BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ LÊ THU TRANG
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CỦA VIỆC PHÒNG,
CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH GIỮA VỢ VÀ CHỒNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. HÀ THỊ MAI HIÊN
HÀ NỘI - 2014
3.1.. Đánh giá chung về tình trạng BLGĐ giữa vợ và chồng
55
3.2. Thực trạng áp dụng pháp luật phòng chống BLGĐ
1
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển phức tạp và biến chuyển không ngừng của xã
hội, bên cạnh sự hòa bình, ổn định, hiện tượng bạo lực đang xảy ra từng ngày, ở nhiều
nơi, với nhiều đối tượng, trong các lĩnh vực khác nhau mà đặc biệt phải kể đến đó là
hiện tượng bạo lực giữa vợ và chồng. Bạo lực gia đình nói chung, BLGĐ giữa vợ và
chồng nói riêng đã và đang trở thành mối quan tâm, sự lo lắng cho toàn xã hội. Bởi mỗi
chúng ta, ai cũng mong muốn có một mái ấm cho riêng mình để được trao và nhận
những yêu thương, để động viên, giúp đỡ nhau trong cuộc sống…
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm tới việc
phòng, chống bạo lực gia đình và đã ban hành nhiều đạo luật trực tiếp và gián tiếp liên
quan như: Hiến pháp năm 1992; Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em; Bộ luật Dân sự; Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh về
Người cao tuổi; Pháp lệnh về Người tàn tật.. và đặc biệt là Luật Phòng, chống bạo lực
gia đình. Những văn bản này đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong lĩnh vực
phòng, chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên, thực tế áp dụng cho thấy, các quy phạm
pháp luật này chưa thực sự đi vào cuộc sống, sự quan tâm và hiểu biết về lĩnh vực này
chưa đi vào chiều sâu, tình trạng bạo lực giữa vợ và chồng trong gia đình vẫn đang
diễn ra ngày càng phức tạp. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu những vấn đề pháp lý về
việc phòng, chống BLGĐ giữa vợ và chồng ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra một số
giải pháp tăng cường hiệu quả việc áp dụng pháp luật phòng, chống BLGĐ giữa vợ và
chồng là vô cùng cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, vấn đề bạo lực trong gia đình bắt đầu được quan tâm nghiên cứu từ
những năm 90 của thế kỷ XX. Sau Hội nghị quốc tế về bạo lực trên cơ sở giới tổ chức
ở Bali năm 1993 và Hội nghị quốc tế về phụ nữ lần thứ 4 tổ chức tại Bắc Kinh năm
3
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu các quy định của pháp luật về bạo
lực gia đình giữa vợ và chồng hiện nay, xem xét thực trạng áp dụng pháp luật về
phòng, chống bạo lực gia đình gữa vợ và chồng để tìm ra một số giải pháp pháp lý
nhằm phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả hành vi này.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào các quy định của Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, có xem xét tới các quy định có liên quan
trong các văn bản pháp luật khác.
5. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp cụ thể được tác giả sử dụng khi nghiên cứu đề tài bao gồm: quy
nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp. so sánh, …
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn còn gồm 3
chương:
Chương 1: Khái quát vấn đề bạo lực gia đình giữa vợ và chồng và điều chỉnh
pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình giữa vợ và chồng
Chương 2 Thực trạng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình giữa vợ và
chồng
Chương 3: Thực trạng bạo lực gia đình giữa vợ và chồng và một số giải pháp
tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình giữa vợ và
chồng ở Việt Nam hiện nay.
4
Chương 1
KHÁI QUÁT VẤN ĐỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH GIỮA VỢ VÀ CHỒNG VÀ
ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH GIỮA
phụ nữ một cách không chính đáng. Nó bao gồm những hành hạ về thể chất, tinh thần
hoặc gây tổn thương hay đau đớn về tình dục, việc đe doạ gây ra những hành động
như vậy, sự cưỡng chế và tước đoạt các tự do khác...”.
Theo tinh thần của Luật bình đẳng giới 2006 thì bạo lực gia đình còn được hiểu
là sự phân biệt đối xử dưới bất cứ hình thức nào trên cơ sở gây tổn hại hoặc có nguy cơ
gây tổn hại đến quyền, lợi ích về mọi mặt, mọi lĩnh vực…
Như vậy,từ góc độ giới, có thể hiểu bạo lực gia đình là bất kỳ hành vi nào của
các thành viên gia đình đối với nhau trên cơ sở giới tính, được biểu hiện dưới những
hình thức nhất định, có khả năng gây ra hoặc đe doạ gây ra những tổn hại nhất định về
thể chất, tinh thần, kinh tế, tước đoạt hoặc hạn chế quyền tự do của các thành viên khác
trong gia đình.
Nhìn từ góc độ pháp luật
Theo Luật mẫu về bạo lực gia đình của Uỷ ban nhân quyền của Liên Hợp Quốc
ngày 02/ 02/ 1996 :"Bạo lực gia đình là tất cả các hành vi lạm dụng thể chất, tinh thần,
tình dục dựa trên cơ sở giới đối với một thành viên, một người phụ nữ trong gia đình,
từ hành vi đánh đập giản đơn đến gây thương tích nặng, bắt cóc, đe doạ, doạ dẫm,
cưỡng bức, quấy rối,lăng nhục bằng lời nói, dùng vũ lực để vào nhà trái pháp luật,
phóng hoả, huỷ hoại tài sản,bạo lực tình dục, hiếp dâm trong hôn nhân, bạo lực liên
quan đến thách cưới hoặc của hồi môn, cắt bộ phận sinh dục nữ, bạo lực liên quan đến
bóc lột mại dâm, bạo lực đối với người giúp việc trong gia đình...".
Mặt khác, theo quy định tại Khoản 2, Điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia
đình năm 2007- bạo lực gia đình được hiểu là “hành vi cố ý của thành viên gia đình
gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về vật chất, tinh thần, kinh tế đối với thành
viên khác trong gia đình”. Như vậy, hành vi bạo lực gia đình được giới hạn bởi các
chủ thể là thành viên của gia đình – “tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn
nhân, huyết thống, hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ
với nhau…”(khoản 10 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) khi họ thực hiện
6
7
quy định như vậy có ý nghĩa bảo đảm cho tất cả nạn nhân của bạo lực gia đình đều
được hỗ trợ và bảo vệ.
1.1.2 Bạo lực gia đình giữa vợ và chồng
Bạo lực trong gia đình diễn ra dưới nhiều hình thức và giữa các thành viên
khác nhau trong gia đình, và dạng bạo lực gia đình điển hình, phổ biến và nhận được
nhiều sự quan tâm và lo lắng của mọi thành viên trong xã hội đó chính là bạo lực giữa
vợ và chồng.
Trong Luật phòng chống bạo lực gia đình không có định nghĩa cụ thể về bạo
lực gia đình giữa vợ và chồng, nhưng dựa vào định nghĩa bạo lực gia đình nói chung có
thể thấy rằng bạo lực gia đình giữa vợ và chồng là hành vi cố ý của một hoặc hai bên
vợ chồng gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về vật chất, tinh thần, kinh tế cho
bên đối phương là vợ hoặc chồng của mình, hoặc đã từng là vợ, chồng của nhau. Ở
đây, phạm vi chủ thể của hành vi bạo lực là giữa vợ và chồng, về bản chất hành vi bạo
lực được hiểu như thuật ngữ bạo lực giữa các thành viên trong gia đình - đó là hành vi
trái pháp luật, gây tổn hại về vật chất, tinh thần, kinh tế cho người còn lại.
Trên thực tế, quan niệm về bạo lực gia đình của đa số người dân Việt Nam là
hành vi dùng sức mạnh vật chất với đối phương và để lại những hậu quả nghiêm trọng
về vật chất và tinh thần. Do đó, nhiều hành vi bạo lực gia đình chưa được nhận thức và
xử lý kịp thời như: hành vi đánh vợ không để lại thương tích, ép vợ quan hệ tình dục,
bắt vợ ở nhà không cho vợ đi làm,…thường không được coi là bạo lực và những nạn
nhân đó vẫn thường xuyên nhẫn nhịn, cam chịu cách đối xử này. Đã đến lúc phải thay
đổi quan niệm của mỗi người về bạo lực gia đình để có thể bảo vệ, giúp đỡ hiệu quả
những nạn nhân của vấn nạn này.
Qua những phân tích trên đây, có thể thấy rằng dưới góc độ pháp lý bạo lực gia
đình giữa vợ và chồng là một chế định pháp luật gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật
do Nhà nước ban hành nhằm ngăn ngừa, xử lý và đi đến xoá bỏ hành vi bạo lực giữa
vợ và chồng để hướng tới xây dựng một môi trường ổn định, hạnh phúc.
nhận họ đã từng bị vợ đánh [10]. Qua những số liệu trên đây, một lần nữa cho thấy
trong hình thức bạo lực về thể chất, người vợ là nạn nhân chủ yếu. Điều này xuất phát
từ thực tế: nam giới có sức mạnh thể chất chiếm ưu thế hơn phái nữ. Phụ nữ với thể lực
9
hạn chế cùng tâm lý nhẫn nhịn nên thường gánh chịu hậu quả của bạo lực do chính
chồng mình gây ra. Có trường hợp, người vợ phản ứng lại một cách yếu ớt như bỏ trốn,
im lặng… cá biệt có người phụ nữ phản ứng bằng cách đánh trả - đây thông thường là
những hành động tự vệ mà chúng có thể để lại hậu quả nghiêm trọng cho người chồng
mặc dù trên thực tế chúng chiếm một tỷ lệ không lớn (trong các vụ bạo lực do người vợ
thực hiện).
1.2.2 Bạo lực về tinh thần
Bạo lực về tinh thần: bao gồm các hành vi lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc
phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý
gây hậu quả nghiêm trọng; ngăn cản vợ/chồng thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ
gia đình, hành vi trái pháp luật buộc người kia phải ra khỏi chỗ ở…
Với bạo lực về thể xác, nỗi đau hiện rõ nên cơ thể nạn nhân còn vết thương về
tinh thần nông hay sâu thì không ai có thể đo được. Bạo lực tinh thần từng ngày thấm
dần ý chí nạn nhân, dễ dẫn đến tình trạng căng thẳng thần kinh, tâm thần thể nhẹ, thậm
chí hậu quả đau lòng nhất là có nhiều người quá bế tắc mà tìm đến cái chết. Nếu như
những vết thương tích trên cơ thể người phụ nữ do chồng đánh đập theo thời gian sẽ
mờ dần thì bạo lực tinh thần lại là vết thương khó lành, thậm chí càng theo thời gian nó
lại càng hằn sâu trong tâm can người phụ nữ.
Trong nhiều trường hợp khi bị chồng có hành vi bạo lực về thể chất, người vợ
chọn cách đáp trả bằng bạo lực về tinh thần (dùng lời lẽ thách thức, lăng mạ, đay
nghiến chồng…) và kết quả là người chồng không chịu đựng được nên đã sử dụng sức
mạnh thể chất… Cứ như thế, một vòng luẩn quẩn các hành vi bạo lực giữa vợ và chồng
xảy ra mà hậu quả thuộc về những người trong cuộc.
người, kiểm soát thu nhập… Trong quan hệ giữa vợ và chồng, các hành vi đó không dễ
dàng được nhận biết là biểu hiện của bạo lực về kinh tế - lao động vì trong nhiều
trường hợp, nó trùng với những hoạt động tổ chức đời sống sinh hoạt gia đình. Tuy
nhiên, khi những đòi hỏi về tài chính, lao động vượt quá khả năng của một bên vợ hoặc
chồng thì nó đã gây ra một áp lực và tạo những căng thẳng nhất định trong quan hệ gia
11
đình. Đó chính là biểu hiện của hậu quả từ hình thức bạo lực về kinh tế - lao động,
đồng thời là cơ sở tạo ra những hình thức bạo lực khác.
Ở hình thức bạo lực về kinh tế, người vợ thường có hành vi kiểm soát thu nhập
của người chồng, cưỡng ép chồng đóng góp với một mức tiền nhất định, trong khi đó,
người chồng lại có hành vi ép buộc vợ lao động quá sức bằng cách mặc định công việc
nhà, chăm sóc con cái… thuộc về người phụ nữ. Cụ thể,trên thực tế, có rất nhiều
trường hợp vợ hoặc chồng mỗi khi muốn chi tiêu cái gì đó thì đều phải được sự đồng ý
của người kia, thậm chí còn bắt người vợ hoặc người chồng phải ghi chi tiết những
khoản chi tiêu hàng tháng để mình kiểm tra. Và cũng không khó để bắt gặp cảnh người
vợ tần tảo, chịu thương chịu khó làm ăn kiếm tiền, trong khi người chồng chỉ ở nhà
rượu chè, rồi cờ bạc, bắt vợ làm việc quá sức để kiếm tiền đáp ứng nhu cầu của mình,
nếu không được thì quay ra nhiếc móc, đập phá tài sản, thậm chí còn đánh vợ; nhưng
cũng có trường hợp người chồng vất vả đi làm còn vợ chỉ ở nhà tiêu sài những đồng
tiền chồng làm ra một cách hoang phí, vì riêng lợi ích bản thân mình. Cuộc khảo sát
của Hội liên hiệp phụ nữ Viêt Nam năm 2001 đã có 44,6% phụ nữ bị chồng cấm vận về
kinh tế vì cho rằng vợ ăn tiêu hoang phí.
Như vậy, có thể thấy vấn đề bạo lực kinh tế trong gia đình cũng đang diễn ra
khá phổ biến và được biểu hiện dưới nhiều cung bậc khác nhau thông qua các quan
niệm. trong thực tiễn, bạo lực kinh tế thường không diễn ra một cách độc lập mà còn
công thêm các dạng bạo lực khác.
1.2.4 Bạo lực tình dục
nhiều phụ nữ.
Tuy nhiên, trong nhóm bạo lực này người vợ là nạn nhân chủ yếu nhưng không
phải duy nhất. Có những gia đình, người vợ độc đoán, không cảm thông, quan tâm đến
chồng, có khi nhận thấy chồng không muốn quan hệ tình dục mà vẫn cố bắt ép…
Có thể thấy rằng, 4 nhóm hay bốn dạng bạo lực kể trên không đứng hoàn toàn
độc lập mà đều có mối liên hệ với nhau, trong nhiều trường hợp còn chuyển hóa cho
nhau. Ví dụ: trong dạng bạo lực tình dục, thường đi kèm với bạo lực thể xác (dùng sức
mạnh cưỡng ép quan hệ tình dục khi chồng hoặc vợ mình không muốn…), còn có thể
đi kèm bạo lực tinh thần (đó là sự sợ hãi, ám ảnh…).
13
1.3 Cơ sở xã hội của bạo lực giữa vợ và chồng
1.3.1 Phong tục, tập quán lạc hậu
Nước ta là nước Á Đông, hơn nữa lại là nước có chế độ phong kiến tồn tại lâu
đời với tư tưởng gia trưởng còn nặng nề, chi phối cách xử sự của người dân. Hệ tư
tưởng nam trị và các quan hệ thống trị- phụ thuộc đã ăn sâu vào tư tưởng của người
dân, nó bắt nguồn từ cội rễ sâu xa trong mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ.
Tính gia trưởng được chấp nhận trong gia đình và ngoài xã hội đã tạo ra vị trí đặc biệt
cho những người đàn ông trong gia đình: họ có quyền quyết định những vấn đề quan
trọng trong gia đình, thậm chí có quyền “dạy vợ”…
Đi cùng với đó là tư tưởng “nhà nào biết nhà đấy”, “vợ chồng đóng cửa bảo
nhau” nên những việc trong gia đình thì những người khác thường không muốn can
thiệp vào. Đây là một yếu tố gây ra sự khó khăn rất lớn đối với công tác phòng chống
bạo lực gia đình nói chung và bạo lực giữa vợ và chồng nói riêng.
Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận những truyền thống tốt đẹp của ông cha để
lại: vợ chồng đồng cam cộng khổ, yêu thương nhau, “phu thê
cung kính như
Mặt khác, khi điều kiện kinh tế khá giá, cuộc sống được cải thiện thì không ít
người đã thay đổi thái độ đối với các thành viên khác trong gia đình. Nhiều cặp vợ
chồng lúc khó khăn thì yêu thương, hòa thuận với nhau, nhưng khi đã có của ăn, của để
thì lại bất hòa. Có những ông chồng làm ra của cải vật chất là chính trong gia đình, họ
có thái độ coi thường vợ, nghĩ vợ là người ăn bám, cho mình là người chủ quyết định
mọi vấn đề lớn nhỏ trong gia đình. Ngược lại, nếu người vợ là trụ cột nuôi sống gia
đình, thì người chồng lại sợ mình bị coi thường, sợ cái uy của mình bị giảm sút, vai trò
của mình bị lu mờ nên đã sử dụng hành vi bạo lực đối với vợ minh nhằm ra oai, hy
vọng cứu vãn được “uy quyền” của mình.
1.3.4 Trình độ dân trí và ý thức pháp luật
Trình độ dân trí đóng vai trò quan trọng trong công tác phòng, chống bạo lực gia
đình. Bởi lẽ, những yếu tố là nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình như phong tục tập
quán, tâm lý, định kiến giới…đã làm cho người có hành vi bạo lực , nạn nhân và những
người xung quanh, thậm chí là cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho rằng hành vi đó là
đúng, và không phải chịu bất kì trách nhiệm nào. Điều này chỉ xảy ra khi trình độ dân
15
trí còn thấp, bởi nếu như trình độ dân trí được nâng cao, vị trí của gia đình và mỗi
thành viên được khẳng định, nạn nhân sẽ hiểu rõ quyền của mình và có thể áp dụng
những biện pháp tự bảo vệ khi cần thiết; người có hành vi bạo lực biết tính chất sai trái
của hanh vi và hậu quả có thể phải gánh chịu; những người xung quanh, cơ quan nhà
nước có thẩm quyền khi biết được quyền và nghĩa vụ của mình sẽ tham gia phòng
chống bạo lực gia đình chủ động hơn, tích cực hơn.
1.3.5 Yếu tố văn hóa tâm sinh lý cá nhân
Tâm lý của mỗi cặp vợ chồng hiện nay nói chung là vẫn đề cao vai trò tự chủ cả
đàn ông trong gia đình. Điều này đã ăn sâu vào suy nghĩ của nhiều thế hệ người Việt
Nam. Nếu như, người vợ đánh chồng, có hành vi bạo lực đối với chồng thì bị coi là
hành vi xấu, bị cả xã hội nên án, nhưng chồng đánh vợ thì dường như nó là lẽ thường
Bạo lực gia đình nói chung, bạo lực gia đình giữa vợ, chồng nói riêng để lại
nhiều hậu quả nghiêm trọng không chỉ cho cá nhân, gia đình của họ mà còn ảnh hưởng
tiêu cực cho xã hội và cản trở sự phát triển của xã hội. Hậu quả của nó có thể tiếp cận
dưới góc độ xã hội và góc độ pháp luật.
1.4.1 Hậu quả về mặt xã hội
- Đối với cá nhân: vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với
phụ nữ đã để lại nhiều hậu quả xấu cho nạn nhân, họ bị xâm phạm nghiêm trọng các
quyền con người, không chỉ phải chịu nỗi đau đớn về thể xác (ảnh hưởng đến sức khoẻ,
gây đau đớn, thương tích, thậm chí còn dẫn đến tử vong) mà còn chịu nỗi đau đớn về
tinh thần (nạn nhân phải sống trong sự đau khổ, lo sợ, bất an, dễ mắc bệnh trầm
cảm…). Tuy nhiên, còn phải kể đến hậu quả mà chính những người gây ra bạo lực
gánh chịu- đó là sự dằn vặt, ân hận sau những hành vi do sự nóng nảy, tức thời; đồng
thời cũng phải gánh chịu sự mất mát tài sản vì ài sản trong thời kỳ hôn nhân là tài sản
chung hợp nhất của vợ chồng.
-Đối với gia đình: vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình giữa vợ và
chồng sẽ ảnh hưởng xấu tới cuộc sống gia đình (khiến nhiều gia đình tan nát, ly thân,
ly hôn…), và những thành viên khác- mà trong đó không thể không nhắc tới là những
đứa con. Chúng phải chịu sự tác động xấu tới sự phát triển cả về thể chất, tinh thần,
đạo đức và trí tuệ. Những nghiên cứu gần đây nhất đã chỉ ra rằng, bạo lực gia đình
17
khiến trẻ em khủng hoảng, sợ hãi, thất vọng, rỗi nhiễu tâm lý, trầm cảm và là một trong
những nguyên nhân làm gia tăng bạo lực học đường, tăng trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ
em lang thang, cơ nhỡ.
- Đối với xã hội: Vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ
nữ làm mất ổn định trật tự xã hội, gây bức xúc trong nhân dân đồng thời tác động xấu
đến nhiều mặt của xã hội. Trước hết là gây gánh nặng cho hệ thống y tế của xã hội bởi
vì nhiều nạn nhân của bạo lực gia đình đã phải đến điều trị tại các cơ sở y tế, điều này
hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước nhưng không phải là tội phạm hình
sự và theo quy định của pháp luật, phải bị xử phạt hành chính.
- Vi phạm pháp luật dân sự là những hành vi trái pháp luật, có lỗi, xâm hại tới
những quan hệ tài sản và những quan hệ nhân thân có liên quan tới tài sản và nhân thân
trong lĩnh vực hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng.
Như vậy, trong trường hợp vợ-chồng có hành vi BLGĐ đáp ứng đầy đủ điều
kiện cấu thành tội phạm thì sẽ chịu sự áp dụng của chế tài hình sự, nếu hành vi đó xâm
phạm quy tắc quản lý nhà nước nhưng không phải tội phạm thì bị xử phạt hành chính,
và nếu hành vi BLGĐ giữa vợ và chồng xâm hại tới quan hệ tài sản và quan hệ nhân
thân thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật dân sự.
1.5 Vai trò của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội. Trong mỗi gia đình, các thành viên sống bình đẳng,
yêu thương, đùm bọc lẫn nhau và không có bạo hành là nền tảng tiến tới một xã hội
phát triển bền vững.
Xuất phát từ ý nghĩa gia đình là tổ ấm và thực tiễn đã cho thấy những thành quả
phát triển đất nước có được phần lớn từ sự đóng góp của mỗi gia đình; trong những
năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đặc biệt tới việc xây dựng và bảo vệ gia
đình. Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21 tháng 2 năm 2005 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đề ra mục tiêu
“mỗi gia đình Việt nam thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã
hội”. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình,
19
trong đó có vấn đề bạo lực gia đình như Hiến pháp năm 1992, Luật Hôn nhân và gia
đình, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân
sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính,
Pháp lệnh Người cao tuổi... Các quy định pháp luật tuy đã đề cập đến các biện pháp
bảo vệ gia đình và phòng ngừa bạo lực gia đình, song xét một cách tổng quát, những
thời các hành vi bạo lực gia đình...Luật chú trọng giải quyết những vấn đề bạo lực
ngay từ khởi nguồn, không để tình trạng “chạy theo” khắc phục hậu quả
* Mục tiêu chính của Luật là bảo vệ gia đình bền vững và hạnh phúc. Bà Trương
Thị Mai, Chủ nhiệm ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội nói: “Phải thừa nhận rằng
vấn đề bạo lực gia đình hiện đang nghiêm trọng (...) Lâu nay chúng ta chỉ mới điều
chỉnh hành vi bạo lực gia đình bằng đạo đức, dư luận xã hội. Song có những điều đạo
đức và dư luận không thể điều chỉnh được mà cần phải có sự can thiệp của luật pháp”.
Đặt mục tiêu hàn gắn gia đình là ưu tiên hàng đầu, Luật đã gửi đi một thông điệp
rõ ràng: “Bạo lực gia đình là hành vi vi phạm pháp luật và không phải là việc riêng
của từng gia đình” . Vấn đề là làm sao để bằng tác động của luật pháp, các nạn nhân
được bảo vệ, hành vi bạo lực gia đình được ngăn chặn kịp thời nhưng vẫn phải phù hợp
với tập quán, truyền thống văn hoá Việt Nam.
Luật Phòng chống bạo lực gia đình không chỉ bảo vệ người phụ nữ mà cả người
đàn ông nếu họ bị bạo hành. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trên 90% số nạn nhân của bạo
lực gia đình là phụ nữ, tiếp đến là trẻ em.
Sẽ có nhiều khó khăn trong quá trình đưa Luật Phòng chống Bạo lực gia đình vào
cuộc sống. Tuy nhiên, đây là một dấu ấn pháp lý trên con đường hoàn thiện pháp luật
về bình đẳng giới, về hôn nhân và gia đình của nước ta. Để thực hiện tốt Luật này, mỗi
cá nhân, gia đình và đặc biệt là các cơ quan đoàn thể thuộc hệ thống chính trị cần phải
phát huy vai trò của mình, có nhận thức đầy đủ và tích cực tham gia phòng chống bạo
lực gia đình.
1.6 Nội dung pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình giữa vợ và chồng