BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CỒ KHẮC ĐAM
VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN, HUYỆN
TRONG CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY – MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật
Mã số : 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN VĂN ĐỘNG
HÀ NỘI - 2013
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn này, tôi đã
nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, gia đình,
các anh chị em và các bạn. Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc
tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, Bộ môn lý luận trường Đại
học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
trò của Toà án nhân dân quận, huyện
1.1.1. Khái niệm “công tác thi hành án hình sự trong phạm vi quận,
7
huyện” và những đặc điểm cơ bản
1.1.2. Nội dung công tác thi hành án hình sự trên địa bàn quận, huyện
12
của Thành phố Hà Nội
1.1.3. Nội dung vai trò của Toà án nhân dân quận, huyện trong công tác
39
thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội
1.2. Những điều kiện bảo đảm thực hiện vai trò của Toà án nhân
42
dân quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn
Thành phố Hà Nội
1.2.1. Điệu kiện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hoá và xã hội
42
1.2.2. Điều kiện về tổ chức, bộ máy, trình độ và năng lực của cán bộ
44
53
2.1.2. Nhược điểm và nguyên nhân
60
2.2. Những giải pháp nâng cao vai trò của Toà án nhân dân quận,
huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố
Hà Nội
67
2.2.1. Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Toà án quận, huyện của Thành phố
Hà Nội
67
2.2.2. Về kiện toàn bộ máy thực hiện công tác thi hành án hình sự của
TAND quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hà Nội
70
2.2.3. Về xây dựng và hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự
71
2.2.4. Về những điều kiện bảo đảm thực hiện vai trò của cán bộ Toà án
quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự của Thành phố Hà Nội
Từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, công cuộc đổi mới do Đảng ta
khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thắng lợi quan trọng trên nhiều
lĩnh vực. Đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước đã có nhiều
khởi sắc, được nhân dân ta và quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, bên cạnh
những thành quả đã đạt được, vẫn còn không ít sơ hở, yếu kém trong quản lý
kinh tế, quản lý xã hội; tình hình tội phạm có chiều hướng gia tăng và diễn
biến phức tạp, đặc biệt là tình trạng phạm tội có tổ chức như tham nhũng,
1
buôn lậu, mua bán phụ nữ, xâm hại trẻ em... phạm tội có sử dụng bạo lực,
cướp của giết người, chống người thi hành công vụ, đâm thuê, chém mướn,
bảo kê nhà hàng và các hành vi phạm tội khác có tính chất côn đồ hung hãn,
gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng, gây lo lắng cho toàn xã hội.
Công tác thi hành án hình sự đã góp phần quan trọng vào việc giữ gìn
trật tự, kỷ cương xã hội, cải tạo được nhiều người phạm tội, giúp đỡ họ tái hòa
nhập cộng đồng. Bên cạnh những đóng góp tích cực vào cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm, thực tiễn thi hành án phạt tù cũng đã đặt ra nhiều vấn
đề vướng mắc đòi hỏi khoa học thi hành án hình sự phải nghiên cứu, giải
quyết để làm sáng tỏ về mặt lý luận như khái niệm thi hành án hình sự, vai trò
của Toà án trong công tác thi hành án hình sự... Trong khi đó, xung quanh
những vấn đề lý luận và thực tiễn về thi hành án hình sự còn nhiều ý kiến
tranh luận khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Vì vậy, việc chọn chủ đề "Vai trò của Toà án nhân dân quận, huyện
trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện
nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học
nhằm giải quyết các vướng mắc về mặt lý luận cũng như thực tiễn thi hành án
hình sự, góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về thi hành án hình
sự, hướng dẫn thống nhất áp dụng các quy định, đang trở nên cấp thiết vừa có
tính lý luận vừa có giá trị thực tiễn.
công trình khoa học cung cấp kịp thời, toàn diện về cơ sở lý luận, thực tiễn
Luật thi hành án hình sự và các quy định mới nhất về thi hành án hình sự.
Đồng thời công trình phân tích cụ thể, đối chiếu với thực tiễn thi hành pháp
luật, làm cho các điều luật được giải thích rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu. Phần nào
3
đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, tìm hiểu, nâng cao nhận thức và triển khai có
hiệu quả Luật thi hành án hình sự và các văn bản quy định chi tiết hướng dẫn
thi hành.
- Luật thi hành án hình sự năm 2010 sau khi có hiệu lực thi hành bước
đầu đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý nhà nước đối với công tác thi hành án hình sự trong phạm vi cả
nước, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh quốc gia,
giữ gìn trật tự an toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành
chính cũng như bảo đảm tốt hơn quyền lợi trách nhiệm của các đối tượng
thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thi hành án hình sự năm 2010.
- Một số vướng mắc trong công tác thi hành án hình sự và kiến nghị
hoàn thiện của Nguyễn Văn Tuấn đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân,
TANDTC, số 7/2012, tr. 23 - 25, nghiên cứu về những vướng mắc, hướng sửa
đổi và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt án
treo, biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ thực tiễn thi hành bản án,
quyết định hình sự có hiệu lực pháp luật của Toà án.
Các công trình nói trên đã đề cập các khía cạnh khác nhau của việc thi
hành án hình sự ở mức độ khác nhau nhưng chưa có công trình nào nghiên
cứu một cách toàn diện và có hệ thống về vai trò của TAND quận, huyện
trong công tác thi hành án hình sự hiện nay và các giải pháp nâng cao hiệu
quả thi hành án hình sự.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là TAND quận, huyện của Thành
5
trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay góp phần hoàn thiện các quy định
của pháp luật về thi hành án hình sự, hướng dẫn những cán bộ làm công tác
thi hành án hình sự tại Toà án quận, huyện áp dụng thống nhất các quy định
về thi hành án hình sự.
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực
tiễn về vai trò của TAND quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự trên
địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay, Luận văn đề xuất một số giải pháp cụ thể
nhằm góp phần nâng cao vai trò của TAND quận, huyện trong công tác thi
hành án hình sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay, đáp ứng nhu cầu
công cuộc cải cách tư pháp hiện nay ở nước ta.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được kết cấu thành 2 chương: Chương 1 luận giải cơ sở lý luận về vai trò của
TAND quận, huyện trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố
Hà Nội hiện nay; Chương 2 đánh giá thực trạng của TAND quận, huyện trong
công tác thi hành án hình sự trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay và đề
xuất vai trò đó trong thời gian tới.
6
CHNG 1
C S Lí LUN V VAI TRề CA TO N NHN DN QUN,
HUYN TRONG CễNG TC THI HNH N HèNH S TRấN A
BN THNH PH H NI HIN NAY
pháp luật quy định.
Thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án là một hoạt
động phức tạp, đa dạng liên quan đến nhiều lĩnh vực từ việc thi hành các hình
phạt chính như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có
thời hạn, tù chung thân, tử hình đến các hình phạt bổ sung như cấm đảm
nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú,
quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, phạt tiền (khi không
áp dụng là hình phạt chính), trục xuất (khi không áp dụng là hình phạt chính);
các biện pháp tư pháp như tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm,
trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi, bắt
buộc chữa bệnh; các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên
phạm tội như giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng.
Như vậy, thi hành án hình sự, biện pháp tư pháp có quan hệ hữu cơ, tác động
qua lại, chặt chẽ với nhau. Trong mối quan hệ này, hình phạt và biện pháp tư
pháp giữ vai trò quyết định, quy định nội dung, phương pháp, hình thức, thời
gian thi hành án hình sự. Có thể dễ dàng chứng minh điều này, vì thi hành
hình phạt tử hình khác với thi hành hình phạt tù, khác với thi hành các hình
phạt không phải là tù và tử hình và càng khác với thi hành các biện pháp tư
pháp. Ngược lại, thi hành án hình sự có tác động trở lại đối với hình phạt, biện
pháp tư pháp, làm cho mục đích của hình phạt, biện pháp tư pháp được thực
hiện trên thực tế, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Thực chất của thi hành án hình sự là việc tổ chức thi hành các hình
phạt, biện pháp tư pháp được quy định trong bản án hoặc quyết định hình sự
có hiệu lực pháp luật trên thực tế. Đó chính là việc thực thi công lý trên cơ sở
chân lý đã được hoạt động tố tụng hình sự chứng minh.
8
Thi hành án hình sự là một giai đoạn trong tố tụng hình sự và có thể coi
đó là giai đoạn cuối cùng của một vụ án hình sự. Công tác điều tra, truy tố và
Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp vừa qua, thì phạm vi điều chỉnh của dự án Bộ
luật là rất rộng, điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thi hành án hình sự, dân sự,
hành chính… Ngoài nội dung thi hành các bản án, quyết định của Toà án,
phạm vi điều chỉnh của dự án Bộ luật này còn bao gồm việc thi hành các phán
quyết của Trọng tài thương mại Việt Nam, các bản án, quyết định của Toà án
nước ngoài đã được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Với phạm vi
rộng, đa dạng này, việc xác định rõ tính chất của hoạt động thi hành án nói
chung để từ đó có cơ sở quy định một cách thống nhất, khoa học trong dự án
Bộ luật (như về giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án; về hoạt động kiểm
sát của Viện kiểm sát nhân dân trong từng lĩnh vực thi hành án…) là một yêu
cầu quan trọng, song cũng là vấn đề phức tạp xét cả về lý luận và thực tiễn.
Lâu nay, quan niệm về họat động thi hành án thu hút được nhiều sự
quan tâm và được nhìn nhận trên nhiều phương diện khác nhau:
Thứ nhất, có ý kiến cho rằng, nếu xét về những đặc điểm cơ bản của
hoạt động thi hành án, thì có thể coi đây là một giai đoạn tiếp nối và cũng là
sau cùng của hoạt động tố tụng nói chung. Ngay trong hệ thống pháp luật hiện
hành, họat động thi hành án cũng đã được xác định thuộc phạm vi điều chỉnh
trong các văn bản pháp luật về tố tụng. Ví dụ: theo quy định tại Điều 1
BLTTHS năm 2003 hiện hành: “Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự,
thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự;” BLTTHS
năm 2003 còn có một phần riêng (Phần thứ năm) về “Thi hành bản án và
quyết định của Toà án” bao gồm 5 chương, 17 điều quy định cụ thể về trình
tự, thủ tục thi hành án hình sự.
10
Bên cạnh đó, loại ý kiến này cũng cho rằng: Việc các cơ quan, tổ chức,
đơn vị không phải là các cơ quan tiến hành tố tụng được giao những nhiệm vụ
nhất định trong công tác thi hành án không làm thay đổi về bản chất của họat
động hành chính hoặc là hoạt động tư pháp đơn thuần… Có thể khẳng định:
thi hành án như là hoạt động “bản lề” nối liền giữa hoạt động tư pháp và hoạt
động hành chính. Chính điều này đã tạo nên tính chất phức tạp, đặc thù của
thi hành án, khiến cho thi hành án có tính chất “lưỡng tính”, vừa mang tính
chất của hoạt động tư pháp, vừa chịu sự tác động, chi phối mạnh mẽ của hoạt
động quản lý hành chính.
Trong quá trình thẩm tra dự án Bộ luật thi hành án vừa qua, có ý kiến
của thành viên Uỷ ban pháp luật cho rằng, trong dự án Bộ luật này chưa thể
hiện rõ vấn đề rất cơ bản, đó là việc xác định rõ tính chất của hoạt động thi
hành án. Tương tự như các quan niệm nêu trên, các thành viên của Uỷ ban
cũng chia sẻ vấn đề này từ những giác độ khác nhau, cụ thể là: thi hành án là
một giai đoạn tiếp theo của các giai đoạn tố tụng trước đó; thi hành án là
nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước; thi hành án là họat động hành
chính - tư pháp.
1.1.2. Nội dung công tác thi hành án hình sự trên địa bàn quận,
huyện của Thành phố Hà Nội
Trên thực tế thì các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay cũng không
phân định rõ rệt cơ quan tư pháp nào có chức năng "chủ trì" trong thi hành án,
do đó mỗi quan điểm trên đều đưa ra những lập luận riêng để bảo vệ quan
điểm của mình. Xét về góc độ thực tiễn thì hiện nay một bản án, quyết định
về hình sự có thể do nhiều cơ quan thi hành, nhất là trong trường hợp bản án,
quyết định đó có nhiều bị cáo, có nhiều loại hình phạt được áp dụng hoặc có
nhiều quyết định về dân sự, về hình phạt bổ sung.
12
Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập vấn đề thẩm quyền của TAND quận, huyện
trong công tác thi hành án mà không đi sâu về việc phân tích xem các quan
điểm nào về việc "chủ trì" thi hành án hình sự là của cơ quan tư pháp nào.
Theo quy định của BLHS năm 2009 và BLTTHS năm 2003 thì TAND
của Toà án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ
ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Khoản 1 Điều 237 BLTTHS quy định: "Những phần của bản án bị
kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định
tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật này…”. Điều này phù hợp với quy định tại
Điều 240 BLTTHS năm 2003. Lẽ ra, Điều 255 BLTTHS năm 2003 phải quy
định thêm trường hợp những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án
không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi
hành mới phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 237 và Điều 240 BLTTHS
năm 2003.
Như vậy, nếu Toà án căn cứ vào quy định tại Điều 240 BLTTHS năm
2003 để ra quyết định thi hành án hình sự đối với các bị cáo không kháng cáo,
không bị kháng cáo, kháng nghị và quyết định đó được thi hành trước khi có
bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm (đã áp giải thi hành án, đã thi
hành phần dân sự trong vụ án hình sự, đã thi hành các hình phạt bổ sung…)
mà sau đó bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm lại sửa án sơ thẩm
theo hướng có lợi cho những bị cáo này thì rõ ràng quyết định thi hành án
phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án sơ thẩm phải
được huỷ bỏ. Vấn đề là ai có quyền ra quyết định huỷ bỏ hoặc thay thế quyết
định thi hành án trước đây. Hiện nay, TANDTC chưa có hướng dẫn cụ thể về
vấn đề này, nhưng theo chúng tôi thì Chánh án Toà án đã ra quyết định thi
hành án có quyền ra quyết định khác để thi hành bản án, quyết định phúc
thẩm (nếu bản án, quyết định đó phải đưa ra thi hành).
14
Về nguyên tắc mọi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đều phải
được thi hành nghiêm chỉnh và phải được các cơ quan, tổ chức và mọi công
dân tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan trong phạm vi trách nhiệm
của mình phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án và phải
bổ sung) do cơ quan công an thực hiện, căn cứ vào quyết định thi hành án
hình sự của Toà án.
Riêng đối với hình phạt tiền (dù là hình phạt chính hay hình phạt bổ
sung) do cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành.
+ Điều 256 BLTTHS năm 2003 và Điều 21, Điều 22 Luật thi hành án
hình sự năm 2011 quy định: “Thủ tục đưa ra thi hành bản án và quyết định
của Toà án" thì thời hạn ra quyết định thi hành án là bảy ngày bao gồm cả
ngày làm việc và ngày nghỉ. Trường hợp ngày cuối cùng là ngày nghỉ cuối
tuần hoặc nghỉ lễ thì ngày làm việc tiếp theo của ngày đó là thời hạn cuối
cùng của thời hạn bảy ngày.
Ví dụ: Ngày cuối cùng của thời hạn là ngày thứ bảy thì ngày làm việc
tiếp theo của ngày thứ bảy là thứ hai và thứ hai là thời hạn cuối của thời hạn
bảy ngày. Thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là thời điểm kết
thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng
cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của ngày xác định. Ngày xác định là ngày
Toà án tuyên án hoặc ra quyết định trong trường hợp Viện kiểm sát, bị cáo,
đương sự có mặt tại phiên toà hoặc là ngày bản án, quyết định được giao hoặc
được niêm yết nếu xử vắng mặt.
Theo quy định tại các Điều 254 BLTTHS năm 2003 "Việc giao bản án
và quyết định phúc thẩm" thì trong thời hạn mười ngày kể từ ngày tuyên án
hoặc ngày ra quyết định thì Toà án cấp phúc thẩm phải gửi bản án hoặc quyết
16
định phúc thẩm cho người kháng nghị, Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan công
an nơi đã xử sơ thẩm, người đã kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến việc kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cơ
quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong trường hợp bản án phúc thẩm có
tuyên hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự… Trong thực tiễn,
các bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm thường gửi (giao) không
hành, nhưng cơ quan công an cùng cấp thông báo bằng văn bản cho Toà án
cùng cấp biết là người bị kết án đã chuyển đi nơi khác và có địa chỉ cụ thể.
Trường hợp thứ hai: TAND quận, huyện đã xét xử sơ thẩm vụ án có
căn cứ về việc người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác.
Như vậy, ở trường hợp thứ nhất thì TAND quận, huyện sẽ phải ra hai
quyết định, một là quyết định thi hành án và hai là quyết định uỷ thác thi hành
án. Vấn đề là khi Toà án ra quyết định uỷ thác thi hành án và quyết định này
chỉ ban hành sau khi Toà án đã ra quyết định thi hành án, đã gửi cho cơ quan
công an cùng cấp và nhận được thông báo bằng văn bản của cơ quan công an
cùng cấp cho Toà án biết là người bị kết án đã chuyển đi nơi khác và có địa
chỉ cụ thể. Trường hợp này sẽ phát sinh vấn đề là quyết định thi hành án của
Toà án cấp sơ thẩm đã ban hành nhưng không được thực hiện bởi Toà án sẽ
phải ra quyết định uỷ thác thi hành án và có thể hiểu là quyết định uỷ thác thi
hành án đã phủ định quyết định thi hành án trước đó, tức là quyết định thi
hành án này không còn hiệu lực thi hành. Cũng có quan điểm cho rằng trong
trường hợp này Toà án đã ra quyết định uỷ thác thi hành án gửi quyết định uỷ
thác và gửi cả quyết định thi hành án. Theo chúng tôi, Toà án ra quyết định uỷ
thác chỉ cần gửi quyết định uỷ thác thi hành án cùng với hai bản sao bản án,
quyết định phạt tù đã có hiệu lực pháp luật là đủ và đúng với hướng dẫn tại
mục 1 Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 30/6/1993 của TANDTC, Bộ
18
công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn thực hiện một số quy
định của Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993".
Ở trường hợp thứ hai: TAND quận, huyện đã xét xử sơ thẩm vụ án có
căn cứ về việc người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác.
Vấn đề đặt ra là: căn cứ về việc người bị kết án đang cư trú trên địa bàn
hành chính khác xuất hiện vào thời điểm nào, trước hay sau khi Toà án ra
quyết định thi hành án hình sự ? Về vấn đề này, trong điểm 2 mục I Nghị
nhưng không thực hiện. Cả hai trường hợp này đều dẫn tới người bị kết án
vẫn không có quyết định thi hành án và nếu không bị phát hiện thì họ đương
nhiên được hưởng thời hiệu thi hành án. Điều này có nghĩa là bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật không còn được thi hành. Chúng tôi cho rằng,
TANDTC cần có hướng dẫn, quy định cụ thể về vấn đề này. Theo chúng tôi,
nên có quy định cụ thể về việc giao nhận hồ sơ uỷ thác thi hành án. Chẳng
hạn, toà án đã uỷ thác phải gửi cùng hồ sơ uỷ thác phiếu gửi, toà án được uỷ
thác phải ký, đóng dấu vào phiếu gửi và gửi trả lại toà án đã uỷ thác như một
xác nhận đã nhận được hồ sơ uỷ thác thi hành án, phiếu gửi này được lưu tại
toà án đã uỷ thác để xác định đã gửi hồ sơ uỷ thác và toà án đã nhận uỷ thác
thi hành án. Cũng có thể quy định toà án được uỷ thác phải gửi cho toà án đã
uỷ thác quyết định thi hành án hoặc thông báo bằng văn bản cho toà án đã uỷ
thác và các tài liệu này được lưu tại toà án đã uỷ thác để quản lý, theo dõi chặt
chẽ việc uỷ thác thi hành án hình sự.
- Ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù
Hoãn thi hành án là thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối
với người phạm tội, bị phạt tù nhưng có một trong các tình tiết quy định tại
khoản 1 Điều 61 hoãn chấp hành hình phạt tù, BLHS năm 2009. Theo quy
20
định tại Điều 261 của BLHS năm 2003 và Điều 23 Luật thi hành án hình sự
năm 2010 quy định: hoãn chấp hành hình phạt tù là việc Toà án đã ra quyết
định thi hành án đối với người bị xử phạt tù đang được tại ngoại, nhưng xét
thấy có những căn cứ quy định tại Điều 61 BLHS năm 2009 hoặc xét thấy có
căn cứ khác để chưa buộc họ phải chấp hành hình phạt ngay.
+ Về thẩm quyền và thủ tục hoãn chấp hành hình phạt tù: Thẩm quyền
ban hành quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù thuộc Chánh án Toà án đã
ra quyết định thi hành án phạt tù. Ví dụ: Chánh án TAND quận A đã ra quyết
định thi hành án phạt tù có quyền ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù.