầm…) và các hình thức
giao thông không gây ô nhiễm. Phải xem việc phát triển phương tiện vận chuyển
công cộng như là trọng tâm để giảm nguy cơ tắc nghẽn và ô nhiễm giao thông tại
các đô thị.
Theo các chuyên gia môi trường, Việt Nam cần thực hiện các biện pháp như:
Thực hiện chương trình kiểm tra và bảo dưỡng, theo đó, các phương tiện xe cộ đã
đăng ký phải được kiểm tra về sự phát thải hàng năm trước khi cấp, đổi giấy phép
lái xe. Khuyến khích việc vệ sinh môi trường giao thông bằng cách phun nước, quét
12
đường; khuyến khích sự phát triển của các phương tiện giao thông sử dụng năng
lượng sạch như: Khí thiên nhiên, khí hóa lỏng, cồn nhiên liệu, biodiesel và điện.
Ngoài ra, việc tiến hành thu phí môi trường đối với các phương tiện tham gia giao
thông cũng cần được xem xét như một giải pháp nâng cao ý thức, trách nhiệm
người dân với môi trường.
* Về môi trường nước:
Giao thông vận tải đường thủy là loại hoạt động kinh tế vận tải có hiệu quả,
thân thiện môi trường hơn so với một số loại hình vận tải khác. Song bên cạnh
những ưu điểm đó thì quá trình luân chuyển bằng đường thủy vẫn có ảnh hưởng lớn
đến chất lượng môi trường nước. Chúng ta cần nhìn thấy mặt hạn chế để tìm
phương pháp phòng tránh tình trạng ô nhiễm tràn lan.
Kiểm soát giao thông vận tải đường thủy gắn liền với việc bảo vệ hệ thống môi
trường nước. Hệ thống xử lý nước ô nhiễm ở sông, biển dường như rất hiếm hoi, các
hoạt động hút bể phốt, thông tắc cống… sẽ không được sử dụng đến. Để vận hành
được hệ thống tàu thuyền trên biển, sông đòi hỏi cung cấp đầy đủ nguồn nguyên liệu
như xăng dầu, lacanh, nhờn… Không ai có thể đảm bảo được các nguyên liệu này
không rò rỉ ra bên ngoài gây ô nhiễm. Các sự cố như tràn dầu xuống biển cũng không
tàu trên biển [35,36].
Sự cố tràn dầu gây ô nhiễm môi trường biển, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các
hệ sinh thái. Đặc biệt là hệ sinh thái rừng ngập mặn, cỏ biển, vùng triều bãi cát, đầm
phá và các rạn san hô. Ô nhiễm dầu làm giảm khả năng sức chống đỡ, tính linh hoạt
và khả năng khôi phục của các hệ sinh thái. Hàm lượng dầu trong nước tăng cao,
các màng dầu làm giảm khả năng trao đổi ôxy giữa không khí và nước, làm giảm
oxy trong nước, làm cán cân điều hòa oxy trong hệ sinh thái bị đảo lộn. Ngoài ra,
dầu tràn chứa độc tố làm tổn thương hệ sinh thái, có thể gây suy vong hệ sinh thái.
Bởi dầu chứa nhiều thành phần khác nhau, làm biến đổi, phá hủy cấu trúc tế bào
sinh vật, có khi gây chết cả quần thể. Dầu thấm vào cát, bùn ở ven biển có thể ảnh
hưởng trong một thời gian rất dài. Đã có nhiều trường hợp các loài sinh vật chết
14
hàng loạt do tác động của sự cố tràn dầu. Điều đáng báo động nữa là dầu lan trên
biển và dạt vào bờ trong thời gian dài không được thu gom sẽ làm suy giảm lượng
cá thể sinh vật, gây thiệt hại cho ngành khai thác và nuôi trồng thủy, hải sản. Dầu
gây ô nhiễm môi trường nước làm cá chết hàng loạt do thiếu ôxy hòa tan. Dầu bám
vào đất, kè đá, các bờ đảo làm mất mỹ quan, gây mùi khó chịu đẫn đến doanh thu
của ngành du lịch cũng bị thiệt hại nặng nề. Nạn tràn dầu còn làm ảnh hưởng đến
hoạt động của các cảng cá, cơ sở đóng mới và sửa chữa tàu biển. Do dầu trôi nổi
làm hỏng máy móc, thiết bị khai thác tài nguyên và vận chuyển đường thủy.
1.2. Những vấn đề chung về pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động giao
thông vận tải
1.2.1. Khái niệm pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động giao thông vận tải
Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp
thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp triển phù hợp với lợi ích
của giai cấp mình. Pháp luật mang các thuộc tính sau:
bảo trong khi các hoạt động giao thông vận tải vẫn được tiến hành theo cách thức và
vai trò riêng của nó đối với sự phát triển kinh tế, xã hội.
Như vậy, từ khái niệm bảo vệ môi trường trong hoạt động giao thông vận tải
và khái niệm pháp luật, có thể hiểu pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động
giao vận tải như sau: Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động giao vận tải là
hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa
nhận và đảm bảo thực hiện nhằm phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi
trường do hoạt động giao thông vận tải; ứng phó sự cố môi trường có thể phát sinh
trong quá trình tiến hành các hoạt động giao thông vận tải.
1.2.2. Các nội dung cơ bản của pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động giao
thông vận tải
Để phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường do hoạt động giao
thông vận tải; ứng phó sự cố môi trường có thể phát sinh trong quá trình tiến hành
các hoạt động giao thông vận tải, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động
giao thông vận tải bao gồm các nội dung cơ bản sau:
16
Một là: Các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong phát triển kết cấu
hạ tầng giao thông vận tải.
Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải là hệ thống những công trình vật chất kỹ
thuật, các công trình kiến trúc và các phương tiện về tổ chức cơ sở hạ tầng mang
tính nền móng cho sự phát triển của ngành giao thông vận tải và nền kinh tế. Kết
cấu hạ tầng giao thông vận tải bao gồm hệ thống cầu, đường, cảng biển, cảng sông,
nhà ga, sân bay, bến bãi và hệ thống trang thiết bị phụ trợ: thông tin tín hiệu, biển
báo, đèn đường...
Đặc trưng của kết cấu hạ tầng là có tính thống nhất và đồng bộ, giữa các bộ
phận có sự gắn kết hài hoà với nhau tạo thành một thể vững chắc đảm bảo cho phép
phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống. Ngoài ra, các công trình kết cấu
hoạt động giao thông đóng góp khoảng 85% lượng CO, 95% VOCs. Phát thải chủ
yếu từ phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là CO, HC, BOx (đối với động cơ
xăng) và PM, NOx (đối với động cơ diesel).
Vì vậy, để đảm bảo phòng ngừa ô nhiễm môi trường trong quá trình sử dụng
các phương tiện giao thông, các phương tiên này phải thoả mãn những yêu cầu nhất
định. Việc quy định các tiêu chí về thải bỏ chất thải đối với phương tiện giao thông
là cần thiết để đảm bảo phòng ngừa ô nhiễm môi trường.
Điều chỉnh vấn đề này, bên cạnh các quy định về kiểm định an toàn kỹ thuật
và bảo vệ môi trường, nhà nước còn ban hành quy định loại bỏ việc sử dụng xăng
pha chì và hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường quốc gia để làm căn cứ kiểm
soát nguy cơ làm ô nhiễm môi trường trong quá trình vận hành của các phương tiện
giao thông trên thực tế đáp ứng yêu cầu của đời sống cộng đồng.
Ba là: Các quy định về bảo vệ môi trường đối với các hoạt động sản xuất kinh
doanh dịch vụ giao thông vận tải.
Trong giao thông vận tải, các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ giao
thông cũng là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường.
Vì vậy, điều chỉnh các hoạt động này nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu nguy cơ gây ô
nhiễm môi trường cũng là một nội dung điều chỉnh của pháp luật môi trường trong
18