BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------
TRẦN THỊ NGỌC
PHỤC HỒI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN THEO
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM
Chuyên ngành
: Pháp luật kinh tế
Mã số chuyên ngành : 60380107
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Đức Minh
HÀ NỘI – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận văn được trích dẫn theo nguồn đã công bố. Những nội dung
nghiên cứu và kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Trần Thị Ngọc
1.1.1. Khái niệm phục hồi doanh nghiệp
7
1.1.2. Khái niệm phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
8
1.2.
Đặc điểm pháp lý của thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản
10
1.3.
Phân biệt phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản với tái cấu trúc doanh nghiệp và tổ chức lại
doanh nghiệp
16
1.3.1. Phân biệt phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản với tái cấu trúc doanh nghiệp
16
1.3.2. Phân biệt phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản với tổ chức lại doanh nghiệp
Điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng
phá sản
2.2.
Chủ thể thực hiện thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng
phá sản
33
2.2.1. Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
33
2.2.2. Chủ nợ và hội nghị chủ nợ
35
2.2.3. Tòa án
38
2.3.
Giai đoạn nộp đơn và ra quyết định mở thủ tục phục hồi doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
40
2.5.
53
Giai đoạn thực hiện phương án phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản
2.5.1. Thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
53
2.5.2. Sửa đổi, bổ sung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
54
2.5.3. Giám sát thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
55
2.6.
58
Đình chỉ thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
2.6.1. Các trường hợp đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
58
Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực hiện pháp luật
66
Tiểu kết chương 3
75
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
76
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Phá sản là một hiện tượng thường gặp trong nền kinh tế thị trường. Trong
kinh doanh, không thể nào tránh khỏi việc có doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, kém
hiệu quả và bị đào thải khỏi thương trường bằng con đường phá sản. Để cứu vãn
các doanh nghiệp trong trường hợp này, phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng
mất khả năng thanh toán hiện nay là một xu thế trong mục tiêu lập pháp của luật
phá sản hiện đại. Luật Phá sản Việt Nam ban hành ngày 15 tháng 6 năm 2004, có
hiệu lực từ 15 tháng 10 năm 2004 có nhiều nội dung tiến bộ so với Luật Phá sản
doanh nghiệp 1993, trong đó đã đưa ra các quy định về việc áp dụng thủ tục phục
hồi, một biện pháp nhằm phòng ngừa phá sản, cứu vãn doanh nghiệp thoát khỏi tình
trạng khó khăn về tài chính, điều hòa các quan hệ lợi ích giữa chủ nợ, con nợ và góp
-Luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Thị Hường năm 2005 với đề tài :
“Thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo Luật Phá sản năm
2004” , luận văn đã nghiên cứu một cách tương đối toàn diện các quy định pháp luật
về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản trong Luật Phá sản
năm 2004. Tuy nhiên, luận văn mới chỉ dừng lại ở việc phân tích những quy định
của pháp luật mà chưa xem xét, đánh giá được tính hiệu lực và hiệu quả của Luật
Phá sản năm 2004.
-Luận văn thạc sỹ luật học của Trần Thảo Huyền năm 2012 với đề tài “ Pháp
luật về phục hồi doanh nghiệp tại Việt Nam- thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, So
với hai luận văn nêu trên, điểm mới của luận văn này là đã trình bày thực trạng
những quy định về phục hồi doanh nghiệp nhà nước theo pháp luật Việt Nam. Tuy
nhiên, luận văn mới chỉ trình bày một cách khái quát về doanh nghiệp nhà nước và
phục hồi doanh nghiệp nhà nước mà chưa đi sâu vào phân tích, đánh giá những quy
định của pháp luật về phục hồi doanh nghiệp nhà nước.
Bên cạnh đó còn nhiều công trình khoa học nghiên cứu về điều kiện, phạm
vi, trình tự thủ tục giải quyết phá sản trong Luật phá sản nói chung như:
3
-Luận văn thạc sỹ luật học của An Phương Huệ năm 2004 với đề tài “Luật
Phá sản của Việt Nam và Luật Phá sản của Cộng hòa Pháp. Những nét tương đồng
và khác biệt”.
-Luận văn tiến sĩ luật học của Trương Hồng Hải năm 2004 với đề tài “Luật
Phá sản doanh nghiệp Việt Nam dưới góc độ luật so sánh và phương hướng hoàn
thiện”.
- Công trình nghiên cứu “Pháp luật phá sản của Việt Nam” của Dương Đăng
Huệ, Nhà xuất bản tư pháp, năm 2005.
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu đăng trên các tạp chí,
các báo cáo chuyên đề, hội thảo chuyên đề về phá sản và pháp luật về phá sản là:
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về thủ tục
phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản từ đó chỉ ra những bất cập, hạn
chế và đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện các quy định
pháp luật về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, đảm bảo
được quyền lợi của chủ nợ, con nợ và người lao động một cách toàn diện nhất.
Với mục đích đó, đề tài có những nhiệm vụ sau:
-
Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản.
-
Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của Luật Phá sản hiện hành và
các văn bản hướng dẫn thi hành, từ đó chỉ rõ những điểm tiến bộ cũng như những
hạn chế trong quy định về phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản.
-
Đề xuất một số kiến nghị nhằm đảm bảo tính khả thi của Luật Phá sản về
phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về phục
hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và phân tích
thực trạng pháp luật Việt Nam về những vấn đề pháp lý có liên quan đến phục hồi
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
do số vụ phá sản trên thực tế được Tòa án ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi là
rất ít nên các số liệu nêu ra trong nội dung luận văn còn hạn chế.
-
Luận văn đề ra một số yêu cầu, định hướng cơ bản nhằm hoàn thiện các quy
định pháp luật về phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản. Đồng thời đề xuất, kiến nghị một số giải pháp cụ thể góp phần hoàn
thiện các quy định của pháp luật về thủ tục này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương sau:
Chương 1 : Một số vấn đề lý luận về phục hồi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
6
Chương 2: Thực trạng pháp luật về phục hồi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản ở Việt Nam.
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thủ tục phục hồi doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỤC HỒI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN
1.1 Khái niệm phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình
lại quy mô bình thường và ổn định như trước suy giảm. Thứ hai, từ góc độ cả khu
vực doanh nghiệp, nghĩa là tất cả doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề, quy mô và
thành phần, phục hồi thể hiện ở sự xuất hiện các doanh nghiệp mới để đảm bảo tính
nguyên vẹn của số lượng doanh nghiệp như trước hoặc gia tăng số lượng. Việc phục
hồi, do đó, chịu tác động của các yếu tố nội tại doanh nghiệp cũng như tác động của
môi trường kinh doanh [18].
Như vậy, phục hồi doanh nghiệp thông thường là sự chuyển hóa từ tình trạng
làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả trở lại trạng thái hoạt động sản xuất kinh doanh bình
thường, ổn định như trước khi suy giảm. Phục hồi doanh nghiệp thông thường được
đặt ra khi doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, do doanh nghiệp chủ động thực hiện để
thoát khỏi tình trạng khó khăn.
1.1.2 Khái niệm phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Để hiểu khái niệm “phục hồi” trong pháp luật về phá sản chúng ta sẽ xem xét
nó trên phương diện pháp lý gắn với một giai đoạn trong thủ tục phá sản là phục hồi
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
Cho đến thời điểm hiện nay, trong hệ thống văn bản về pháp luật phá sản
Việt Nam chưa xây dựng khái niệm pháp lý về phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản. Song, trong một số công trình khoa học của các tác giả trong và
ngoài nước đã đưa ra một vài cách hiểu khác nhau về khái niệm “phục hồi”.
Theo tác giả Ngô Cường, “phục hồi là đem lại cho con nợ đang trong tình
trạng khó khăn những điều kiện và cơ hội tiếp tục kinh doanh chứ không phải là
thanh toán con nợ đó” [9, tr.3].
Với cách hiểu này, tác giả đồng thời chỉ ra ba dấu hiệu đặc trưng của việc
phục hồi doanh nghiệp mắc nợ, đó là:
-
Đối tượng áp dụng của phục hồi là những con nợ nằm trong tình trạng
khó khăn về tài chính;
-
Đối tượng áp dụng là những doanh nghiệp ngừng thanh toán các
khoản nợ đến hạn;
-
Mục đích của việc phục hồi là cứu vãn, duy trì hoạt động của doanh
nghiệp và hoàn trả các khoản nợ.
Qua hai định nghĩa nói trên, có thể thấy, khi đưa ra khái niệm phục hồi
doanh nghiệp mắc nợ các nhà khoa học đã dựa vào ba yếu tố là: coi phục hồi là một
thủ tục do pháp luật quy định; hết hạn thanh toán nợ; mục đích phục hồi. Tuy nhiên
cũng như khái niệm phục hồi của tác giả Ngô Cường, khái niệm phục hồi nêu trên
chưa chỉ ra được đặc trưng pháp lý của phục hồi là một thủ tục do tòa án tiến hành.
Ngoài ra, cả hai định nghĩa nói trên đều chưa nói đến trường hợp phá sản đối với
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công hoặc hoạt động trong lĩnh vực đặc thù, cũng
như phá sản cá nhân như cho thấy trong quy định của một số nước trên thế giới.
Như vậy, từ những điểm tương đồng trong nghiên cứu của các học giả trên
cũng như quy định của pháp luật phá sản, “phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản” được thể hiện thông qua các dấu hiệu pháp lý đặc trưng là:
10
Thứ nhất, phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là một thủ tục
luật định do tòa án tiến hành;
Thứ hai, đối tượng áp dụng của phục hồi là những con nợ nằm trong tình
trạng khó khăn về tài chính hay những doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ
đến hạn;
tự nguyện giữa người mắc nợ và chủ nợ để tìm ra những giải pháp khắc phục tình
trạng mất khả năng thanh toán như: cơ cấu lại sản phẩm, chủ nợ sẽ đầu tư thêm
hoặc kêu gọi đối tác của chủ nợ đầu tư, thay đổi người quản lý… Trong khoa học
pháp lý cũng như thực tiễn tố tụng dân sự ở nước ta quá trình này thường được gọi
là thủ tục tiền tố tụng. Thủ tục phục hồi chính thức là những thủ tục giải quyết tình
trạng phá sản được điều chỉnh bằng pháp luật và thông qua tòa án.
Thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản với tư cách là một
chế định trong Luật Phá sản do Nhà nước ban hành là một thủ tục chính thức. Pháp
luật của tất cả các quốc gia đều giống nhau khi quy định tòa án có thẩm quyền ra
quyết định áp dụng thủ tục phục hồi cũng như các quyết định khác có liên quan đến
thủ tục phục hồi và đảm bảo các quyết định đó được thực hiện trên thực tế.
Tuy nhiên, tùy thuộc vào quan điểm của mỗi quốc gia mà thẩm quyền điều
hành của tòa án đối với thủ tục phục hồi doanh nghiệp được quy định không giống
nhau.
Theo mô hình tố tụng phổ biến trong Luật Phá sản là việc phục hồi doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được quy định thành thủ tục tố tụng tương đối
độc lập, tòa án là chủ thể có thẩm quyền quyết định việc có áp dụng hay không áp
dụng thủ tục phục hồi đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Theo đó sau
khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi, tòa án sẽ xem xét những giấy tờ kế
toán và các tài liệu khác do doanh nghiệp cung cấp để đánh giá khả năng phục hồi
của doanh nghiệp. Trong trường hợp doanh nghiệp có cơ may phục hồi hoặc thuộc
đối tượng phải phục hồi thì tòa án sẽ ra quyết định chấp nhận áp dụng thủ tục phục
hồi đối với doanh nghiệp. Như vậy, hội nghị chủ nợ chỉ có vai trò quyết định chấp
nhận hoặc không chấp nhận phương án phục hồi do chủ doanh nghiệp hoặc các chủ
thể khác xây dựng được đưa ra xem xét tại hội nghị chủ nợ. Còn theo quy định của
pháp luật Việt Nam, việc phục hồi doanh nghiệp được thiết kế như là một phần thủ
tục trong trình tự giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, việc quyết định có áp dụng
hay không áp dụng thủ tục phục hồi không thuộc thẩm quyền của tòa án mà thuộc
13
Hai là, dựa trên tiêu chí ngừng thanh toán nợ đến hạn. Như ở Rumani, được
xem là mất khả năng thanh toán nợ khi doanh nghiệp ngừng thanh toán các khoản
nợ đến hạn, bị đòi hỏi, bằng những khoản tiền sẵn có của mình (Điều 1 Luật Phá
sản Rumanie). Có ba điều kiện để xác định việc ngừng thanh toán các khoản nợ đến
hạn là:
+ Có khoản nợ thực sự đến hạn đối với doanh nghiệp mắc nợ. Ví dụ ở
Anh, khoản nợ đến hạn tối thiểu để áp dụng thủ tục phá sản phải là 50
bảng Anh [22, tr.11].
+ Có yêu cầu đòi nợ của chủ nợ đối với doanh nghiệp mắc nợ. Yêu cầu
này phải rõ ràng và có căn cứ.
+ Có sự xác nhận không thể trả nợ ngay của doanh nghiệp mắc nợ.
Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 3 Luật Phá sản năm 2004, doanh nghiệp
bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi “doanh nghiệp không có khả năng thanh
toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu”.
Quy định này về cơ bản đã nêu được tiêu chí xác định doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản khi không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn,
tiêu chí này cũng phù hợp với quy định của Luật Phá sản của một số nước trên thế
giới.
Theo đó, “không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn” được
coi là lâm vào tình trạng phá sản được hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2005/NQHĐTP ngày 28/4/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng
dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản như sau:
“ 2. Về quy định tại Điều 3 của Luật Phá sản
2.1. Doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi có
đầy đủ các điều kiện sau đây:
a. Có các khoản nợ đến hạn.
lao động trong doanh nghiệp… Do đó, những doanh nghiệp có hoạt động sản xuất
kinh doanh liên quan đến các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tiền tệ… hoặc việc
15
thanh lý doanh nghiệp làm nhiều người lao động bị thất nghiệp là những doanh
nghiệp được áp dụng thủ tục phục hồi [22, tr.29].
Đánh giá khả năng phục hồi của doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định đến
việc áp dụng hoặc không áp dụng thủ tục phục hồi, trên thực tế đó là công việc hết
sức khó khăn của thẩm phán. Để đánh giá chính xác thực trạng tài chính, tình hình
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi sự hiểu biết, nhạy cảm cũng như sự
công tâm của các thẩm phán đồng thời đòi hỏi sự trung thực của các doanh nghiệp
khi cung cấp những tài liệu kế toán như báo cáo tài chính, bản cân đối tài sản… bởi
điều đó quyết dịnh đến sự sống còn của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
Thứ tư, không có sự phân chia tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng
phá sản trong quá trình áp dụng thủ tục phục hồi.
Đây là đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt thủ tục phục hồi hoạt động kinh
doanh với thủ tục thanh lý tài sản. Trong thủ tục thanh lý tài sản , sau khi có quyết
định thanh lý doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền sẽ tiến hành phân chia tài sản còn lại của doanh nghiệp mắc nợ cho các chủ nợ
tương ứng với phần quyền tài sản của họ. Trong khi đó, đối với thủ tục phục hồi, nếu
như phương án phục hồi được chấp thuận thì sẽ không có sự phân chia tài sản còn lại
của doanh nghiệp.
Thứ năm, thủ tục phục hồi chỉ được áp dụng khi có sự đồng ý của hội nghị
chủ nợ.
Việc quyết định có áp dụng hay không áp dụng thủ tục phục hồi thuộc thẩm
quyền của hội nghị chủ nợ. Tại hội nghị chủ nợ lần thứ nhất, vấn đề này được đưa ra
thảo luận và quyết định. Trong trường hợp áp dụng thủ tục phục hồi đối với doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì việc chấp nhận phương án phục hồi của hội
vậy, tái cấu trúc doanh nghiệp không chỉ giới hạn ở những doanh nghiệp đang lâm
vào tình trạng khó khăn, mất thanh khoản, mà đôi khi, chính những doanh nghiệp
đang “ăn nên làm ra” cũng phải tiến hành tái cấu trúc để phát triển và khẳng định
thương hiệu của riêng mình [8].
Như vậy, tái cấu trúc doanh nghiệp được hiểu là quá trình tổ chức, sắp xếp
lại doanh nghiệp nhằm tạo ra “trạng thái” tốt hơn cho doanh nghiệp để thực hiện
những mục tiêu đề ra. Mục tiêu chung của tái cấu trúc là đạt được một “thể trạng tốt
hơn” cho doanh nghiệp để doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn dựa trên những
nền tảng về sứ mệnh, tầm nhìn, định hướng chiến lược sẵn có của doanh nghiệp để
17
thích nghi với điều kiện phát triển mới như mở rộng hay thu hẹp quy mô, thay đổi
cơ cấu sở hữu, mặt hàng, tinh giản bộ máy, tăng hoặc giảm số lượng chi nhánh…
Ở Việt Nam, trong bối cảnh kinh tế vĩ mô chưa thực sự ổn định, sản xuất
kinh doanh phục hồi chậm thì tái cấu trúc doanh nghiệp là nhu cầu cấp thiết và nhận
được sự quan tâm của các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực. Có thể kể đến lộ trình
thực hiện tái cấu trúc các doanh nghiệp bảo hiểm dưới sự chỉ đạo của Bộ Tài chính.
Trong năm 2013, Bộ Tài chính đã chỉ đạo các doanh nghiệp bảo hiểm triển khai các
giải pháp tái cấu trúc như: đối với một công ty bảo hiểm phi nhân thọ có dấu hiệu
mất khả năng thanh toán, Bộ Tài chính đã chỉ đạo Công ty có phương án tái cấu trúc
lại, theo đó Công ty đã đánh giá lại vốn chủ sở hữu, đồng thời thực hiện phát hành
thêm cổ phiếu, gọi vốn từ nhà đầu tư khác để tăng vốn điều lệ thực có, cơ cấu lại
Hội đồng quản trị, Ban điều hành Công ty, giảm bớt đầu mối chi nhánh. Đến nay,
vốn điều lệ Công ty đã tăng lên, biên khả năng thanh toán đã cải thiện hơn. Có thể
thấy, nhờ tái cấu trúc doanh nghiệp mà thị trường bảo hiểm trong những năm gần
đây vẫn đạt được những tăng trưởng nhất định [1].
Phục hồi và tái cấu trúc đều nhằm đưa doanh nghiệp thoát ra khỏi tình trạng
khó khăn về tài chính, tránh được nguy cơ phá sản hoặc đóng cửa, thu hẹp sản xuất.
Còn phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là một giai đoạn trong
thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, được tiến hành sau khi tòa
án mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp và do tòa án quyết định thủ
tục này. Hoạt động phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản nằm dưới sự
giám sát nghiêm ngặt của tòa án cũng như các chủ nợ và doanh nghiệp phải chịu hậu
quả pháp lý tồi tệ trong trường hợp phục hồi không thành công.
1.3.2 Phân biệt phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản với tổ chức lại doanh nghiệp
Tô chức lại doanh nghiệp nhằm khắc phục tình trạng làm ăn kém hiệu quả
của doanh nghiệp, tổ chức lại sao cho phù hợp hơn với mục tiêu doanh nghiệp
hướng tới. Có các loại hình thức tổ chức lại doanh nghiệp là: chia, tách, hợp nhất,
sáp nhập hoặc chuyển đổi doanh nghiệp.
- Chia doanh nghiệp
Chia doanh nghiệp là biện pháp tổ chức lại được áp dụng cho công ty trách
nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, theo đó công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần được chia thành một số công ty cùng loại. Thủ tục chia công ty được thực hiện
19
theo Điều 150, Luật Doanh nghiệp. Sau khi đăng ký kinh doanh các công ty mới,
công ty bị chia chấm dứt tồn tại. Các công ty mới phải cùng liên đới chịu trách
nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài sản
khác của công ty bị chia hoặc có thể thoả thuận với chủ nợ, khách hàng và người
lao động để một trong số các công ty đó thực hiện nghĩa vụ này.
-
Tách doanh nghiệp
Tách doanh nghiệp là biện pháp tổ chức lại được áp dụng cho công ty trách