Tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƯU THỊ DUNG

TỔ CHỨC QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN
THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƯU THỊ DUNG

TỔ CHỨC QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN
THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

1.2. Một số vấn đề lý luận về tổ chức quản lý nội bộ CTCP.................. 14
1.2.1. Khái niệm tổ chức quản lý nội bộ CTCP....................................... 14
1.2.2. Đặc điểm của tổ chức quản lý nội bộ CTCP ................................. 16
1.2.3. Vai trò của bộ máy quản lý nội bộ CTCP ..................................... 17
1.2.4. Các yêu cầu đặt ra đối với việc tổ chức bộ máy quản lý nội bộ CTCP ....
............................................................................................................... 19
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc tổ chức quản lý nội bộ CTCP ........ 20
1.3. Một số vấn đề lý luận về pháp luật tổ chức quản lý nội bộ CTCP . 23
1.3.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về tổ chức quản lý nội bộ
CTCP ..................................................................................................... 23
1.3.2. Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về tổ chức quản lý nội bộ
CTCP ở Việt Nam................................................................................... 24
1.3.3. Cấu trúc pháp luật về tổ chức quản lý nội bộ CTCP ..................... 28
1.3.4. Những nội dung cơ bản của pháp luật về tổ chức quản lý nội bộ
CTCP ..................................................................................................... 30
1.3.5. Kinh nghiệm pháp luật nước ngoài về tổ chức quản lý nội bộ CTCP.. 31
CHƯƠNG 2. CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN ........................ 41


2.1. Các quy định về Đại hội đồng cổ đông ............................................ 41
2.1.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Đại hội đồng cổ đông ........................... 41
2.1.2. Thành phần tham dự cuộc họp Đại hội đồng cổ đông................... 43
2.1.3. Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông ................................................... 44
2.1.4. Thông qua các quyết định của Đại hội đồng cổ đông ................... 46
2.2. Các quy định về Hội đồng quản trị ................................................. 48
2.2.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quản trị: ............................... 48
2.2.2. Thành viên Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị ....... 50
2.2.3. Cuộc họp Hội đồng quản trị ......................................................... 52
2.2.4. Thông qua các quyết định của Hội đồng quản trị ......................... 54


ĐHĐCĐ

: Đại hội đồng cổ đông



: Giám đốc

HĐGĐ

: Hội đồng giám đốc

HĐGS

: Hội đồng giámsát

HĐQT

: Hội đồng quản trị

LDN

: Luật doanh nghiệp

TGĐ

:Tổng giám đốc





2

Luật doanh nghiệp số 60/2005/ QH11 đã được Quốc hội thông qua ngày
29 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 2006 (LDN
2005). Thực tế đánh giá thi hành cho thấy nhiều tác động tích cực của LDN
trong việc tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, thúc đẩy huy
động vốn, phát triển và mở rộng kinh doanh của các doanh nghiệp. Bên cạnh
đó, thực tế cũng cho thấy việc triển khai thực hiện LDN trong hơn 08 năm
qua cũng đã không gặp ít vướng mắc, hạn chế trong việc hoàn thiện và nâng
cao chất lượng môi trường kinh doanh nói chung và phát triển doanh nghiệp
nói riêng, do vậy cần thiết phải được sửa đổi, bổ sung. Vì vậy, LDN 2014 ra
đời, với mục tiêu cao nhất là tạo khuôn khổ pháp lý thông thoáng, an toàn và
hấp dẫn hơn cho các nhà kinh doanh, qua đó tăng cường thu hút và huy động
hơn nữa mọi nguồn lực và vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh. Một trong
những nội dung có nhiều thay đổi của LDN 2014 so với LDN 2005 là vấn đề
quản lý nội bộ công ty cổ phần.
Do LDN 2014 sẽ có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, chưa hề có nghiên cứu
về các quy định mới cũng như cách thức triển khai có hiệu quả LDN mới.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về quản lý nội bộ CTCP theo LDN 2014 là
một việc làm rất cần thiết cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong thời
điểm hiện tại. Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Tổ chức quản
lý nội bộ công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014” làm đề tài luận
văn tốt nghiệp.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về quản lý nội bộ
công ty cổ phần, các quy định của LDN 2014 về tổ chức quản lý nội bộ CTCP
để từ đó đề xuất các kiến nghị góp phần triển khai có hiệu quả các quy định
pháp luật doanh nghiệp về tổ chức quản lý nội bộ CTCP ở Việt Nam.

- “Nghiên cứu sự điều chỉnh quản trị công ty ở Đông Á sau khủng
hoảng” – Luận án tiến sĩ kinh tế của Trương Thị Nam Thắng (Viện kinh tế và
chính trị thế giới – 2009). Công trình đã chỉ ra cơ sở lý luận về quản trị công
ty và cơ sở thực tiễn cho sự điều chỉnh khuôn khổ thể chế quản trị công ty ở
Đông Á sau khủng hoảng 1997; Các điều chỉnh khuôn khổ thể chế về quản trị
công ty tại bốn nước Đông Á (Indonexia, Malaixia, Hàn Quốc, Thái Lan) sau


4

khủng hoảng; đánh giá sự điều chỉnh khuôn khổ thể chế về quản trị công ty tại
một số nước Đông Á và liên hệ với Việt Nam. Luận án này đã nghiên cứu
những vấn đề về quản trị công ty nói chung, trong đó có CTCP.
- “Pháp luật về quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam hiện nay – Thực
trạng và phương hướng hoàn thiện” – Luận văn Thạc sĩ Luật học của Đỗ
Thị Vân Nhung (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2012). Luận văn đi sâu nghiên
cứu những vấn đề lý luận về quản trị công ty, quản trị công ty niêm yết và
pháp luật về quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam. Đồng thời, luận văn cũng
phản ánh thực trạng pháp luật về quản trị công ty niêm yết và một số giải
pháp kiến nghị.
- “Mô hình quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam hiện nay – Thực
trạng và phương hướng hoàn thiện” – Luận văn Thạc sĩ luật học của Phan
Thị Bảo Yến (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2014). Luận văn đi sâu vào
nghiên cứu hệ thống các văn bản pháp luật quy định về mô hình quản trị công
ty cổ phần, đối chiếu thống nhất giữa các văn bản này cũng như so sánh với
các thông lệ quản trị, các mô hình quản trị khác trên thế giới. Tuy nhiên, luận
văn được thực hiện trên cơ sở LDN 2005 nên chưa đề cập tới những thay đổi
tích cực của LDN 2014 về vấn đề này.
- “Hoàn thiện pháp luật về quản trị nội bộ công ty cổ phần” - Luận văn
Thạc sĩ luật học của Nguyễn Thị Thùy Linh (Trường Đại học Luật Hà Nội,

thống quy định hiện hành về quản lý nội bộ công ty cổ phần;
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng trong quá trình
đánh giá quy định của pháp luật;
- Phương pháp so sánh: được sử dụng để so sánh, đối chiếu giữa các quy
định của LDN 2005 và LDN 2014 và giữa quy định của pháp luật Việt Nam
và pháp luật một số nước trên thế giới để từ đó đánh giá sự phù hợp của quy
định pháp luật Việt Nam về quản lý nội bộ CTCP so với thông lệ quốc tế.
6. Những đóng góp của luận văn
Thứ nhất, luận văn làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về CTCP và tổ chức
quản lý nội bộ CTCP;
Thứ hai, trên cơ sở phân tích quy định của LDN, chỉ ra những điểm hợp
lý những vướng mắc về tổ chức quản lý nội bộ CTCP;


6

Thứ ba, đưa ra một số kiến nghị góp phần triển khai các quy định của
LDN 2014 về tổ chức, quản lý nội bộ CTCP.
7. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương :
Chương 1: Một số vấn lý luận về tổ chức quản lý nội bộ CTCP và pháp
luật về tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần.
Chương 2: Các quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 về tổ chức quản
lý nội bộ công ty cổ phần.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm triển khai các quy định của Luật
Doanh nghiệp 2014 về tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần.


7



8

trách nhiệm đối với các món nợ của công ty hạn chế ở mức bỏ vốn của từng
người, [15, tr.9].
Trong khi đó, theo Bộ luật Thương mại Đức, CTCP là mô hình công ty
đối vốn có tư cách pháp nhân sau khi tiến hành đăng ký kinh doanh; vốn điều
lệ khi thành lập CTCP tối thiểu là 50.EUR và được chia thành các cổ phần có
mệnh giá thấp nhất là 1 EUR; cổ đông của CTCP có thể là cá nhân hoặc tổ
chức; các cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
trong phạm vi giá trị cổ phần mà mình sỡ hữu; cổ phần của công ty được tự
do chuyển nhượng và CTCP được phát hành các loại cổ phần khác nhau để
huy động, [13, tr.7].
Điều 1041 Luật Công ty Anh năm 2006 định nghĩa: “Công ty cổ phần có
nghĩa là một công ty có vốn điều lệ đã góp hoặc cổ phần danh nghĩa của tổng
số vốn cố định được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, cũng có
số vốn cố định, hoặc nắm giữ và chuyển giao như chứng khoán, hoặc được
chia và nắm giữ một phần bằng cách này và một phần bằng cách khác, được
thành lập trên nguyên tắc có các thành viên sở hữu cổ phiếu hoặc chứng
khoán đó và không có những người khác”, [13, tr.8].
Ở Việt Nam, cách định nghĩa về công ty cổ phần cũng có sự khác nhau:
Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam , công ty cổ phần được định nghĩa
là: “những công ty hình thành trên cơ sở liên hợp tư bản các nhân bằng cách
phát hành và bán cổ phiếu và lợi nhuận của công ty được phân phối giữa các
cổ đông theo số lượng cổ phần”, [8, tr.593].
Theo quan điểm của các nhà luật học, công ty cổ phần là: “công ty
trong đó vốn điều lệ được chia thành những phần nhỏ nhất và bằng nhau gọi
là cổ phần. Người sỡ hữu cổ phần của công ty gọi là cổ đông. Cổ đông chỉ
chịu trách nhiệm trước nghĩa vụ của công ty đến hết giá trị cổ phần mà họ
nắm giữ. Công ty có quyền phát hành chứng khoán để công khai huy động

1.1.2. Đặc điểm công ty cổ phần
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, CTCP có các đặc điểm sau đây:
*Về thành viên công ty:


10

CTCP là loại công ty đặc trưng cho công ty đối vốn, cho nên có sự liên
kết của nhiều thành viên. Vì vậy, việc quy định số thành viên tối thiểu phải có
đã trở thành thông lệ quốc tế trong mấy trăm năm tồn tại của CTCP. Hầu hết
các nước đều có quy định số thành viên tối thiểu của CTCP. Ở Việt Nam,
điểm b khoản 1 Điều 110 LDN 2014 quy định: trong suốt quá trình hoạt động,
ít nhất phải có 3 thành viên (có thể là cá nhân hay tổ chức) tham gia CTCP mà
không quy định số lượng tối đa, [4, tr.133].
*Về vốn điều lệ:
Theo điểm a khoản 1 Điều 110 LDN 2014, vốn điều lệ của CTCP được
chia làm nhiều phần bằng nhau, gọi là cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần gọi là
mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Một cổ phiếu có thể phản
ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần. Việc góp vốn vào CTCP được
thực hiện bằng cách mua cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần.
LDN không hạn chế mỗi thành viên được mua tối đa bao nhiêu phần trăm vốn
điều lệ nhưng các thành viên có thể thỏa thuận trong điều lệ giới hạn tối đa số
cổ phần mà mỗi thành viên có thể mua nhằm hạn chế việc một thành viên nào
đó có thể nắm quyền kiểm soát công ty.
*Về chuyển nhượng vốn:
Các cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho
người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều
126 LDN 2014. Cổ phần của các thành viên được thể hiện dưới hình thức cổ
phiếu. Các cổ phiếu do công ty phát hành là một loại hàng hóa và có thể tự do
chuyển nhượng theo quy định pháp luật. Các trường hợp cổ đông bị hạn chế

nhượng vốn của CTCP có sự thông thoáng hơn nhiều so với cơ chế chuyển
nhượng vốn của thành viên công ty TNHH;
*Về chế độ trách nhiệm:
Cổ đông CTCP chịu trách nhiệm hữu hạn về nợ và nghĩa vụ tài sản khác
của công ty, tức là chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp vào công
ty. CTCP chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty.
Có thể thấy rằng sự tách biệt rõ ràng về tài sản của công ty và tài sản của
thành viên công ty đã giúp cho các cổ đông của CTCP có thể hạn chế được rủi
ro trong kinh doanh; đồng thời cũng góp phần giúp các nhà đầu tư mạnh dạn


12

hơn khi đầu tư kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Chính lợi thế này đã
giúp các CTCP có khả năng huy động vốn rất lớn để phục vụ cho hoạt động
sản xuất kinh doanh.
*Về quyền phát hành chứng khoán của CTCP:
CTCP có quyền phát hành chứng khoán (như cổ phiếu, trái phiếu…) ra
công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán nhằm huy động vốn.
Điều này thể hiện khả năng huy động vốn lớn và rộng rãi ra công chúng của
CTCP. Nhờ quyền phát hành chứng khoán, CTCP có khả năng chủ động mỗi
khi cần nguồn vốn lớn để tham gia vào các dự án nhờ khả năng huy động vốn
linh hoạt. Sự chủ động về vốn là một yếu tố quan trọng hàng đầu góp phần
vào thành công của doanh nghiệp. Cùng với đó, những cá nhân với số tiền
nhỏ có cơ hội đầu tư có lợi và an toàn. Các cá nhân mua cổ phần được hưởng
lợi tức, bên cạnh đó họ còn được hưởng lợi nhuận đáng kể từ sự tăng giá cổ
phiếu khi công ty làm ăn có hiệu quả. Mua cổ phiếu của CTCP là hình thức
đầu tư giúp các nhà đầu tư hạn chế rủi ro bằng cách cùng lúc đầu tư vào nhiều
công ty.
Khả năng huy động vốn lớn và rộng rãi trong công chúng cũng kéo theo

vốn. Mặt khác do sức ép của cổ đông về chia lãi cổ phần và muốn duy trì giá
cổ phiếu cao trên thị trường chứng khoán khiến doanh nghiệp phải phấn đấu
nâng cao sử dụng đồng vốn. Thứ hai, do lợi nhuận của các CTCP là khác
nhau trong các lĩnh vực khác nhau nên có thể dẫn dắt tiền vốn nhàn rỗi từ
nhiều kênh khác nhau trong vào các ngành, các lĩnh vực có năng suất lao
động và tỷ suất lợi nhuận cao làm cho vốn được phân bố và sử dụng có hiệu
quả trong nền kinh tế;
- CTCP tạo ra một cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù đã hạn chế được những
tác động tiêu cực về kinh tế xã hội khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng
khủng hoảng. Vốn tự có của công ty huy động thông qua việc phát hành cổ
phần là vốn của nhiều cổ đông, do đó san sẻ rủi ro cho nhiều cổ đông. Nhờ
vậy, khi CTCP phá sản, hậu quả về mặt kinh tế đối với từng cá nhân, tổ chức
riêng lẻ được hạn chế ở mức thấp nhất. Cách thức huy động vốn của công ty
CTCP đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tài chính có thể mua cổ phiếu, trái


14

phiếu ở các công ty ở nhiều ngành nghề khác nhau nên giảm bớt được tổn thất
khi một công ty bị phá sản. Cơ chế phân bố rủi ro này đã tạo điều kiện cho
những người có vốn mạnh dạn đầu tư vào một công ty làm cho nền kinh tế
phát triển và có xu hướng ổn định hơn.
- Việc phát hành chứng khoán của CTCP cùng với việc chuyển nhượng
mua bán chứng khoán đến một mức độ nhất định sẽ tạo điều kiện cho sự phát
triển của thị trường chứng khoán – “trái tim của thị trường vốn”.
- CTCP đảm bảo sự tham gia của đông đảo của công chúng, lại có cơ cấu
tổ chức quản lý chặt chẽ, phân định rõ ràng giữa quyền sỡ hữu và quyền kinh
doanh nên đã tạo điều kiện cho người lao động tham gia quản lý công ty một
cách thực sự, sử dụng được những giám đốc tài năng, đảm bảo được quyền
lợi, lợi ích và trách nhiệm của chủ sỡ hữu, đẩy nhanh quá trình phân công lao

nội bộ công ty là việc tổ chức bộ máy quản lý của công ty để duy trì và thúc
đẩy hoạt động của công ty, đảm bảo cho sự vận hành của công ty nhằm hoàn
thành mục tiêu nhất định. Đây là quá trình tác động của cổ đông tới hoạt động
của toàn công ty nhằm đảm bảo quyền lợi của mình. Như vậy, quản trị công
ty và quản lý nội bộ công ty có sự trùng lắp nhất định. Tuy nhiên, theo quan
điểm của tác giả, quản trị công ty được xét dưới góc độ kinh tế, còn quản lý
nội bộ công ty là xét dưới góc độ pháp lý. Tổ chức quản lý nội bộ công ty ảnh
hưởng đến quyền lợi của người có liên quan không chỉ là cổ đông mà còn là
nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, quan hệ với các cơ quan nhà nước.
Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), “quản lý công ty là
một hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lý. Cơ chế này xác định việc phân
chia các quyền và nghĩa vụ giữa cổ đông, hội đồng quản trị, các chức danh
quản lý và những người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các
quyết định kinh doanh. Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục
tiêu hoạt động, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục
tiêu đó”, [16, tr.20]. Theo ngân hàng thế giới (WB), quản lý công ty được coi
là một hệ thống kết hợp các yếu tố luật pháp, thể chế và các hệ thống quản lý
của công ty. Nó cho phép công ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và
nhân lực, hoạt động một cách hiệu quả, tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho


16

thành viên trong khi vẫn tôn trọng các quyền lợi của những người có quyền,
lợi ích liên quan và của xã hội, [16, tr.20 ].
Theo ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), quản lý công ty bao gồm một
hệ thống các quy chế xác định rõ mối quan hệ giữa các cổ đông, các chức
danh quản lý, các chủ nợ, Chính phủ và những người có lợi ích liên quan khác
cũng như hệ thống các cơ chế đảm bảo thực hiện các quy chế trên, [10, tr.7],
[13, tr.6].

quan giám sát là BKS để thường xuyên kiểm soát hoạt động quản lý điều
hành của cơ quan chấp hành. Cơ cấu quản lý như vậy đã thể hiện sự tách biệt
giữa quyền sỡ hữu với quyền quản lý kinh doanh và sự cân bằng giữa các cơ
quan quyền lực trong nội bộ công ty. Như vậy, có thể nói rằng, cơ sở của chế
độ quản lý CTCP chính là cơ chế phân quyền và mối quan hệ quyền lực giữa
các cơ quan quyền lực trong công ty trên cơ sở tách biệt quyền sỡ hữu với
quyền quản lý kinh doanh công ty.
- Tổ chức quản lý nội bộ CTCP đảm bảo sự kiểm soát, giám sát giữa các
cơ quan quản lý: HĐQT và BGĐ được coi là cơ quan hành pháp, cơ quan
điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của Công ty; còn BKS đóng vai
trò của cơ quan tư pháp, cơ quan có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát hoạt động
của HĐQT và BGĐ công ty. BKS trong công ty cổ phần ở Việt nam được
“thiết kế” là một cơ quan (có thể hiển đơn giản là “tư pháp”) riêng trong cơ
cấu HĐQT nội bộ của CTCP, cơ quan này có nhiệm vụ chuyên trách giám sát
và đánh giá HĐQT và những người quản lý điều hành nhân danh cổ đông vì
lợi ích của cổ đông của CTCP. Như vậy, vai trò của BKS trong mối quan hệ
với các bộ phận khác trong CTCP như ĐHĐCĐ, HĐQT, BGĐ, nhất là trong
hoạt động của CTCP thì BKS trong vai trò kiểm tra, giám sát và kiềm chế, đối
trọng với HĐQT và BGĐ để các hoạt động của công ty được hoạt động minh
bạch vì lợi ích của các cổ đông công ty.
1.2.3. Vai trò của bộ máy quản lý nội bộ CTCP
CTCP là loại hình doanh nghiệp có khả năng huy động vốn lớn, có khả
năng mở rộng và phát triển quy mô kinh doanh một cách nhanh chóng và
không giới hạn, nếu tổ chức quản lý tốt sẽ có tác động tích cực nhiều mặt đối
với phát triển của từng công ty cụ thể nói riêng và nền kinh tế nói chung.


18

Thứ nhất, đối với quyền và lợi ích của các cổ đông công ty

19

quả, từ đó góp phần giúp cho nền kinh tế đạt hiêu quả. Ngoài ra, giảm được
rủi ro khủng hoảng tài chính do các cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính ở
mức độ nhất định đều có nguyên nhân từ quản lý yếu kém. Quản lý yếu kém ở
các nước Châu Á được coi là một trong những nguyên nhân chủ yếu của các
cuộc khủng hoảng tài chính–tiền tệ 1997-1998. Có thể thấy, quản lý tốt có vai
trò khá quan trọng không chỉ với bản thân công ty mà với cả nền kinh tế nói
chung, [12, tr.15].
Thứ tư, với đối tác và khách hàng của công ty
Khi lựa chọn đối tác, bộ máy quản lý cũng là một yếu tố cần xem xét, vì
vậy quản lý tốt là yếu tố tăng sức hấp dẫn của các doanh nghiệp. Có nhiều đối
tác cũng có nghĩa là cơ hội phát triển dành cho công ty lớn hơn. Còn với
người tiêu dùng, vai trò của quản lý công ty thể hiện sự mờ nhạt hơn. Trong
thương mại, quản lý nội bộ CTCP chủ yếu thể hiện vai trò với khách hàng
thông qua phân phối sản phẩm, cung ứng dịch vụ: người tiêu dùng luôn muốn
lựa chọn sản phầm, dịch vụ có uy tín, muốn vậy cần có bộ máy quản lý tốt để
tạo ra và duy trì sản phẩm, dịch vụ tốt.

1.2.4. Các yêu cầu đặt ra đối với việc tổ chức bộ máy quản lý nội bộ
CTCP
Thứ nhất, bộ máy tổ chức quản lý phải gọn nhẹ, vận hành tốt.
Đây là yêu cầu quan trọng đối với việc tổ chức quản lý nội bộ CTCP.
Nếu CTCP đáp ứng tốt được yêu cầu này sẽ tiết kiệm được chi phí đáng kể
cho công ty và đồng thời hoạt động của công ty sẽ linh hoạt và vận hành nhịp
nhàng, nhanh chóng, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, việc gọn nhẹ ở
đây không có nghĩa giảm nhẹ. Công ty luôn phải đảm bảo những bộ phận cần
thiết, phù hợp với đặc điểm quy mô, ngành nghề… nếu thiếu sự đồng bộ thì
công ty không thể vận hành trơn tru và không thể mang lại hiệu quả cao.
Thứ hai, công khai và minh bạch hóa thông tin.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status