BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ THANH TUẤN
NHIỆM VỤ , QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM
CỦA THẨM PHÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ Á N DÂN SỰ
TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM
Chuyên ngành: L UẬT DÂN SỰ
M ã số: 60380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬ T HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI THỊ HUYỀN
HÀ NỘI – 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn là trung thực. Các kết luận khoa
học trong Luận văn chưa từng được ai công bố trong các công trình khác.
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NH IỆM VỤ, QUYỀN HẠ N
1.5 Một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự nƣớc ngoài về nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự tại
Tòa án cấp sơ thẩm .............................................................................................23
1.5.1 Pháp luật tố tụng dân sự nước Liên bang Nga ...................................................23
1.5.2 Pháp luật tố tụng dân sự nước Cộng hòa Pháp ..................................................24
1.5.3 Pháp luật tố tụng dân sự Hoa K ỳ ........................................................................26
1.5.4 Pháp luật tố tụng dân sự Anh ..............................................................................27
CHƢƠNG II: NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠ N VÀ TRÁCH NH IỆM CỦA THẨM
PHÁN TRONG
VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI
TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM .............. 29
2.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự
tại T oà án cấp sơ thẩm ........................................................................................29
2.1.1 Tiến hành lập hồ sơ vụ án ...................................................................................29
2.1.2 Tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ
án; ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự ...........................35
2.1.3 Ban hành các quyết định tố tụng ........................................................................37
2.1.4 Tham gia phiên tòa xét xử các vụ án dân sự ......................................................41
2.1.5 Tiến hành các hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ dân sự theo quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự ..................................................................................43
2.2 Trách nhiệm của thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại Toà án
cấp sơ thẩm ........................................................................................................44
2.2.1 Trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ, quy ền hạn khi giải quyết vụ án dân sự sơ
thẩm ....................................................................................................................44
STT
Từ viết tắt
Nội dung
1
BLTTDS
Bộ luật tố tụng dân sự
2
BPKCTT
Biện pháp khẩn cấp tạm thời
3
CHXHCN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
4
LSĐBS
Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự
10
TTDS
Tố tụng dân sự
11
TTGQCVADS
Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
12
TTGQCVAKT
Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
13
TTGQCTCLĐ
Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
14
TNBT
Trách nhiệm bồi thường
XHCN.
Trong những năm gần đây, các tranh chấp dân sự tăng cả về số lượng và sự
phức tạp. Thống kê hàng năm của ngành Tòa án cho thấy, số lượng các vụ án dân
sự tăng nhanh, không chỉ các vụ án dân sự theo nghĩa hẹp mà còn cả các vụ án kinh
doanh thương mại, hôn nhân gia đình, lao động. Ngoài việc tăng về số lượng thì các
vụ án dân sự phức tạp về nội dung, các tranh chấp dân sự không chỉ đơn thuần trong
một lĩnh vực nhất định mà ở trong các lĩnh vực khác nhau , đặc biệt các tranh chấp
liên quan đến quyền sử dụng đất, hoạt động kinh doanh... đã gây ra không ít khó
khăn, vướng mắc cho Tòa án. M ặc dù có những khó khăn, nhưng ngành Tòa án đã
thụ lý, giải quyết có hiệu quả các tranh chấp dân sự, đáp ứng được yêu cầu của pháp
luật và nguyện vọng của nhân dân.
Bên cạnh những thành quả đạt mà ngành Tòa án đã được thì vẫn còn những
khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện chức năng xét xử của Tòa án, trong đó
có các nguyên nhân từ quy định pháp luật, cơ cấu, tổ chức của Tòa án, quyền hạn và
năng lực xét xử của cán bộ Tòa án… . dẫn đến hoạt động xét xử của Tòa án chưa
thực sự hiệu quả, chưa bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích của nhân dân và chưa đáp
ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế . Đảng cộng sản Việt Nam thấy được sự cần thiết
phải hoàn thiện các cơ quan tư pháp, vì vậy nhiệm vụ “cải cách tổ chức, hoạt động
của các cơ quan tư pháp” đã được thể hiện tại Đại hội VIII, IX của Đảng. C ụ thể
hóa nhiệm vụ trên, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị, Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hư ớng đến năm 2020; Nghị quyết số
2
49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của B ộ C hính trị, Ban C hấp hành Trung ương Đảng
khóa IX về Chiến lược cải cách tư phá p đến năm 2020 và Kết luận số 79-KL/TW
ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về “Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa
án, Viện kiểm sát và C ơ quan điều tra” [7]. Theo đó, nhiệm vụ trọng tâm của cải
trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại T oà án cấp sơ
thẩm” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây có nhiều đề tài, bài viết, nghiên cứu, luận văn liên
quan đến việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán nói
chung và trong TTDS nói riêng. Các nghiên cứu đó nhằm góp phần thực h iện yêu
cầu cải cách tư pháp, xây dựng ngành Tòa án phát triển, vững mạnh, đội ngũ Thẩm
phán có đủ năng lực và bản lĩnh nghề nghiệp. C ó thể chia làm hai nhóm như sau:
Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu bài viết liên quan đến quá trình
giải quyết các vụ án dân sự nói chung. M ặc dù không trực tiếp xác định nhiệm vụ
quyền hạn của Thẩm phán, tuy nhiên hoạt động giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án
được thể hiện qua hoạt động của Thẩm phán là chủ yếu. Vì vậy, các bài viết, nghiên
cứu đó cũng góp phần quan trọng làm sáng rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
của Thẩm phán trong hoạt động TTDS, điển hình như: Kỷ yếu toạ đàm (2004), Qui
chế độc lập và cơ chế trách nhiệm của Thẩm phán- Nhà Pháp luật Việt - Pháp, Hà
Nội; Lê Thu Hà (2010), Tổ chức xét xử vụ án dân sự đáp ứng yêu cải cách tư pháp ,
Nxb chính trị quốc gia, Hà N ội. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), H oàn thiện
pháp luật Việt Nam về thủ tục giải quyết vụ việc dân sự theo định hướng cải cách tư
pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội…
Nhóm thứ hai: Các đề tài nghiên cứu trực tiếp đến nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm của Thẩm phán theo thủ tục TTDS như: Đề tài khoa học cấp Bộ “M ột
số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng BLTTDS”, mã số 95 – 98
– 046/ĐT của TANDTC đã có những bài viết “Xác định nhiệm vụ, quyền hạn của
Thẩm phán, vấn đề thực tiễn và yêu cầu trong việc xây dựng qui trình và thủ tục
TTDS” của tiến sĩ Đinh N gọc Hiện; Bùi Thị Huyền (2001) “Về nhiệm vụ, quyền hạn
của Thẩm phán trong TTD S”, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội; Lê Thị Thúy Nga (2012),
“Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS”, Khóa luận tốt
nghiệp, Hà Nội.
Những công trình nghiên cứu trên đã đưa ra được cơ sở lý luận về nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán, đồng thời phản ánh được thực trạng đội
M ục đích của luận văn là nghiên cứu m ột cách có hệ thống về mặt lý luận và
thực tiễn nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS khi giải
quyết vụ án dân sự sơ thẩm . Trên cơ sở đó đề xuất hoàn thiện tổng thể quy định
pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán. M ục đích xây
5
dựng đội ngũ Thẩm phán có năng lực, bản lĩnh nghề nghiệp khi giải quyết các loại
vụ án.
Từ mục đích đó, nhiệm vụ của Luận văn là: Làm rõ khái niệm nhiệm vụ,
quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; phân
tích, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của Thẩm phán; tìm hiểu, so sánh với nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
của Thẩm phán m ột số quốc gia khác khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; từ việc
nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Thẩm phán, luận văn đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm
cho Thẩm phán thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trên thực tế.
6. Cơ cấu của luận văn
Chương I: M ột số vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm.
Chương II: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong việc
giải quyết vụ án dân sự tại T òa án cấp sơ thẩm theo pháp luật Việt Nam hiện hành.
Chương III: Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm tại T òa án cấp sơ thẩm và m ột số
kiến nghị.
6
7
vụ án dân sự sơ thẩm – khi vụ án đã được thụ lý .
BLTTDS quy định trình tự giải quyết vụ án dân sự tại T òa án cấp sơ thẩm ,
cấp phúc thẩm và thủ tục xét lại các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp
luật. Thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm là trình tự khởi kiện,
thụ lý, thu thập tài liệu, chứng cứ và xét xử giải quyết vụ án tại T òa án cấp sơ thẩm.
Trình tự thủ tục đó được thực hiện bởi những người tiến hành tố tụng, quan trọng
nhất là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án.
1.1.1 K hái niệm nhiệm vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân
sự tại Tòa án cấp sơ thẩm
Trong khoa học pháp lý, thẩm quyền, nhiệm vụ và nghĩa vụ là các khái niệm
khác nhau. Thẩm quyền là “tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định
của các cơ quan, tổ chức thuộc bộ máy Nhà nước do luật pháp quy định ” [50, tr.459].
Khái niệm “thẩm quyền” bao hàm hai nội dung chính là quyền hành động và quyền
quyết định của cơ quan, tổ chức trong bộ máy Nhà nước. Quyền hành động là quyền
được làm những công việc nhất định, còn quyền quyết định là quyền hạn giải quyết
công việc đó trong phạm vi pháp luật cho phép (thẩm quyền hành động). Nghĩa vụ là
việc mà theo đó một chủ thể (cá nhân, cơ quan, tổ chức) phải thực hiện hoặc không
được thực hiện khi tham gia vào một quan hệ pháp luật. Còn nhiệm vụ là công việc
phải làm , phải gánh vác [55, tr.1251]. Theo cách giải nghĩa này thì nhiệm vụ nói
chung là công việc mang tính chất bắt buộc đối với chủ thể phải thực hiện. T uy
nhiên, khi nói đến nhiệm vụ người ta thường nói đến công việc phải thực hiện của
người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước khi thực hiện
thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó. N hiệm vụ của một chủ thể xuất phát từ tư cách
chủ thể trong quan hệ xã hội mà chủ thể đó tham gia và được pháp luật quy định.
Cùng một chủ thể, như ng mỗi quan hệ xã hội khác nhau thì quy định pháp luật xác
định nhiệm vụ khác nhau.
1.1.2 K hái niệm quyền hạn của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân
sự tại Tòa án cấp sơ thẩm
Cũng giống như nhiệm vụ của Thẩm phán, quyền hạn của Thẩm phán cũng
xuất phát từ tư cách chủ thể trong quan hệ pháp luật. Pháp luật trao cho chủ thể có
quyền như thế nào trên cơ sở cương vụ, chức vụ mà c hủ thể đó đảm nhiệm . Thông
thường, quyền hạn được hiểu là quyền theo cương vị, chức vụ cho phép [55,
tr.1384]. Dưới góc độ pháp lý, quyền hạn của m ột cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân
được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí
9
công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp
luật [50, tr.651].
Quyền hạn thường gắn chủ thể với m ột cương vị, tư cách cụ thể. Trong khoa
học pháp lý, quyền hạn được gắn liền với cơ quan, tổ chức trong bộ máy N hà nước
hoặc của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó. Quyền hạn của cơ quan, tổ
chức là quyền quyết định giải quyết công việc trong phạm vi thẩ m quyền của cơ
quan, tổ chức. Quyền hạn của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức là quyền
quyết định giải quyết công việc trong phạm vi nhiệm vụ của cá nhân người có thẩm
quyền của cơ quan tổ chức đó. Đối với quyền của chủ thể khi tham gia vào quan hệ
pháp luật dân sự xuất phát từ sự thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định.
Quyền hạn và nhiệm vụ là hai khái niệm khác nhau, song lại có mối liên hệ
chặt chẽ. Nhiệm vụ của Thẩm phán là việc phải thực hiện các thủ tục tố tụng mà
BLTTDS quy định, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ thì
tùy theo tính chất và mức độ việc giải quyết vụ án dân sự sẽ khôn g chính xác và có
thể phải thực hiện lại. Nhiệm vụ của Thẩm phán được xác định mang tính bắt buộc
khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm, trong đó Thẩm phán phải thực hiện chính xác
về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án. Để Thẩm phán có thể thực hiện tốt nhiệm vụ
xét xử vụ án dân sự sơ thẩm, pháp luật cần trao cho Thẩm phán những quyền hạn
các quyền khác có liên quan đến bản án, quyết định sơ thẩm theo quy định của
pháp luật tố tụng dân sự.
1.1.3 Khái niệm trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án
dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm
Theo Đại từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1999, trách nhiệm là điều phải
làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình [55, tr.1678]. Còn theo Từ điển
tiếng Việt xuất bản năm 2001, trách nhiệm là phần việc được giao cho hoặc coi như
được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu
phần hậu quả (trách nhiệm làm cha mẹ, giám đố c xí nghiệp, ý thức trách nhiệm … ).
Trách nhiệm thường gắn với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và phải chịu hậu
quả trong trường hợp thực hiện không đúng, không đầy đủ nhiệm vụ , quyền hạn của
mình. Trách nhiệm của Thẩm phán nói chung được quy định tại PLTP&HTND, B ộ
luật Hình sự, B ộ luật D ân sự, Luật trách nhiệm bồi thường của N hà nước và nhiều
văn bản pháp luật có liên quan. BLTTDS không quy định cụ thể trách nhiệm của
Thẩm phán, tuy nhiên thông qua tinh thần các điều luật và các quy định về trách
nhiệm chung của Thẩm phán trong các văn bản pháp luật có liên quan, có thể khái
11
quát trách nhiệm của Thẩm phán khi tiến hành giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm như
sau: Trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại Toà án cấp
sơ thẩm là việc Thẩm phán tuân thủ các quy định của tố tụng dân sự và các quy
định pháp luật về nội dung để giải quyết nội dung vụ án dân sự sơ thẩm chính xác
và hậu quả pháp lý mà Thẩm phán phải gánh chịu do không thực hiện đúng nhiệm
vụ, quyền hạn của mình.
Như vậy, trách nhiệm của Thẩm phán có hai loại, thứ nhất, trách nhiệm của
Thẩm phán phải hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật giao khi giải quyết
vụ án dân sự. T hứ hai, trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán phải gánh chịu do không
thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn. V iệc thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền
1.2 Cơ sở quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán
trong việc giải quyết vụ án dân sự tại T oà án cấp sơ thẩm
1.2.1. Vị trí, vai trò của Thẩm phán Tòa án cấp sơ thẩm trong tổ chức bộ
máy Nhà nước và trong hoạt động tố tụng dân sự
Nhà nước CHXHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân
dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội
ngũ trí thức [32]. Trong đó, quyền lực Nhà nước là thống nhất có sự phân công,
phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Quyền hạn của m ột cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xác định
theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp, chức vụ, vị trí công tác và trong
phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật [50, tr.651].
TAND với chức năng xét xử - m ột hoạt động cơ bản của quyền tư pháp, là cơ quan
có vị trí độc lập và là bộ phận quan trọng, không thể thiếu trong bộ máy Nhà nước.
Trong các cơ quan tư pháp, Tòa án là cơ quan xét xử và là cơ quan có vị trí, vai trò
quan trọng nhất.
Nhiệm vụ của Tòa án là thực hiện việc xét xử, giải quyết các vụ việc phát
sinh từ các quan hệ pháp luật hình sự, hôn nhân gia đình, dân sự, lao động, kinh
doanh thương mại, hành chính. Trong phạm vi chức năng của mình là bảo vệ pháp
chế xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân ; bảo vệ tài sản của N hà
nước; của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công
dân [33]. Để thực hiện được nhiệm vụ đó, pháp luật xác định và trao cho Thẩm
phán vai trò quan trọng trong việc xét xử các loại vụ án. Khi xét xử các vụ án, bắt
buộc phải do Thẩm phán tiến hành và có vị trí, vai trò không thể thay thế. Khi xét
13
xử Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Thẩm phán cùng với HTND nhân
danh Nhà nước để đưa ra phán quyết, giải quyết vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích
14
trách nhiệm đối với hành vi của mình trong suốt quá trình tiến hành tố tụng.
Trên thế giới hiện tồn tại nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, trong đó hai h ệ
thống pháp luật là chủ yếu, hệ thống pháp luật án lệ (com mon law) và hệ thống
pháp luật châu Âu lục địa (continental law). Tương ứng với hai hệ thống pháp luật
trên là hai loại hình thủ tục tố tụng, thủ tục tố tụng tranh tụng và thủ tục tố tụng xét
hỏi [47, tr.97]. Hình thức tố tụng xét hỏi xác định việc chứng minh đúng sai do các
cơ quan Nhà nước thực hiện, đề cao vị trí, vai trò của người tiến hành tố tụng, đặc
biệt là Thẩm phán. Hình thức tố tụng thứ hai là tố tụng tranh tụng, đề cao vai trò
chứng minh của các đương sự, T hẩm phán chỉ căn cứ vào việc cung cấp chứng cứ
do các bên cung cấp để xác định đúng sai. Nội dung tranh tụng được thể hiện suốt
trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa. Ngoài ra, m ột số nước trên thế
giới còn áp dụng hình thức tố tụng “pha trộn” – hỗn hợp giữa tố tụng xét hỏi và tố
tụng tranh tụng, theo đó, việc chứng minh đúng sai do cả người tiến hành tố tụng và
đương sự cùng thực hiện. T uy nhiên, dù ở hình thức tố tụng nào thì vai trò quan
trọng của Thẩm phán vẫn luôn được đề cao, Thẩm phán tham gia và o các hoạt động
tố tụng mà sản phẩm cuối cùng là bản án, quyết định đúng pháp luật.
Như vậy, vai trò của Thẩm phán trong m ỗi hình thức tố tụng khác nhau dẫn
đến việc quy định khác nhau nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán .
Ở Việt Nam, về cơ bản, BLTTDS được xây dựng trên cơ sở thủ tục xét hỏi nhưng
có kết hợp các yếu tố c ủa thủ tục tố tụng tranh tụng [10]. Theo đó các đương sự có
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mìn h là có căn cứ và
hợp pháp, bên cạnh đó Tòa án vẫn xác minh , thu thập chứng cứ trong một số trường
hợp do pháp luật quy định . Do đó, khi xây dự ng các quy định về nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm của T hẩm phán cần căn cứ vào vai trò của Thẩm phán đối với
hoạt động TTDS.
1.2.2 C ơ sở pháp lý
Đảng cộng sản Việt Nam đã và đang coi việc cải cách tư pháp là một nội
dung quan trọng, để hoàn thiện bộ máy Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân
định của pháp luật hiện hành nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán
được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Những quyền và nghĩa vụ
chung được thể hiện tại Luật cán bộ công chức, Pháp lệnh sửa đổi bổ sung m ột số
điều của PLTP&HTND . Trong lĩnh vực TTDS, ngoài việc tuân thủ các quy định
chung, Thẩm phán phải thực hiện những hoạt động tố tụng theo đúng quy định của
BLTTDS trong việc lập hồ sơ, xét xử vụ án.
16
Việc quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán sẽ
nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán trong hoạt động TTDS, ngoài ra còn là cơ sở để
xác định trách nhiệm của Thẩm phán khi tiến hành tố tụng không đúng. Quá trình
thực hiện tố tụng, nếu người tiến hành tố tụng vi phạm các quy định của pháp luật,
ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự thì phải chịu trách nhiệm bồi thường. Việc
thực hiện bồi thường được quy định cụ thể trong Luật trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước. Nếu hành vi của Thẩm phán hoặc bất kỳ người tiến hành tố tụng nào khác
có cấu thành tội phạm thì ngoài trách nhiệm về hành chính (công vụ), bồi thường
thiệt hại còn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật hình sự.
1.2.3 C ơ sở thực tế
Hiện nay, các quy định liên quan đến hoạt động gi ải quyết vụ án dân sự sơ
thẩm tương đối đầy đủ, góp phần quan trọng để Thẩm phán thực hiện tốt nhiệm vụ
quyền hạn của mình. T uy nhiên, trên thực tế việc giải quyết vụ án và các phán quyết
của Thẩm phán nhiều lúc, nhiều nơi chưa thực sự độc lập, ảnh hưởng đ ến chất
lượng xét xử, niềm tin của người tham gia tố tụng bị giảm sút, từ đó ảnh hưởng đến
“vị thế” của Thẩm phán. N goài ra, các vấn đề khác cũng ảnh hưởng đến chất lượng
xét xử của Thẩm phán, đó là trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, sự lạm
quyền của Thẩm phán...cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng xét xử.
Hàng năm, ngành Tòa án tiến hành thống kê chất lượng xét xử, còn nhiều vụ án bị
sửa, hủy do lỗi chủ quan của Thẩm phán nói riêng và của HĐXX nói chung còn
mâu thuẫn giữa các bên đương sự, việc Thẩm phán thực hiện quyền và nghĩa vụ
đúng sẽ giúp cho quyền và nghĩa vụ của đương sự trong TTDS được bảo đảm, các
đương sự thông qua Thẩm phán bảo vệ được quyền lợi của mình. Hơn nữa, việc
thực hiện chính xác nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thẩm phán giải quyết vụ án
dân sự nhanh chóng, chính xác.
Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi Thẩm phán hoặc HĐXX ban hành
quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật, mối liên hệ giữa Thẩm phán và đương sự
luôn tồn tại và tác động qua lại lẫn nhau. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán
bảo đảm cho đương sự quyền cung cấp chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu hoặc phản
đối của mình; Thẩm phán xem xét việc yêu cầu đương sự , cá nhân, cơ quan, tổ chức
cung cấp chứng cứ hoặc tự mình thu thập các chứng cứ là căn cứ để giải quyết vụ án;
thực hiện việc hòa giải để các đương sự thỏa thuận việc giải quyết vụ án; Thẩm phán
xem xét yêu cầu khởi kiện và chứng cứ để quyết định việc giải quyết vụ án như đình
chỉ, tạm đình chỉ, chuyển vụ án hoặc ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử …
18
Tại phiên tòa sơ thẩm dân sự , việc thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của
Thẩm phán, tạo điều kiện cho các bên đương sự có thể trực tiếp trình bày, tranh luận
để bảo vệ quyền lợi của mình, cùng với HTND , Thẩm phán ra bản án, quyết định.
Do đó, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán có ý
nghĩa quan trọng, Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đúng pháp luật thì vụ
án được giải quyết chính xác về nội dung và tố tụng – quyền lợi của đương sự được
bảo đảm. N gược lại, Thẩm phán thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền hạn làm
ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, dẫn
đến vụ án giải quyết không chính xác . Thẩm phán vi phạm pháp luật tùy theo mức
độ vi phạm và hậu quả, Thẩm phán phải chịu trách nhiệm về dân sự, hành chính
hoặc hình sự.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, đòi hỏi các đương sự
để các quy định về tố tụng, là điều kiện để giải quyết nhanh chóng các vụ án, bảo
đảm quyền và lợi ích của đương sự.
1.3.3 M ối liên hệ giữa nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm
phán với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của HTND
BLTTDS quy định HTND tham gia vụ án dân sự từ khi có quyết định đưa vụ
án ra xét xử. HTND không có quyền thu thập chứng cứ và phụ thuộc hoàn toàn và o
việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Thẩm phán. Do đó, việc chuẩn bị xét xử của
Thẩm phá n có ý nghĩa quan trọng, nếu Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của mình một cách chính xác trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, tạo điều kiện cho
HTND có thể xem xét vụ án một cách toàn diện, chính xác. Ngược lại, Thẩm phán
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn không đúng sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của HTND khi xét xử và quyết định giải quyết vụ án .
BLTTDS chưa quy định về việc HTND đề xuất việc thu thập chứng cứ sau khi có
Quyết định đưa vụ án ra xét xử, đồng thời cũng chưa có quy định về việc HTND từ
chối tiến hành tố tụng vì lý do Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn không
chính xác khi chuẩn bị xét xử. Do vậy, pháp luật cần thiết phải phân định cụ thể hơn
nữa trách nhiệm của Thẩm phán và HTND khi tiến hành tố tụng. Nếu xác định
HTND phải chịu trách nhiệm cùng với Thẩm phán trong hoạt động tố tụng thì cần
phải có những quy định về sự tham gia của HTND trong quá trình chuẩn bị xét xử,
thu thập chứng cứ. Ngược lại, nếu xác định ý kiến của HTND thực chất là ý kiến xã
hội và họ chỉ có quyền đưa ra ý kiến chứ không có quyền đưa ra phán quyết, Thẩm
phán phải tự chịu trách nhiệm cá nhân về phán quyết của mình [4 3].