BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG THỊ NGỌC QUỲNH
VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG, PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trường Đại
học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Luật
Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
chương trình sau đại học tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến Giảng
viên –TS Nguyễn Văn Phương, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ dẫn và giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên, quan
tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
ĐTM
Đánh giá tác động môi trường
Luật BVMT
Luật Bảo vệ môi trường
Luật BV&PTR
Luật Bảo vệ và phát triển rừng
MTTQVN
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Nghị định số 18/2015/NĐ-CP
Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày
14/02/2015 của Chính phủ quy định về quy
hoạch bảo vệ môi trường, đánh gía môi
trường chiến lược, đánh giá tác động môi
trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
Nghị định số 19/2015/NĐ-CP
Nghị định của Chính phủ số 19/2015/NĐ-CP
ngày 14/02/2015 quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
Chương 3 ..................................................................................................... 55
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ VÀ TRÁCH NHIỆM
THAM GIA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ ....... 55
3.1. Một số giải pháp về chính sách bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo và
nâng cao vai trò của cộng đồng dân cư ...................................................... 55
3.2. Hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường về vai trò của cộng đồng dân
cư .............................................................................................................. 56
3.3. Nâng cao năng lực thực hiện vai trò của cộng đồng dân cư trong bảo vệ
môi trường ................................................................................................ 61
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 65
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới, trước khi hoàn toàn trở
thành nền kinh tế xanh, Việt Nam trải qua giai đoạn tăng trưởng gây ô nhiễm.
Đối tượng gánh chịu thiệt hại nặng nề nhất chính là cộng đồng dân cư (CĐDC)
sinh sống tại khu vực bị ô nhiễm. Khi người dân chỉ chú trọng làm kinh tế,
chính quyền quá quan tâm tới tăng trưởng và một bộ phận cán bộ vì lợi ích cá
nhân mà lãng quên hệ lụy của phát triển kinh tế không bền vững, thì “nỗi đau
ung thư” đã đổ xuống hàng ngàn hộ gia đình. Theo kết quả điều tra của Trung
tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước thuộc Bộ Tài nguyên và Môi
trường, tính đến năm 2012 cả nước tồn tại 37 “làng ung thư” với 1.136 người
chết vì ung thư trong vòng 20 năm trở lại đây [30]. Những con số này chỉ phán
ánh một góc nhỏ thực tiễn, bởi ai cũng biết: đi dọc chiều dài đất nước, không ít
thì nhiều nơi đâu cũng có người dân đang ngày ngày vật lộn, đấu tranh với ô
phát triển - Trung tâm Con người và Thiên nhiên và đ.t.g (2014). Các nghiên
cứu này đã đạt được thành tựu khoa học trên những phương diện nhất định. Tuy
nhiên một số nội dung còn chưa được đề cập tới, đặc biệt là các nội dung được
sửa đổi bổ sung kể từ năm 2014 trong các văn bản pháp luật như Luật Bảo vệ
môi trường (Luật BVMT), các văn bản hướng dẫn mới ra đời như Nghị định của
Chính phủ số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Bảo vệ môi trường (Nghị định số 19/2015/NĐ-CP) ....
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu, đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam về hoạt
động bảo vệ môi trường của CĐDC như: Luật BVMT 2014 và các văn bản
hướng dẫn, Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 (Luật BV&PTR 2004) và các
văn bản hướng dẫn,... và thực tiễn CĐDC thực hiện vai trò của mình trong
những năm gần đây.
3
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Các phương pháp nghiên cứu gồm:
phân tích, so sánh, lịch sử, chứng minh, tổng hợp, quy nạp được kết hợp để triển
khai thực hiện đề tài. Trong đó, phân tích, so sánh và chứng minh thông qua
khảo sát thực tiễn là những phương pháp chính của đề tài. Cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích và khái quát hoá được sử dụng để làm sáng tỏ
các căn cứ, cơ sở khoa học cho việc cần thiết phải hoàn thiện pháp luật.
- Phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu, đánh giá pháp luật
hiện hành với các văn bản pháp luật tiền nhiệm và thực tiễn áp dụng pháp luật.
- Phương pháp chứng minh được sử dụng để chứng minh các luận điểm,
các nhận định và các đề xuất phương án xây dựng, hoàn thiện.
khu vực địa lý nhất định (Oxford advanced learner’s dictionary). Chi tiết hơn,
Từ điển trực tuyến Wikitionary định nghĩa cộng đồng là một nhóm người có
cùng hệ tư tưởng và thường sử dụng chung ngôn ngữ, phong tục tập quán,
truyền thống và luật lệ.
Dưới góc độ xã hội học, cộng đồng có nội hàm bao chứa CĐDC. Cụ thể,
theo Wikipedia, nếu như cộng đồng là một đơn vị xã hội, không giới hạn cấp
bậc, có hệ thống tiêu chuẩn chung, ví dụ cộng đồng mạng, cộng đồng Châu
Âu... Thì CĐDC là một cộng đồng ở phạm vi hẹp (ví dụ: thị trấn nhỏ) cùng với
doanh nghiệp và cơ sở sản xuất công nghiệp là 3 yếu tố chính tạo nên một cộng
đồng đặc trưng. Nó được hình thành trên cơ sở dân cư tập trung sinh sống lâu
dài với khế ước xã hội, các hoạt động tương trợ lẫn nhau và có giá trị văn hóa
riêng biệt so với các hình thức tổ chức xã hội khác của loài người (Từ điển bách
khoa toàn tư Britannica).
Dưới góc độ luật học Việt Nam, khái niệm CĐDC được xây dựng dựa
trên đơn vị hành chính và thường từ cấp hành chính thấp nhất (xã, phường, thị
trấn) trở xuống. Khoản 3 Điều 5 Luật Đất đai 2013 định nghĩa “Cộng đồng dân
5
cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp,
bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục,
tập quán hoặc có chung dòng họ”. Luật BVMT 1993, 2005 và 2014 đều không
chính thức đưa ra khái niệm CĐDC mà phải dựa vào văn bản hướng dẫn, gần
đây nhất là Nghị định số 19/2015/NĐ-CP, tại khoản 10 Điều 3 định nghĩa
“Cộng đồng dân cư là cộng đồng người sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng,
ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư”. Chuyên biệt hơn, Luật
BV&PTR 2004 giải nghĩa thuật ngữ cộng đồng dân cư thôn tại khoản 13 Điều 3
“là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp,
buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương”.
CĐDC với cộng động.
Thứ hai, CĐDC gắn kết nội tại chặt chẽ không dựa trên các quy tắc rõ
ràng thành văn (hương ước làng, xã chỉ xuất hiện sau khi làng, xã hình thành và
tồn tại một thời gian dài) mà do những yếu tố tinh thần, quan hệ tình cảm sâu
sắc giữa các cá nhân với nhau và giữa cá nhân với tập thể. Những nhân tố này
chi phối cảm xúc của cá nhân khi thực hiệc công việc, nhiệm vụ cụ thể được
CĐDC giao phó mà biểu hiện rõ rệt thông qua sự hiến dâng về mặt tinh thần
hoặc dấn thân thực hiện các giá trị xã hội được cả CĐDC đề cao. Ngoài ra, ý
thức đoàn kết tập thể cũng là một biểu hiện quan trọng và phổ biến ở CĐDC.
Thứ ba, là đặc điểm phái sinh của hai đặc điểm kể trên, cụ thể: các thành
viên của CĐDC thường có cùng ngôn ngữ, địa điểm sinh sống, thành phần giai
cấp, hoạt động kinh tế, văn hóa (tín ngưỡng, phong tục, tập quán).
1.1.2. Sự ra đời và phát triển của cộng đồng dân cư ở Việt Nam
Làng là hình thức biểu hiện tiêu biểu của CĐDC ở Việt Nam. Trên cơ sở
làng, các hình thức biểu hiện khác của CĐDC ở Việt Nam ra đời, phát triển và
tồn tại tới tận ngày nay.
Cùng với quá trình tan rã công xã thị tộc và hình thành công xã nông
thôn, làng Việt ra đời. Theo nhiều sử sách truyền lại, làng Việt có từ thời Văn
7
Lang, đến thời Lý, làng Việt đã rất phát triển [24]. Từ thời Hùng Vương, làng
được gọi là chạ, đơn vị này có thể coi tương đương với sóc (của người Khơme),
bản, mường (của các dân tộc thiểu số phía Bắc), buôn (của các dân tộc thiểu số
Tây Nguyên); còn làng của người làm nghề chài lưới gọi là vạn hay vạn chài.
Từ thế kỷ XV, để cùng nhau chống giặc ngoại xâm và bọn đạo tặc, làng được tổ
chức chặt chẽ với hương ước quy định tổ chức cuộc sống của cả cộng đồng từ lễ
tiết, sinh hoạt học tập và sản xuất, ngôi thứ, thưởng phạt làm tiêu chuẩn sống
[24]. Mỗi làng bao gồm nhiều gia đình sống quây quần trong một khu vực địa lý
1.2. Vai trò của cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường
1.2.1. Cơ sở hình thành vai trò của cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi
trường
Thách thức lớn của công tác bảo vệ môi trường nằm ở mâu thuẫn trong
suy nghĩ, thái độ, hành vi về môi trường giữa các nhóm người khác nhau, giữa
các cá nhân với nhau và mâu thuẫn ngay trong chính bản thân mỗi con người về
nhu cầu vừa có một môi trường trong sạch lại vừa thỏa mãn đời sống vật. Giải
pháp duy nhất cho vấn đề này là xây dựng các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi
trường thành một thể thống nhất, hài hòa, đồng thời huy động được sự tham gia
của mọi cá nhân, tổ chức từ Trung ương đến địa phương. Đặc biệt, qua các cấp
quản lý hành chính, càng xuống thấp thì vai trò của người dân càng trở nên quan
trọng. Sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo vệ môi trường được xem
như một giải pháp hiệu quả khơi dậy lòng tích cực ở người dân. Bởi lẽ một
trong những đặc trưng của CĐDC chính là tinh thần cộng đồng hay sức mạnh
cộng đồng, xuất phát từ: tính đoàn kết, gắn bó, hỗ trợ lẫn nhau vì quyền lợi
chung; lòng tự hào về truyền thống của làng xóm, của quê hương gắn với tình
yêu dân tộc. Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến tính tự quản của CĐDC
như làng, bản, tổ dân cư... Hình thành trên cơ sở sự gắn kết nội tại chặt chẽ lâu
dài giữa các cá nhân với nhau và giữa mỗi cá nhân với cả cộng đồng, tính tự
quản của CĐDC được duy trì và có khả năng định hướng, chi phối hành động
của cá thể và toàn thể, tạo nên một sự thống nhất tương đối ổn định. Sự tham
9
gia bảo vệ môi trường của CĐDC không chỉ xuất phát từ nhu cầu của công tác
bảo vệ môi trường nói chung mà còn từ chính mong muốn của bản thân CĐDC.
Sự hình thành, phát triển và tồn tại của CĐDC luôn gắn liền với một khu vực
địa lý nhất định. Điều này tạo nên mối liên hệ gắn bó sâu sắc về mặt tinh thần
cũng như vật chất giữa CĐDC và mảnh đất họ sinh sống. Nói cách khác, bảo vệ
môi trường và phát triển các mô hình CĐDC tự quản trong hoạt động bảo vệ
môi trường. Cụ thể hơn, tại Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 04/2012/TT-BNV
ngày 31/08/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của thôn, tổ
dân phố ghi nhận giữ gìn vệ sinh môi trường là một trong những nội dung hoạt
động của CĐDC thôn, tổ dân phố.
Việc huy động toàn dân tham gia phát triển bền vững được xây dựng theo
các định hướng cụ thể tại Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam ban hành kèm
theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính
phủ, bao gồm: nâng cao sự tham gia của cộng đồng trong việc xem xét đánh giá
tác động môi trường (ĐTM); phát triển các phong trào quần chúng và hoạt động
cộng đồng trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường sống, bảo vệ các nguồn tài
nguyên môi trường tại địa phương; thành lập các nhóm bảo vệ tự quản lý, giám
sát việc sử dụng tài nguyên ở địa phương; xây dựng các điểm cộng đồng điển
hình về phát triển bền vững, về hệ thống tự quản tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ
và nhân rộng các điển hình. Những vấn đề này được tái khẳng định và nâng tầm
quan trọng trong Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia qua từng thời kỳ, và
gần đây nhất là Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia trong đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2030 ban hành kèm Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày
05/09/2012 của Thủ tướng Chính phủ, tại Điều 1 xác định: phát huy vai trò của
cộng đồng trong bảo vệ môi trường; lồng ghép có hiệu quả tiêu chí bảo vệ môi
trường vào Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; thúc
đẩy sự hình thành hợp tác xã thu gom, vận chuyển chất thải rắn tại các điểm dân
11
cư; đẩy mạnh phổ biến, giáo dục pháp luật tới người dân và xã hội hóa hoạt
động bảo vệ môi trường.
1.2.2. Những yêu cầu đối với việc thực hiện vai trò của cộng đồng dân
cư trong bảo vệ môi trường
nhiệm của các tổ chức có hoạt động ảnh hưởng tới môi trường cơ sở; các tổ
chức này thực hiện nghĩa vụ một cách nghiêm túc, đầy đủ; và bản thân CĐDC
phải tích cực thực thi vai trò của mình. Bên cạnh đó, mọi ý kiến tư vấn của
CĐDC phải đúng với thực tế, có tính xây dựng và được cởi mở, công khai.
Thứ tư, ý kiến của CĐDC phải được cơ quan có thẩm quyền dánh giá,
xem xét, cân nhắc cẩn thận trước khi đưa ra quyết định. Những người ra quyết
định, lập quy hoạch không nhất thiết phải đồng ý với những ý kiến của CĐDC;
tuy nhiên họ cần phải quan tâm đến cộng đồng một cách nghiêm túc và khi thấy
cần thiết, hợp lý, họ phải có quyết định thay đổi quy hoạch, điều chỉnh quyết
định kịp thời. Yêu cầu này một mặt xóa bỏ tình trạng xin ý kiến nhân dân chỉ
mang tính hình thức, mặt khác thể hiện sự tôn trọng đối với nhân dân, từ đó
giảm khả năng nhân dân khiếu nại về môi trường trong tương lai.
1.2.3. Các biểu hiện của vai trò của cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi
trường
Sự tham gia của CĐDC trong bảo vệ môi trường là việc một CĐDC được
tham gia tư vấn ý kiến, tỏ thái độ và mối quan tâm của họ về một kế hoạch phát
triển hay một quy hoạch phát triển kinh tế hoặc kế hoạch sử dụng tài nguyên tại
nơi họ sinh sống. Sự tham gia này được biểu hiện bằng các cách khác nhau. Cụ
thể:
Căn cứ vào hình thức thể hiện, vai trò của CĐDC được biểu hiện bằng
ngôn ngữ và bằng chữ viết. Thông qua ngôn ngữ, tức lời nói, người dân, đại
diện CĐDC có thể đề đạt ý kiến của mình tại buổi đối thoại như về ĐTM, góp ý
dự thảo văn bản pháp luật... Chữ viết được ghi nhận trong các văn bản liên quan
13
đến vấn đề môi trường địa phương như: hương ước làng, quy ước thôn, bản kiến
nghị hay khiếu nại của CĐDC gửi tới cơ quan có thẩm quyền.
Căn cứ vào cơ chế tham gia, CĐDC thực hiện bảo vệ môi trường bằng
của Nhà nước Việt Nam, một nhà nước của dân, do dân và vì dân. CĐDC thực
thi vai trò trên cơ sở ý kiến chung của tập thể và hướng tới lợi ích của toàn dân.
Nói cách khác, mô hình bảo vệ môi trường cấp cơ sở này lấy dân làm gốc, dựa
vào sức mạnh của nhân dân mà phát triển và vì lợi ích của dân để tồn tại. Sự
tham gia của CĐDC trong hầu hết các nội dung bảo vệ môi trường góp phần
tăng cường dân chủ theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra.
Thứ hai, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được đảm bảo. Xét cho
cùng, mục tiêu lớn nhất của việc CĐDC tham gia bảo vệ môi trường chính là
đảm bảo quyền được sống trong môi trường sống trong lành (Điều 43 Hiến
pháp 2013). Đây là cơ hội để người dân bày tỏ ý kiến và bằng cách đó họ có thể
làm ảnh hưởng đến quyết định của các cấp có thẩm quyền. Cộng đồng và người
dân dùng chính quyền lực được Nhà nước trao cho để thực hiện và đảm bảo
hiệu quả thực hiện quyền lợi của mình.
Thứ ba, xuất phát từ mối liên hệ mật thiết, thường xuyên giữa CĐDC với
nơi họ cư trú và nhu cầu sống trong môi trường trong lành, cộng đồng trở thành
lực lượng giám sát môi trường nhanh và hiệu quả, một nguồn cung cấp thông tin
môi trường luôn cập nhật và chính xác, giúp cho các cơ quan quản lý môi
trường kịp thời giải quyết sự ô nhiễm môi trường ngay từ khi mới xuất hiện.
Đây được xem là một ưu điểm nổi bật khi CĐDC tham gia bảo vệ môi trường
tại địa phương.
Thứ tư, những đề xuất, góp ý của người dân và CĐDC giúp cơ quan nhà
nước giải quyết đúng đắn, hợp tình, hợp lý các vấn đề môi trường được đặt ra
tại địa phương. Những quyết định về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế tại
15
địa phương sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của CĐDC. Nên
với tư cách đối tượng chịu tác động trực tiếp, CĐDC có quyền đề xuất ý kiến
Các bên liên quan chính trong các quan hệ này gồm: CĐDC, chủ dự án phát
triển kinh tế - xã hội, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Từ đây phát sinh bốn
mối quan hệ cơ bản giữa: CĐDC với chủ dự án phát triển kinh tế - xã hội tại địa
phương; CĐDC và cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chủ dự án với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. Pháp luật biến các mối quan hệ xã hội này trở thành các
mối quan hệ pháp lý và giữ chúng luôn ở thế cân bằng, tức đồng thời bảo vệ
quyền và lợi ích của các bên.
Thứ hai, xuất phát từ một thuộc tính cơ bản của pháp luật nói chung, pháp
luật môi trường có giá trị bắt buộc thực hiện đối với mọi cá nhân, tổ chức cư trú
trên lãnh thổ Việt Nam. Vai trò này biểu hiện thông qua các nội dung của pháp
luật như: dự liệu tình huống điển hình, xác định cách hành xử bắt buộc, đưa ra
cách xử lý khi không tuân theo.
Thứ ba, pháp luật đảm bảo sự tham gia của CĐDC. Bằng cách quy định
cụ thể quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của CĐDC, pháp luật áp đặt
CĐDC tham gia vào công tác bảo vệ môi trường. Nhà nước sử dụng và kết hợp
các phương tiện khác nhau để thực hiện vai trò này của pháp luật, như: giáo dục
pháp luật, phương pháp hành chính, biện pháp kinh tế và các biện pháp cưỡng
chế.
Thứ tư, pháp luật định hướng sự tham gia của cộng đồng. Pháp luật xây
dựng quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong mối quan hệ xã hội; quy định chi
tiết các hành vi được phép và hành vi bị cấm; xác định cụ thể cách cư xử lẫn
những hình phạt sẽ áp dụng nếu chủ thể vi phạm. Trên cơ sở đó, CĐDC xác
định cách cư xử của mình, đồng thời nhận thức được nghĩa vụ của chủ thể khác
để thực hiện quyền giám sát, kiểm tra.
Thứ năm, pháp luật tạo sự đồng bộ, thống nhất cho sự tham gia trên các
phương diện: lãnh thổ, phương thức, giới hạn. Đây là vai trò phái sinh của
những vai trò kể trên. Chính tính phổ biến, tính định hướng của pháp luật đã
17
hành ở từng nội dung vai trò của CĐDC trong bảo vệ môi trường.
2.1. Cộng đồng dân cư tham gia phản biện xã hội về bảo vệ môi
trường
Phản biện xã hội của CĐDC là việc cộng đồng dân cư một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp nhận xét, đánh giá, kiến nghị trong quá trình xây dựng và thực
hiện những chủ trương, chính sách, kế hoạch và pháp luật liên quan đến bảo vệ
môi trường ở các cấp. Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, theo Điều 52 Nghị
định số 19/2015/NĐ-CP, CĐDC phản biện xã hội bằng hai hình thức: tham vấn
chủ trương, chính sách của Nhà nước và tham vấn về ĐTM chiến lược, ĐTM.
2.1.1. Cộng đồng dân cư tham vấn chủ trương, chính sách, pháp luật
của Nhà nước về môi trường
Nghị định số 19/2015/NĐ-CP quy định phạm vi chủ trương, chính sách
của Nhà nước cần có sự tham vấn của CĐDC về môi trường tại khoản 1 Điều
52, bao gồm:
“a) Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án bảo
vệ môi trường cấp quốc gia, vùng, liên vùng và cấp tỉnh;
b) Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường;
19
c) Xác lập các chỉ tiêu về môi trường trong chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp quốc gia, liên vùng, vùng và cấp tỉnh”
Là một nội dung của phản biện xã hội nói chung nên bên cạnh các quy
định pháp luật chuyên ngành môi trường, việc CĐDC tham vấn chủ trương,
chính sách của Nhà nước về môi trường còn được điều chỉnh bởi hai văn bản
chỉ đạo của Đảng: Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các
đoàn thể chính trị - xã hội ; Quy định về việc MTTQVN, các đoàn thể chính trị xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Theo
đó, việc CĐDC tham vấn chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về