BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGUYỄN NGỌC ANH
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬT KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT VỀ CHỈ ĐỊNH THẦU Ở VIỆT
NAM TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI BỘ CÔNG AN
2014 - 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN: NGUYỄN NGỌC ANH
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT VỀ CHỈ ĐỊNH THẦU Ở VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI BỘ CÔNG AN
TÁC GIẢ LUẬN VĂN: NGUYỄN NGỌC ANH
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã chia sẻ, giúp đỡ, hỗ trợ tôi
trong lúc khó khăn nhất, giúp tôi có thêm sức mạnh về mặt tinh thần để hoàn thành
luận văn đúng thời hạn.
Đặc biệt để có được kết quả như ngày hôm nay, tôi xin trân trọng cảm ơn
Tiến sĩ Nguyễn Thị Yến, cô đó nhiệt tình và tận tâm hướng dẫn tôi hoàn thành luận
văn này.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện
luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được
những đóng góp tận tình của quý thầy cô và các bạn.
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Anh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................... 1
1.2. Tổng quan nghiên cứu .......................................................................................... 2
1.3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................ 3
1.4. Câu hỏi nghiên cứu .............................................................................................. 4
1.5. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................... 4
1.6. Kế hoạch nghiên cứu ............................................................................................ 5
1.7. Nội dung của Luận văn ........................................................................................ 5
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CHỈ ĐỊNH THẦU VÀ PHÁP LUẬT CHỈ
ĐỊNH THẦU ........................................................................................7
1.1. Khái niệm, đặc điểm, và vai trò của chỉ định thầu ............................................... 9
1.1.1. Khái niệm về chỉ định thầu .........................................................................9
1.1.2. Đặc điểm của chỉ định thầu ......................................................................10
1.3.3. Vai trò của chỉ định thầu ..........................................................................11
1.2. Khái quát pháp luật về chỉ định thầu................................................................. 14
Chương 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CHỈ
THẦU Ở VIỆT NAM
ĐỊNH
TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI BỘ CÔNG AN ...........................................................................68
3.1. Kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật chỉ định thầu .........................68
3.2. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả pháp luật chỉ định thầu ............................76
Kết luận chương 3:..................................................................................................78
KẾT LUẬN.............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................80
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
UNCITRAL
: United Nations Commission on International Trade Law
XDCB
: Xây dựng cơ bản
T-H-T
: Tiền-Hàng-Tiền
TTCP
H55
: Phòng Quản lý cộng sản
H60
: Phòng thẩm định
H61
: Trung tâm mua sắm tập trung Bộ Công an
V22
: Cục Tài chính
Tổng cục IV
: Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an
Doanh nghiệp an ninh: là các doanh nghiệp trực thuộc Bộ Quốc phòng; Bộ
Công an (quy định chi tiết tại Nghị định số 93/2015/NĐ-CP ngày 15 / 10 / 2015, về
tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh)
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh đất nước ta đang ra sức thi đua phấn đấu hoàn thành các mục
tiêu về kinh tế xã hội giai đoạn 2015-2020, Đảng xác định từ đại hội XII đến năm
hợp lý của Chính sách pháp luật. Từ đó kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện
thể chế chính sách trong công tác quản lý đấu thầu nói chung và pháp luật về Chỉ
định thầu nói riêng.
1.2. Tổng quan nghiên cứu
Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 hiệu lực từ ngày 01/07/2014 và Nghị định
số 63/2014/ND-CP ngày 26/6/2014 hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu mới điều
chỉnh các hoạt động đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước bao gồm các dự án
đầu tư xây dựng; trang thiết bị; khoa học công nghệ trong Công an. Tuy nhiên khi
áp dụng vào một số dự án trong Công an đó phát sinh nhiều điểm bất hợp lý.
Chỉ định thầu là một trong 7 hình thức lựa chọn nhà thầu được áp dụng trong
một số trường hợp do Luật Đấu thầu quy định, so với các hình thức còn lại Chỉ định
thầu có những ưu điểm cũng như hạn chế riêng. Ưu điểm trong những trường hợp
đặc biệt cấp bách; gói thầu cần đảm bảo yếu tố an ninh, bí mật...song cũng có những
điểm hạn chế như: Tính cạnh tranh không cao; Nhiều dự án bị chia nhỏ gói thầu để
đáp ứng hạn mức chỉ định thầu....
Nghiên cứu về đề tài Chỉ định thầu nhằm phân tích những ưu điểm cũng như
hạn chế của hình thức này, từ đó tìm ra những biện pháp để hoàn thiện nâng cao
hiệu quả của Chỉ định thầu. Tuy nhiên do Chỉ định thầu đa phần chỉ áp dụng với các
dự án gói thầu từ Ngân sách nhà nước hoặc các dự án gói thầu từ vốn đi vay, viện
trợ...các đề tài trên chỉ tập trung đi sâu vào hình thức đấu thầu rộng rãi, hạn chế,
chào hàng cạnh tranh, mua sắm trực tiếp như:
- Tác giả Ngô Tấn Hưng (2013) Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học
Đà Nẵng, đề tài " Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công
ty xây dựng công trình 545" đề tài phân tích các hình thức lựa chọn nhà thầu trong
đó tập trung vào đấu thầu xây dựng, đề xuất nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu
2
thầu của Công ty xây dựng công trình 545 và kiến nghị với Nhà nước một số giải
Từ các ưu nhược điểm, tổng hợp đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật chỉ
định thầu.
1.4. Câu hỏi nghiên cứu
- Đấu thầu là gì ? Đấu thầu theo pháp luật ở Việt Nam là gì ?
- Hình thức chỉ định thầu là gì?
- Thực trạng chỉ định thầu theo pháp luật ở Việt Nam như thế nào ?
- Thực tiễn trong công tác Chỉ định thầu trong công tác tổ chức thực hiện dự
án tại Bộ Công an như thế nào ?
- Tại sao phải hoàn thiện Chỉ định đấu thầu theo pháp luật?
- Làm thế nào để hoàn thiện pháp luật Chỉ định thầu?
1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cá nhân và tổ chức tham gia vào hoạt động chỉ định
thầu hoặc có liên quan; Quy định về năng lực; bảo đảm cạnh tranh; quy trình Chỉ
định thầu xây dựng trong Công an.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá tính hợp lý của
quy định Pháp luật hiện hành về Chỉ định thầu nói chung và Chỉ định thầu xây dựng
trong Công an nói riêng.
Với kinh nghiệm thực tiễn đó tham gia quản lý một số dự án trong Công an
nhân dân, tác giả nghiên cứu các vấn đề từ dự án đó tham gia.
Thời gian nghiên cứu:
Đánh giá phân tích từ Luật đấu thầu số
43/2013/QH13 hiệu lực từ ngày 01/07/2014 và Nghị định số 63/2014/ND-CP ngày
26/6/2014 hưỡng dẫn thi hành Luật Đấu thầu mới.
1.6. Phương pháp nghiên cứu
1.6.1 Quy trình nghiên cứu
- Hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về quy định Chỉ định thầu.
- Phân tích các ưu nhược điểm, bất cập khi áp dụng vào công tác chỉ định
thầu tại Bộ Công an.
hiện
P.Lưu
Thu thập thông tin một số
1
dự án CĐT trong Công an
T4
T5
trữ
H59,H43,
V22
Lập phiếu thu thập thông
tin, điều tra một số lãnh đạo,
2
cán bộ làm công tác quản lý
H43,H
T5
T6
1
CDT trong công an
Lập phiếu điều tra thông
tin
T7
T8
Tham khảo ý kiến thầy cô
5
hoàn thiện luận văn
T8
T9
1.8. Nội dung của Luận văn
5
Kết quả dự
kiến
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính
của Luận văn được chia thành 03 chương như sau:
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ CHỈ ĐỊNH THẦU VÀ PHÁP LUẬT CHỈ
ĐỊNH THẦU
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHỈ ĐỊNH THẦU VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TẠI BỘ CÔNG AN
CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CHỈ ĐỊNH
THẦU TỪ ÁP DỤNG THỰC TIỄN TẠI BỘ CÔNG AN
KẾT LUẬN
6
kinh tế”. Định nghĩa này đã nói tới tổng quát các yêu cầu cơ bản của hoạt động đấu
thầu hiện nay ở Việt Nam. Đây là một định nghĩa khá chi tiết, khác hẳn với định
nghĩa tổng quát của UNCITRAL rằng: “đấu thầu là tiến hành mua sắm hàng hóa,
xây dựng và dịch vụ theo một cách nào đó” (Luật mẫu của UNCITRAL, Điều 2[3]).
Có thể thấy, các định nghĩa trên dù ở giác độ học thuật hay thông dụng đều
hướng tới việc chỉ ra rằng: đấu thầu là một thuật ngữ để chỉ một quá trình mua sắm
hàng hóa, xây lắp và dịch vụ thông qua một quá trình mang tính chuẩn hóa do bên
mời thầu áp dụng để lựa chọn nhà thầu phù hợp với các tiêu chí bên mời thầu đưa ra
thực hiện việc cung ứng hàng hóa, xây dựng và dịch vụ.
Trong đời sống kinh tế của nước ta nhiều năm trước đây, khi nói đến đấu
thầu người ta chỉ nghĩ đến việc đấu thầu xây dựng. Chính vì lý do đó, những quy
định về đấu thầu ở nước ta, trước tiên cũng được đưa ra cho lĩnh vực xây dựng để
sau này hoàn thiện hơn, đi sâu vào các lĩnh vực kinh doanh khác của đời sống xã
hội. Hoạt động xây dựng trong đề tài này được hiểu theo nghĩa hẹp - là hoạt động
của lĩnh vực xây dựng cơ bản. Một trong số 5 lĩnh vực cụ thể được Chính phủ giao
cho Bộ Xây dựng quản lý tại Nghị định số 36/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 với tư
cách là bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, về cơ bản được hiểu là: “xây dựng và
trang thiết bị cho xây dựng mới, cải tạo mở rộng xí nghiệp, nhà, công trình sản xuất
và phi sản xuất hay toàn nền kinh tế quốc dân được thực hiện từ vốn đầu tư xây
dựng cơ bản tập trung của nhà nước, tín dụng ngân hàng, quỹ phát triển sản xuất,
phần trích khấu hao…kết quả của nó là thực hiện được việc tái sản xuất tài sản cố
định.”.
Từ những nghiên cứu ở trên, có thể định nghĩa khái niệm đấu thầu xây dựng
như sau: Đấu thầu xây dựng là hình thức đấu thầu với mục đích lựa chọn được nhà
thầu hoặc một nhóm nhà thầu (liên danh) đáp ứng được tốt nhất các yêu cầu do bên
mời thầu đặt ra để xây dựng các công trình.
Để lựa chọn được nhà thầu đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của mình và tùy vào
điều kiện cụ thể của bên mời thầu mà bên mời thầu có thể áp dụng các hình thức lựa
xử lý kịp thời hậu quả do các sự cố bất khả kháng, các gói thầu có tính chất đặc thù
phục vụ hoạt động nhà nước được quy định cụ thể để ký kết và thực hiện hợp đồng
cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn
nhà thầu theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở đẩy
9
nhanh quá trình lựa chọn nhà thầu, hoàn thành công trình trong thời gian ngắn nhằm
giải quyết các tình huống khẩn cấp góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư gói thầu”.
Từ định nghĩa trên có thể thấy chỉ định thầu là:
Hình thức đấu thầu mà chỉ có duy nhất một nhà thầu được tham gia và chính
nhà thầu này được lựa chọn để thực hiện yêu cầu của bên mời thầu. Hình thức này
được áp dụng khi bên mời thầu cần phải khắc phục ngay những sự cố kỹ thuật quan
trọng, những hậu quả do thiên tai dịch họa gây ra hoặc vì những lý do bảo vệ bí
mật an ninh quốc phòng. Bên cạnh đó trong những trường hợp khác như giá trị
công việc nhỏ hoặc công việc phải thực hiện ở địa điểm không thuận lợi khiến nhiều
nhà thầu không quan tâm thì bên mời thầu cũng có thể áp dụng chỉ định thầu.
Đây là hình thức đặc biệt được áp dụng theo quy định của Luật Đấu thầu đối
với gói thầu xây dựng cơ bản hoặc hoặc gói thầu hỗn hợp, gói thầu tư vấn sử dụng
vốn nhà nước được cho phép chỉ định thầu. Chỉ định thầu là hình thức lựa chọn nhà
thầu cần thiết để giải quyết những trường hợp cấp bách hay bảo đảm bí quyết công
nghệ, bí mật quốc gia.
Tóm lại khác với các hình thức lựa chọn nhà thầu còn lại là có từ 2 nhà thầu
trở lên tham gia quá trình quá thầu, đối với hình thức lựa chọn nhà thầu chỉ định
thầu chủ đầu tư hoặc cơ quan trực tiếp có trách nhiệm quản lý gói thầu sau khi xác
định được nhà thầu có đủ năng lực kinh nghiệm chỉ thương thảo với một nhà thầu
do người có thẩm quyền quyết định đầu tư chỉ định.
1.1.2. Đặc điểm của chỉ định thầu
Chỉ định thầu giúp cho Chủ đầu tư trong thời gian ngắn nhất chọn được nhà
thầu đáp ứng được về năng lực, kinh nghiệm cũng như biện pháp thi công giá trúng
1.1.3. Vai trò của chỉ định thầu
1.1.3.1. Đối với bên mời thầu - người mua sản phẩm trong hoạt động chỉ định
thầu
Chỉ định thầu giúp cho người mua trong các tình huống khẩn cấp cần khắc
phục ngay những hậu quả do thiên tai, dịch bệnh, các hậu quả xảy ra từ các tình
huống bất khả kháng... hay dịch vụ mình cần trong khoảng thời gian ngắn nhất hay
nói một cách cách khác là sử dụng đồng tiền của mình một cách hiệu quả nhất.
Trong quá trình chỉ định thầu chủ đầu tư chỉ tập trung xác định duy nhất một nhà
11
thâu đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện gói thầu chỉ định thầu, ngoài yếu tố
thời gian nhanh chóng ký hợp đồng triển khai, hình thức chỉ định thầu còn có một
số tính năng ưu việt sau:
- Trong nhiều trường hợp do tính chất quy mô kỹ thuật của gói thầu chỉ có
những doanh nghiệp chuyên ngành mới có khả năng thực hiện.
- Trong các trường hợp gói thầu cần đảm bảo bí mật nhà nước, có thể chỉ
định trực tiếp cho các doanh nghiệp an ninh, doanh nghiệp nhà nước.
- Các gói thầu cần khắc phục ngay hoặc để xử lý kịp thời hậu quả gây ra do
các sự cố bất khả kháng.
- Các gói thầu vì nhiệm vụ chính trị ở những địa điểm xa xôi, hẻo lánh, tại
địa phương đó không có nhà thầu có khả năng thực hiện được hoặc ở những địa
điểm xa hôi không có nhà thầu quan tâm.
- Trong quá trình thẩm định hồ sơ đề xuất chỉ định thầu có thể phát hiện ra
những sản phẩm tương đương với sản phẩm cần thiết. Do đặc thù hình thức chỉ định
thầu áp dụng trong các tình huống khẩn cấp, ít có tiền lệ, nhà thầu có thể tìm ra
những giải pháp thực hiện công việc cũng như các sản phẩm khác nhau và vẫn đáp
ứng yêu cầu của bên mời thầu. Điều này tạo ra một cơ hội tốt để bên mời thầu phát
hiện và có thể sử dụng các sản phẩm mới, các giải pháp biện pháp thi công mới hiệu
quả hơn so với các hình thức lựa chọn nhà thầu khác.
về nội dung, khối lượng công việc cần thực hiện trong hồ sơ yêu cầu đưa ra mức giá
hợp lý thì mới có cơ hội trúng chỉ định thầu.
Khác với các hình thức khác có nhiều nhà thầu tham gia vào quá trình đấu
thầu, trong quy trình thực hiện chỉ định thầu, bản thân nhà thầu đã được xác định là
đảm bảo năng lực tổ chức nhân sự thi công, năng lực tài chính lành mạnh, có kinh
nghiệm đã thực hiện các công trình tương tự về tính chất, nội dung quy mô để được
tham gia và quá trình chỉ định thầu (với chỉ định thầu rút gọn nhà thầu được mời
đến thương thảo hoàn thiện hợp đồng làm cơ sở trình người có thẩm quyền phê
duyệt chỉ định thầu ký hợp đồng triển khai; được nhận hồ sơ yêu cầu với quy trình
chỉ định thầu thông thường) nhà thầu cần phát huy tối đa khả năng cạnh tranh bằng
nâng cao chất lượng sản phẩm của mình hạ giá thành sản phẩm thi công trong thời
gian ngắn nhất.
13
- Đối với những nhà thầu liên quan đến sở hữu trí tuệ, bí mật thương mại, bí
quyết công nghệ riêng thì chỉ định thầu là cách giúp họ tự khẳng định mình và sự
thành công sẽ mang lại cho nhà thầu cơ hội lớn hơn để tiếp tục phát triển.
1.1.3.3. Đối với Nhà nước trong hoạt động chi định thầu
Thông qua chỉ định thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước có thể khắc phục
ngay những hậu quả từ các tình huống trường hợp khẩn cấp. Những điều đó giúp
Nhà nước phát huy đúng được vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường: tổ chức
thị trường xây dựng, giữ vững sự bình yên ổn định của xã hội.
Tại Việt Nam thời gian qua, hình thức chỉ định thầu xây dựng đã từng bước
khẳng định vai trò quan trọng đối với nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng công trình.
Công tác chỉ định thầu tại Việt Nam (1994 - 2015), hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật về chỉ định thầu đang ngày càng hoàn thiện và đồng bộ, góp phần thiết lập
môi trường minh bạch, tạo cơ sở cho việc lựa chọn nhà thầu có đủ năng lực, kinh
nghiệm thực hiện các gói thầu sử dụng vốn nhà nước, đem đến hiệu quả cao hơn
trong đầu tư công, phòng chống tham nhũng, tiết kiệm không nhỏ cho ngân sách
thầu bằng hình thức chỉ định thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của mình trong cả một
quy trình tổ chức thực hiện chỉ định thầu. Đồng thời cũng rất cụ thể, bởi nó là khuân
mẫu, chuẩn mực quy định cụ thể để điều chỉnh các mối quan hệ trong hoạt động chỉ
định thầu.
Về lí luận từ quan điểm hệ thống có thể xem xét khái niệm về pháp luật chỉ
định thầu theo hai mức độ: Nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, pháp luật chỉ định thầu bao gồm tập hợp các quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và thực
hiện chỉ định thầu. Trong chỉ định thầu phát sinh nhiều quan hệ tại các giai đoạn
khác nhau, trong đó cơ bản phải kể đến là:
+ Quan hệ giữa nhà nước và Bộ chủ quản hoặc đơn vị được trực tiếp giao
quản lý tổ chức chỉ định thầu gói thầu;
+ Quan hệ giữa Bộ ngành chủ quan và chủ đầu tư, nhà thầu;
+ Quan hệ giữa chủ đầu tư và nhà thầu được xét duyệt đề nghị phê duyệt chỉ
định thầu;
15