Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HƯỜNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT
VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM
THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60380104

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Văn Huyên

HÀ NỘI - 2014


1

LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian nỗ lực, phấn đấu học tập và nghiên cứu, cùng với sự giúp
đỡ tận tình của các thầy, cô giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt
là của thầy Nguyễn Văn Huyên - thầy hướng dẫn trực tiếp cho em, luận văn
thạc sỹ luật học của em đã hoàn thành. Xin gửi lời cảm ơn chân thành, lời
kính chúc sức khỏe, hạnh phúc đến toàn thể các thầy, cô đã truyền dạy cho em
những kiến thức quý báu, làm hành trang cho em vững bước vào đời. Em xin

pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm ................................................................. 13
1.4. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm ......................................................... 21
1.5. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm
..................................................................................................................... 24
1.5.1. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố
tại phiên tòa sơ thẩm .................................................................................... 25
1.5.2. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc tuân theo
pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm ..................................................................... 34
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO
PHÁP LUẬT TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM ............................................. 43
2.1. Thực tiễn thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm......... 43
2.1.1. Những kết quả đạt được .............................................................. 43
2.1.2. Những tồn tại, hạn chế ................................................................ 47


4

2.2. Thực tiễn kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ
thẩm ............................................................................................................ 53
2.2.1. Những kết quả đạt được .............................................................. 53
2.2.2. Những tồn tại, hạn chế ................................................................ 55
2.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm ........ 56
2.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền công tố và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm .......................... 58
KẾT LUẬN ................................................................................................. 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 68



6

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên
tòa sơ thẩm đã thực sự trở thành một vấn đề được quan tâm trong công cuộc
cải cách tư pháp hiện nay. Đã có nhiều công trình, nhiều bài viết trên các tạp
chí về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
như: “Phân biệt thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
trong tố tụng hình sự”, Tạp chí kiểm sát, số 09 (tháng 5/2009) của tác giả
Nguyễn Tiến Sơn; “Bàn về việc tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa
hình sự sơ thẩm”, Tạp chí kiểm sát, số 13 (tháng 7/2007) của tác giả Dương
Thanh Biểu; “Một số vấn đề về quyền công tố”, kỷ yếu đề tài khoa học cấp
bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở
Việt Nam từ năm 1945 đến nay; Đề tài độc lập cấp Nhà nước: “Những vấn đề
lý luận và thực tiễn của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu
cải cách tư pháp” của Tiến sỹ Lê Hữu Thể… và một số luận văn thạc sĩ luật
học tại các trường đại học, học viện khác.
Các công trình nghiên cứu về vấn đề này tuy đã làm rõ vị trí, vai trò của
cơ quan tiến hành tố tụng, của Kiểm sát viên (KSV) tại phiên tòa sơ thẩm;
những bất cập, hạn chế trong tổ chức và hoạt động; đưa ra những phương
hướng, giải pháp đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm. Tuy nhiên,
còn có nhiều quan điểm khác nhau, các công trình nghiên cứu thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn điều tra, hoặc
nghiên cứu chức năng của Viện kiểm sát (VKS) trong cả giai đoạn xét xử sơ
thẩm (XXST) vụ án hình sự; mặt khác hoạt động thực hành quyền công tố và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm của VKS trên thực tế
còn nhiều vướng mắc, đặc biệt trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay cần có

tại phiên tòa sơ thẩm.


8

5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận Mác – Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây
dựng cải cách tư pháp trong thời kỳ đổi mới, kết hợp với thành tựu khoa học
Luật Tố tụng hình sự một số nước. Luận văn kết hợp giữa phương pháp lịch
sử với phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê…để giải quyết vấn
đề.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm, phân tích và phân định hai
chức năng này của VKS. Làm rõ thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm, đặc biệt là thực tiễn thực
hành chúng theo tinh thần cải cách tư pháp hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất
những giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng thực hành quyền công tố và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 2 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm.


9



“Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý
thuộc nội dung quyền công tố để buộc tội và yêu cầu trừng phạt đối với người
phạm tội trong tố tụng hình sự qua các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và
xét xử” [20, tr.12].
Quan điểm thứ hai
“Công tố là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội. Ở Việt Nam công tố được Nhà nước giao cho Viện kiểm sát
nhân dân thực hiện. Để làm tốt việc này Viện kiểm sát có trách nhiệm bảo
đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người
phạm tội. Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước Tòa án và thực hiện sự buộc
tội đó tại phiên tòa. Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các
quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.
Vì vậy, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết
thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc vụ án bị đình chỉ theo quy định
của pháp luật hình sự” [27, tr.188].
Hai quan điểm trên đã nêu một cách khái quát về quyền công tố, coi
quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với nhà nước, với việc nhân
danh công quyền chống lại hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất đó là
tội phạm, nó xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật. Tùy
từng thời kỳ lịch sử phát triển của Nhà nước, có thể giao cho một cơ quan
nhất định thực hiện quyền này chuyên trách hoặc không chuyên trách. Việc
thực hiện các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố cho phép
buộc tội người phạm tội chính là thực hành quyền công tố. Quyền công tố là
quyền của Nhà nước, gắn liền với bản chất Nhà nước và chỉ có trong lĩnh vực
tố tụng hình sự, phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra,
kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị và đối




12

Có thể hiểu: Thực hành quyền công tố của VKS là một phương diện hoạt
động đặc thù của VKS, được áp dụng trong các vụ án hình sự nhằm đưa kẻ phạm
tội ra xét xử và buộc tội tại phiên tòa. Thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ
thẩm: Là việc KSV buộc tội thông qua việc công bố bản cáo trạng, tham gia xét
hỏi, luận tội và tranh luận, bảo vệ quyết định truy tố của mình.
Thực hành quyền công tố của VKS nhân dân có quan hệ chặt chẽ với kiểm
sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm, gắn liền với việc thực hiện
quyền năng cụ thể như quyền buộc tội và luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa.
1.2. Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm
Mục đích của kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm
không phải là cản trở hoạt động xét xử mà là điều kiện để TA xét xử đúng
người, đúng tội; bảo đảm cho các hoạt động tại phiên tòa thực hiện đúng quy
định của pháp luật, tôn trọng các quyền của bị cáo và NTGTT. Xuất phát từ ý
nghĩa như vậy, pháp luật tố tụng quy định sự có mặt của KSV tại phiên tòa là
điều kiện bắt buộc để TA tiến hành xét xử. Nếu KSV vắng mặt thì TA phải
hoãn phiên tòa (Điều 189 BLTTHS).
Tại phiên tòa sơ thẩm, HĐXX trực tiếp kiểm tra các tài liệu, chứng cứ đã
thu thập trong quá trình điều tra thông qua việc xét hỏi bị cáo và thẩm vấn
những NTGTT khác để xác định sự thật khách quan của vụ án, tính chất, mức
độ và nguyên nhân của tội phạm…Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động xét xử của TA tại phiên tòa sơ thẩm chính là kiểm sát thủ tục tố
tụng tại phiên tòa, tham gia xét hỏi, luận tội và tranh luận. Để đảm bảo cho
các hoạt động này đúng pháp luật, KSV kiểm sát cả việc tuân theo pháp luật
của những NTGTT khác.
Ví dụ về kiểm sát hoạt động của TA: ngay từ khi bắt đầu phiên tòa, chủ
tọa phải đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, thư ký báo cáo danh sách có mặt



14

đặc thù riêng như kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và
việc lập hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra, kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm
giam…Riêng trong quá trình xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, VKS là cơ quan
tiến hành tố tụng có nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân
theo pháp luật. Hoạt động này có những đặc điểm riêng như sau:
Thứ nhất, đây là hoạt động chỉ do VKS tiến hành tại phiên tòa sơ thẩm
và được đảm bảo thi hành thông qua các quyền hạn do pháp luật tố tụng hình
sự quy định.
Là cơ quan duy nhất thực hành quyền công tố, tại phiên tòa sơ thẩm,
Viện kiểm sát có nhiệm vụ và quyền hạn là đọc cáo trạng và trình bày ý kiến
bổ sung, nếu có. Đây là việc bắt buộc và được BLTTHS quy định chặt chẽ.
Khi đọc bản cáo trạng KSV phải chú ý về phong cách ứng xử, về cách ăn mặc
theo đúng quyết định số 01/VKS-TCCB ngày 28/04/2003 của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc ban hành Quy định việc quản lý, sử
dụng trang phục đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành Kiểm sát và
Giấy chứng minh Kiểm sát viên. Đặc biệt lưu ý khi trình bày ý kiến bổ sung
nhằm làm rõ hơn nội dung bản cáo trạng mà VKS đã truy tố và giải quyết
những gì mới phát sinh trong giai đoạn chuẩn bị xét xử của TA thì KSV có
thể trình bày thêm nhưng không nên lạm dụng vấn đề trình bày bổ sung để
đưa ra những vấn đề không có lợi cho bị cáo so với bản cáo trạng đã truy tố.
Viện kiểm sát tham gia xét hỏi tại phiên tòa. Xét hỏi là một thủ tục quan
trọng trong quá trình xét xử, chất lượng xét xử vụ án phụ thuộc rất nhiều vào
phương pháp, nội dung và năng lực của HĐXX nói chung, của KSV nói
riêng.
Nguyên tắc xét xử của KSV là phải hỏi sau HĐXX, xét hỏi trên cơ sở
diễn biến của phiên tòa, kết hợp xét hỏi với đối chiếu các chứng cứ khác để




16

những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày không hạn chế số lần
trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên; Kiểm sát viên phải đối đáp với
từng ý kiến; Chủ tọa phiên tòa cần tạo điều kiện cho những người tham gia
phiên tòa tranh luận; Trong trường hợp Kiểm sát viên không tranh luận thì
chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên đáp lại những ý kiến của
những người tham gia tố tụng khác”
Ngay từ giai đoạn xét hỏi, KSV đã phải chú ý theo dõi, ghi chép những
nội dung của người bào chữa hỏi bị cáo để từ đó phân tích, nhận định, dự báo
khả năng người bào chữa sẽ đưa ra tranh luận những vấn đề gì để đối đáp với
các ý kiến đó.
Về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của TA,
Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định về nhiệm vụ và quyền
hạn của VKS trong khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử các vụ án hình sự.
VKS có nhiệm vụ và quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động xét xử của TA như kiểm sát thời hạn đưa vụ án ra xét xử, thời hạn mở
phiên tòa (Điều 176 BLTTHS), kiểm sát nội dung quyết định đưa vụ án ra xét
xử (Điều 178 BLTTHS), kiểm sát việc chấp hành thủ tục tố tụng của HĐXX,
của những người được triệu tập đến phiên tòa…Nếu phát hiện thấy TA hoặc
HĐXX có vi phạm pháp luật, KSV sẽ có ý kiến kịp thời, kiến nghị TA,
HĐXX khắc phục những thiếu sót, vi phạm.
Thứ hai, chủ thể thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm là KSV.
Điều 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định: “Viện kiểm sát
nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương có quyền: khởi tố
về hình sự và giữ quyền công tố trước Tòa án nhân dân cùng cấp”. Nếu theo
quy định tại Điều 187, 190, 191, 192, 193 BLTTHS, bị cáo, người bào chữa,



18

cáo không trả lời thì KSV tiếp tục hỏi những người khác (Điều 209), KSV có
quyền trình bày những nhận xét của mình về nơi đã xảy ra tội phạm (Điều
213), luận tội của KSV phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được
kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo và những người tham gia tố tụng
khác tại phiên tòa (Điều 217), bị cáo và những người tham gia tham gia tố
tụng tại phiên tòa có quyền trình bày ý kiến về luận tội của KSV và đưa ra đề
nghị của mình; KSV phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến,
Chủ tọa phiên tòa (CTPT) có quyền đề nghị KSV phải đáp lại những ý kiến
có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng
khác (Điều 218).
Địa vị pháp lý của KSV tại phiên tòa: được xem xét trong mối quan hệ
với HĐXX, bị cáo và người bào chữa. Sự có mặt của KSV tại phiên tòa làm
phát sinh mối quan hệ giữa cơ quan buộc tội với cơ quan xét xử. Trong mối
quan hệ đó, sự tham gia của KSV là chủ thể bắt buộc, nếu không có KSV thì
phiên tòa không có ý nghĩa. Tại phiên tòa, KSV là người đưa ra chứng cứ để
chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nhằm bảo vệ cáo trạng và đề xuất
hình thức xử lý đối với bị cáo. HĐXX là người thẩm tra các tình tiết của vụ án
theo cáo trạng mà VKS đã truy tố để quyết định có xử phạt bị cáo theo đề
nghị của KSV hay không.
Số lượng KSV tham gia phiên tòa: Luật tố tụng hình sự các nước quy
định số lượng KSV giữ quyền công tố tại phiên tòa không thống nhất. Đa số
các nước quy định khi phiên tòa hình sự được tiến hành thì bắt buộc phải có
Công tố viên tham gia để thay mặt Nhà nước buộc tội bị cáo. Tuy nhiên cũng
có quốc gia quy định Công tố viên tham gia phiên tòa trong các trường hợp vụ
án có tính chất nghiêm trọng. Đối với các vụ án hình sự nhỏ, Công tố viên có
thể không tham gia phiên tòa. Trong trường hợp này nạn nhân có thể được

gia phiên tòa. Trong trường hợp cần thiết có thể có Kiểm sát viên dự khuyết”.


20

Những quy định nêu trên của pháp luật cho thấy nhiệm vụ của KSV tại
phiên tòa hình sự rất nặng nề. Vụ án có được xét xử chính xác, dân chủ, khách
quan hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và trách nhiệm của KSV.
KSV nào nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, chuẩn bị tốt các chứng cứ, tài liệu phục
vụ cho việc tranh luận, đối đáp, có năng lực xử lý các tình huống tại phiên
tòa, với tinh thần công tâm, thận trọng và kiên quyết thì sẽ hoàn thành tốt
nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong thực hành quyền công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa.
Thứ ba, KSV thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của HĐXX và của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm
được thực hiện trực tiếp bằng lời nói.
KSV phải công bố các quyết định trực tiếp bằng lời nói, mặc dù quyết
định truy tố bằng bản cáo trạng đã ban hành bằng văn bản trước đó. KSV
tham gia xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, lời nói lúc này của
KSV được xem là có hiệu lực thi hành ngay như: Quyết định về việc luận tội,
truy tố bị cáo ở điểm, khoản nào, điều nào của BLHS và đề nghị mức hình
phạt ra sao, cũng như quyết định rút một phần hoặc toàn bộ cáo trạng đã truy
tố của VKS trước đó. Mặc dù các quyết định truy tố của VKS bằng bản cáo
trạng đã có hiệu lực pháp luật nhưng tại phiên tòa KSV phải công bố lại các
quyết định này và việc công bố lại bằng lời nói của KSV có giá trị pháp lý
trực tiếp để trên cơ sở đó HĐXX xem xét việc thực hiện giới hạn xét xử cũng
như thực hiện quyền bào chữa của bị cáo [18, tr. 19]. KSV bằng việc trực tiếp
theo dõi các hoạt động của HĐXX, của những người tham gia tố tụng xem đã
được thực hiện đúng quy định của pháp luật chưa.
Một điều cần lưu ý khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân

đó theo quy định của BLTTHS thì VKS phải thực hiện việc buộc tội bị cáo


22

thông qua một loạt các hoạt động trong quá trình xét hỏi, luận tội và tranh
luận nhằm đảm bảo cho hoạt động xét xử của TA khách quan, dân chủ, công
bằng. Điều đó có nghĩa là VKS đã thực hiện việc truy tố và buộc tội đối
những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội trên cơ sở các quy định của bộ
luật hình sự và bộ luật tố tụng hình sự, tức là VKS đã thực hành quyền công
tố.
Quan điểm thứ hai
Trong xét xử vụ án hình sự tại phiên tòa sơ thẩm, VKS chỉ thực hành
quyền công tố, trong đó bao gồm cả kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Quan
điểm này cũng chưa đầy đủ, bởi tại phiên tòa sơ thẩm VKS không chỉ tiến
hành chứng minh tội phạm, truy tố và đề nghị TA áp dụng điều khoản tương
ứng của Bộ luật hình sự đối với người có hành vi phạm tội mà còn kiểm sát
diễn biến phiên tòa, kiểm sát hoạt động của HĐXX cũng như những NTGTT
đảm bảo pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất.
Như vậy, rõ ràng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của
TA của VKS đã được thể hiện rất rõ.
Quan điểm thứ ba
Tại phiên tòa sơ thẩm, VKS thực hiện cả kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong hoạt động xét xử của TA và thực hành quyền công tố. Tôi đồng tình
với quan điểm thứ ba, hai hoạt động này của VKS được quy định rõ tại Điều
137 Hiến pháp 1992 và Điều 107 Hiến pháp 2013, các Điều 23, 91, 141…của
BLTTHS. Theo quy định của Điều 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát và các Điều
206, 207, 217 BLTTHS thì tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự,
KSV có nhiệm vụ: Đọc cáo trạng, quyết định của VKS liên quan đến việc giải
quyết vụ án. Đây là sự cáo buộc công khai của VKS về hành vi phạm tội của

hiện những vi phạm về thủ tục phiên tòa để yêu cầu khắc phục ngay, dẫn đến
bản án bị hủy thì việc thực hành quyền công tố đó cũng không đạt được hiệu


24

quả. Thực hành quyền công tố là cơ sở phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân
theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm, nhưng chính hoạt động kiểm sát là yếu tố
bảo đảm để thực hành quyền công tố đạt được hiệu quả. Hai hoạt động này
cần được phối hợp nhịp nhàng tại phiên tòa sơ thẩm sẽ đảm bảo được việc xét
xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không kết án
oan người vô tội.
1.5. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm
Hiện tại ở nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước phát triển như
Anh, Mỹ đều có Viện công tố, song việc tổ chức hoạt động công tố không chỉ
thuộc một mình Viện công tố. Có nước cảnh sát cũng có quyền đưa vụ án ra
Tòa (Vương quốc Anh); ở Mỹ, hoạt động công tố còn là sự tham gia của Bồi
thẩm đoàn (Bồi thẩm đoàn có quyền quyết định bị cáo có tội hay không tại
phiên tòa, còn tội danh gì là do Thẩm phán quyết định). Ở cộng hòa Pháp, Dự
thẩm của TA có quyền điều tra và giám sát hoạt động điều tra trong một số
trường hợp nhất định, đó cũng là hoạt động công tố.
Ở Nhật, Sau khi cân nhắc địa điểm, lứa tuổi và tình trạng của người
phạm tội, mức độ nặng nhẹ của tội phạm, tình huống tội phạm được thực hiện
và các điều kiện sau khi thực hiện tội phạm, công tố viên quyết định việc truy
tố hoặc không quyết định truy tố. Việc truy tố phải được quyết định bằng bản
cáo trạng và gửi đến TA. Ở giai đoạn trước khi xét xử, Công tố viên chỉ gửi
cáo trạng đến TA mà không cần gửi hồ sơ. Nhưng khi bắt đầu vào phiên tòa
thì Công tố viên phải chuyển hồ sơ cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Điều
này được bắt nguồn từ nguyên tắc tranh tụng trước Tòa, đối lập với nguyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status