BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ VĂN ANH
CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ
MÃ SỐ: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN:
PGS.TS. HOÀNG THỊ MINH SƠN
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và
trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Văn Anh
Thẩm phán
TNHS
Trách nhiệm hình sự
TTHS
Tố tụng hình sự
THTT
Tiến hành tố tụng
TA
Tòa án
TAND
Toà án nhân dân
TANDTC
Toà án nhân dân tối cao
VAHS
Vụ án hình sự
1.2
Đối t
10
1.3
Chủ thể chứng minh và nghĩa vụ chứng minh
15
1.4
Quá trình chứng minh
21
Chƣơng 2: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LIÊN QUAN
30
ng chứng minh và gi i h n chứng minh
ĐẾN CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
2.1
Quy định về chủ thể chứng minh
30
54
3.2
Nguyên nhân của những h n chế bất cập
61
3.3
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả chứng minh
64
KẾT LUẬN
69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Vấn đề cải cách t pháp đang đ
Cải cách t pháp đ
c Đảng và Nhà n
thiếu thốn, l c hậu; Trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ
còn yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đ o đức và trách nhiệm nghề
nghiệp...Vì vậy, vẫn còn tình tr ng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét
xử. Các nghị quyết đó đã chỉ rõ nhiều vấn đề cụ thể của tố tụng hình sự cần phải đ
c
nghiên cứu một cách toàn diện để thể chế hóa vào quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự. Nh ng cải cách t pháp phải kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc, những thành
tựu đã đ t đ
c của nền t pháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Tiếp thu có chọn lọc
những kinh nghiệm của n
c ngoài phù h p v i hoàn cảnh n
động hội nhập quốc tế; Đáp ứng đ
c ta và yêu cầu chủ
c xu thế phát triển của xã hội trong t ơng lai [2].
Trong quá trình giải quyết VAHS, việc tìm ra chứng cứ và chứng minh đầy đủ
không chỉ đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đ
c đúng đắn mà còn rút ngắn đ
c
ng và ph m vi chứng minh
trong vụ án hình sự, nghĩa vụ chứng minh trong vụ án hình sự. Trong cuốn “Chứng cứ
trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” năm 2005 của tác giả Th.S. Nguyễn Văn Cừ và
cuốn “Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” năm 2011 của tác giả
TS. Trần Quang Tiệp có nội dung chủ yếu của lý luận chứng cứ trong TTHS Việt
Nam.
Luận án tiến sỹ về đề tài “Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều
tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay” năm 2000 của tác giả Đỗ Văn Đ ơng có nội
dung nghiên cứu là quá trình chứng minh trong giai đo n điều ta vụ án hình sự; “Quá
trình chứng minh trong vụ án hình sự ở nước ta” năm 2005 của tác giả Nguyễn Văn
Du có nội dung nghiên cứu là quá trình chứng minh vụ án hình sự.
Luận văn th c sỹ về đề tài "Đánh giá, sử dụng chứng cứ trong giai đoạn xét xử
vụ án hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" năm 2008 của tác giả Nguyễn Thị
Thuý Hà; "Thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự Việt Nam" năm 2011 của tác giả
Ph m Kim Hằng; "Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thu thập
chứng cứ" năm 2010 của tác giả Khúc Thị Hoàng H nh; "Thu thập, kiểm tra và đánh
giá chứng cứ từ lời khai của bị can, bị cáo" năm 2011 của tác giả Ph m Thị Xuân;
"Đối tượng chứng minh trong tố tụng hình sự" năm 2004 của tác giả Tô Hữu Thông.
Các luận văn đó đều có nội dung nghiên cứu chủ yếu về quá trình chứng minh vụ án
hình sự.
3
Một số t p chí có đề cập đến nội dung nghiên cứu nh “Hoàn thiện các quy định
về thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong tố tụng hình sự” của tác giả TS.
Hoàng Thị Minh Sơn đăng trên t p chí Luật học số 7/2008; “Đánh giá chứng cứ trong
tố tụng hình sự” của tác giả Bùi Kiên Điện đăng trên t p chí luật học số 6/1997; “Gi i
h n chứng minh trong vụ án hình sự” của tác giả Đỗ Văn Đ ơng đăng trên t p chí
- Nhiệm vụ: Để đ t đ
c mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu luận văn cần giải
quyết những vấn đề sau:
+ Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về chứng minh trong TTHS;
+ Nghiên cứu và so sánh những quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam và luật TTHS
của một số n
c trên thế gi i về chứng minh;
+ Đánh giá thực tr ng quy định của pháp luật về chứng minh và ho t động của các cơ
quan THTT hình sự ở Việt Nam liên quan đến chứng minh;
+ Xác định những bất cập trong quy định của pháp luật TTHS, h n chế trong thực tiễn
4
áp dụng và nguyên nhân của nó.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận, quy định của
luật TTHS và thực tr ng ho t động của các Cơ quan THTT hình sự ở Việt Nam liên
quan đến chứng minh.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về chứng minh trong TTHS một cách
tổng thể trong ph m vi chung của tất cả các giai đo n tố tụng: Điều tra, truy tố, xét xử
VAHS ở Việt Nam từ năm 2008 đến nay, chủ yếu tập trung trong ph m vi khoa học và
thực tiễn luật TTHS. Ngoài ra ở chừng mực nhất định có liên quan đến khoa học luật
hình sự, tội ph m học và khoa học điều tra hình sự. Nghiên cứu quy định của BLTTHS
Việt Nam, BLTTHS Liên bang Nga, BLTTHS Cộng hoà nhân dân Trung Hoa về
chứng minh. Đánh giá thực tr ng ho t động của các Cơ quan THTT hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm chứng cứ
Trong quá trình THTT, CQĐT, VKS và TA muốn làm sáng tỏ và có kết luận
chính xác về tội ph m và ng ời thực hiện hành vi ph m tội thì phải dựa vào chứng cứ.
Chứng cứ là ph ơng tiện để chứng minh tội ph m, ng ời thực hiện hành vi ph m tội.
Lịch sử pháp luật tố tụng hình sự tồn t i các quan điểm khác nhau về chứng cứ trong
TTHS.
Quan điểm về chứng cứ của trình tự tố tụng kiểu tố cáo rất đơn giản, kiểu tố
tụng này coi lời thú tội của bị cáo chứng cứ tốt nhất và là “Vua của các chứng cứ”. Kết
quả của án kiện phụ thuộc vào những chứng cứ nh quyết đấu, lời thề hoặc xét xử theo
ý trời. Trong đó quyết đấu và xét xử theo ý trời là chứng cứ đáng tin cậy hơn cả. Việc
quyết đấu tr
c tòa án và việc thử thách bằng lửa hoặc n
bị cáo. Kẻ nào tay bị chói chặt nhúng xuống n
tay vào n
c sẽ quyết định số phận của
c mà không bị chìm, kẻ nào khi nhúng
c sôi mà tay không bị th ơng thì sẽ là kẻ chiến thắng, kẻ nào thắng trong
cuộc quyết đấu thì kẻ đó không có tội và đ
c coi là phải [59]. Vì vậy, quan điểm về
chứng cứ của hình thức tố tụng này thể hiện sự tàn b o và mang tính chất mê tín, việc
thu thập chứng cứ theo hình thức này không đảm bảo tính khách quan trong việc
chứng minh vụ án hình sự.
VAHS, nh ng nó cũng bộc lộ nhiều h n chế là không bảo đảm tính khách quan của
chứng cứ. Quan điểm hình thức về chứng cứ phát triển và ảnh h ởng đến hầu hết các
n
c châu Âu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII. Ngày nay, luật chứng cứ Anh – Mỹ
6
ng ời ta đặc biệt quan tâm đến tính hình thức và tính h p pháp của chứng cứ nên họ
xem luật chứng cứ là: Tổng h p các quy ph m điều chỉnh về tính h p pháp của chứng
cứ [19].
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin về chân lý và con đ ờng nhận thức
chân lý, con ng ời có khả năng nhận thức các quy luật, hiện t
ng của thế gi i khách
quan và tìm ra chân lý. Quá trình nhận thức của con ng ời từ trực quan sinh động đến
t duy trừu t
ng, từ ch a biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện t
chất. Về nguyên tắc, không có sự vật, hiện t
chỉ có sự vật, hiện t
ng ch a đ
ng đến bản
ng nào là không thể nhận thức đ
giai đo n này hầu hết các n
c trên thế gi i đều ghi nhận chức năng điều tra thuộc về
CQĐT mà trực tiếp là ĐTV. Theo truyền thống pháp luật n
c ta, chức năng thu thập
chứng cứ ở giai đo n này thuộc về CQĐT trực tiếp là ĐTV, VKS trực tiếp là KSV và
một số chủ thể khác đ
c giao nhiệm vụ tiến hành điều tra trong những tr ờng h p
quy định t i Điều 111 BLTTHS. Ở các n
c theo truyền thống án lệ thì song song v i
việc điều tra của ĐTV, Luật s cũng có quyền thu thập chứng cứ tiến hành điều tra
thực hiện chức năng gỡ tội cho bị can, bị cáo. Nh vậy, ph m vi chủ thể thu thập
chứng cứ không chỉ là ĐTV mà còn có cả KSV và Luật s . Ở giai đo n này thu thập
chứng cứ là để xây dựng, thiết lập hồ sơ vụ án; Ở giai đo n truy tố, việc thu thập
chứng cứ mang tính chất bổ sung, có thể là tự KSV điều tra hoặc quyết định trả hồ sơ
cho CQĐT điều tra. Trong tr ờng h p hồ sơ trả l i cho CQĐT thì do ĐTV thực hiện
điều tra trong thời h n luật định mà không phụ thuộc vào thời gian truy tố. Vì vậy, chủ
thể thu thập chứng cứ trong giai đo n truy tố là KSV; Ở giai đo n xét xử, có thể phân
thành giai đo n thụ lý hồ sơ và giai đo n mở phiên tòa. Ở giai đo n thụ lý hồ sơ do
VKS chuyển sang cùng v i bản cáo tr ng, chủ thể giải quyết vụ án là TP đ
c phân
c
c thu thập trong hồ sơ vụ án. Trong qua trình xét hỏi
HĐXX có thể yêu cầu các bên tham gia cung cấp chứng cứ m i. T i phiên tòa, KSV,
Luật s và những ng ời tham gia tố tụng cũng có quyền hỏi những ng ời tham gia tố
tụng khác về vụ án, nh ng đây không đ
c xem là việc thu thập chứng cứ m i mà chỉ
có thể là việc phát hiện chứng cứ m i còn việc kiểm tra, thu giữ ghi nhận và bảo quản
là do HĐXX quyết định. Nh vậy, việc thu thập chứng cứ ở giai đo n xét xử thực chất
là thu thập chứng cứ t i phiên tòa đ
c thực hiện bởi HĐXX.
Qua phân tích chúng ta có thể đ a ra khái niệm chứng cứ trong TTHS nh
sau: Chứng cứ là những có thật đ
c thu thập theo quy định của Luật tố tụng hình sự
mà cơ quan và ng ời có thẩm quyền dùng làm căn cứ để xác định có hay không có
hành vi ph m tội, ng ời thực hiện hành vi ph m tội cũng nh các tình tiết khác cần
thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.
1.1.2. Khái niệm chứng minh
Chứng minh là một hình thức tồn t i cơ bản của t duy, đồng thời cũng là thao
tác t duy cơ bản, trong đó để chứng minh tính đúng của một luận điểm bất kỳ, ng ời
ta phải dựa vào các luận điểm đúng khác và chúng có mối liên hệ hữu cơ v i luận
điểm cần chứng minh. Ho t động chứng minh của con ng ời đ
c các diễn biến khách quan của vụ án, không có tội ph m nào l i
không thể phát hiện, chỉ có điều con ng ời có vận dụng đúng các quy luật khách quan
để chứng minh hay không thôi. Trong thực tế có nhiều vụ án xảy ra gây thiệt h i cho
xã hội nh ng không truy tìm đ
ng ời không thể nhận thức đ
c kẻ ph m tội, nh ng đây không phải là điều con
c mà đây là h n chế nhận thức của từng cá nhân hoặc
do có sự khó khăn chung nhất định.
Chứng minh thực chất là một quá trình nhận thức, mà nhận thức phải có chủ thể
nhận thức (nghĩa là ai nhận thức?) và khách thể nhận thức (nghĩa là nhận thức cái gì?).
Những chủ thể đ
c Nhà n
c trao cho quyền đ
c thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử
dụng chứng cứ để giải quyết VAHS, họ không phải là ng ời chứng kiến những gì đã
xảy ra nh ng họ l i là ng ời phải có nghĩa vụ nhận thức nó để giải quyết vụ án. Vì
vậy, trong một VAHS, việc tìm ra sự thật thực chất là khôi phục l i, t o dựng l i
những gì đã xảy ra trong quá khứ để chứng minh những tình tiết liên quan đến vụ án.
Trong thực tế, những chủ thể đó có thể là ng ời chứng kiến những tình tiết liên quan
đến vụ án nên về mặt pháp lý thì họ l i bị Nhà n
ng chứng
minh cũng đặc biệt quan trọng. Nếu không xác định đ
c đối t
ho t động điều tra, truy tố và xét xử sẽ mất ph ơng h
ng, điều này là rất mất công
ng chứng minh thì
sức và tốn kém về tiền b c, điều quan trọng hơn là bỏ lọt những tình tiết mang tính
chất quyết định đến việc giải quyết vụ án. Ho t động chứng minh trong TTHS chính là
quá trình nhận thức làm sáng tỏ nội dung của vụ án và các tình tiết có liên quan đến vụ
án. Suy cho cùng mục đích của ho t động chứng minh trong TTHS là để phục vụ cho
việc giải quyết đúng đắn VAHS.
Đối t
ng chứng minh đ
c khoa học luật TTHS của hầu hết các quốc gia
trên thế gi i coi là một trong những nội dung cơ bản của pháp luật về chứng cứ. Có
quốc gia quy định đối t
ng chứng minh trong một điều luật cụ thể của BLTTHS
(Nh BLTTHS Liên Bang Nga Điều 73). Có quốc gia không có quy ph m độc lập để
- Dấu hiệu khách thể của tội ph m.
- Dấu hiệu hành vi thuộc yếu tố mặt khách quan của tội ph m.
- Dấu hiệu lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội ph m.
- Dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi thuộc yếu tố chủ thể của tội ph m.
Ngoài những dấu hiệu bắt buộc phải có trong tất cả các cấu thành tội ph m nói
trên, những dấu hiệu khác tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc của tất cả các cấu thành
tội ph m, nh ng có thể là những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội ph m cụ thể, vì
11
vậy chúng có thể là những vấn đề phải chứng minh trong VAHS. Ví dụ: Đối v i tội
trộm cắp tài sản, biểu hiện của ng ời ph m tội cần phải chứng minh dứt khoát phải là
hành vi lén lút; Trong vụ án mà ng ời ph m tội m i có hành vi chuẩn bị ph m một tội
rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng thì bị phát hiện, xử lý. Nh vậy,
trong vụ án này rõ ràng là hậu quả của tội ph m ch a xảy ra nên không phải chứng
minh nó.
Luật TTHS Việt Nam quy định phải chứng minh t i Điều 63: Có hành vi ph m
tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi ph m tội;
Ai là ng ời thực hiện hành vi ph m tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; Có
năng lực TNHS hay không; Mục đích, động cơ ph m tội; Những tiết tăng nặng, giảm
nhẹ TNHS của bị can, bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt h i do hành vi ph m tội gây
ra. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào tính chất, hoàn cảnh của từng vụ án cụ thể mà có thể có
những vấn đề không cần phải chứng minh vì nó rõ ràng là đã không xảy ra trong vụ án
đó. Mặt khác, trong luật TTHS còn quy định phải chứng minh các tình tiết khác có liên
quan đến việc giải quyết vụ án, mà những tình tiết này có thể chỉ phải chứng minh
trong vụ án cụ thể nào đó chứ không phải chứng minh trong bất kỳ vụ án nào. Hoặc có
những tình tiết, vấn đề chỉ phải chứng minh khi phát sinh những ho t động tố tụng có
liên quan.
Trong VAHS, những vấn đề phải chứng minh có vị trí, vai trò khác nhau. Vì
vậy, phân lo i những vấn đề phải chứng minh thành các nhóm khác nhau theo một trật
Liên Bang Nga chia chủ thể tham gia tố tụng thành hai nhóm chính: - Các chủ thể
tham gia tố tụng thuộc bên buộc tội - Các chủ thể tham gia tố tụng thuộc bên bào chữa.
Ngoài ra còn có các chủ thể khác tham gia tố tụng nh ng ời làm chứng, ng ời giám
định, nhà chuyên môn, ng ời phiên dịch, ng ời chứng kiến.
Về khái niệm đối t
ng chứng minh đã có nhiều tác giả đề cập nh :
Có những tác giả đề cập trong khái niệm cụm từ “...tổng h p những tình tiết...”
hoặc “...tất cả những tình tiết...” nh : Đối t
ng chứng minh trong vụ án hình sự là
tổng h p những tình tiết nói nên bản chất, nội dung vụ án hình sự cần phải xác định
bằng chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự và phòng ngừa tội ph m [19,
tr19]; Hay đối t
ng chứng minh là tất cả những tình tiết phải đ
c xác định đảm bảo
cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án hình sự [50, tr162].
Theo Đ i từ điển tiếng Việt, tình tiết có nghĩa là “Sự việc nhỏ trong qua trình
diễn biến của sự kiện, tâm tr ng” [14, tr963]. Nh vậy, theo khái niệm trên thì tổng
h p những tình tiết hoặc tất cả những tình tiết thì khó có thể nói nên những vấn đề
phải chứng minh thuộc về bản chất vụ án đ
c, nên những tình tiết đó dù có thu thập
nhiều nh thế nào nữa thì cũng khó mà giải quyết đúng đắn vụ án hình sự đ
những sự kiện và tình tiết của vụ án phải đ
ng chứng minh trong VAHS là tổng h p
c xác định bằng chứng cứ để vụ án đ
c
giải quyết đúng đắn [47, tr83]. Về mặt ngôn ngữ, sự kiện có nghĩa là “Sự việc có ý
nghĩa ít nhiều quan trọng đã xảy ra” [14, tr846], còn tình tiết có nghĩa là sự việc nhỏ
trong qua trình diễn biến của sự kiện, tâm tr ng. Do vậy, chúng tôi đồng tình v i quan
điểm này, vì khái niệm trên đã bao hàm nội dung cần phải chứng minh thuộc về bản
chất vụ án và nội dung cần chứng minh không thuộc bản chất của vụ án.
1.2.2. Giới hạn chứng minh trong TTHS
Hiện nay có một số quan điểm đề cập đến gi i h n và ph m vi chứng minh.
Có tác giả phân biệt đối t
ng, ph m vi và gi i h n chứng minh: Đối t
ng chứng
minh trong VAHS là tổng h p những vấn đề phải chứng minh do luật định, ph m vi
chứng minh điều chỉnh việc xác định những tình tiết cần chứng minh, còn gi i h n
chứng minh điều chỉnh việc xác định mức chứng cứ cần và đủ để làm sáng tỏ những
tình tiết đã đ
t
c xác định trong ph m vi chứng minh. Theo quan điểm này, nếu đối
ng chứng minh là những tình tiết do luật định nói lên mục đích mà ho t động chứng
l
ng chứng cứ cần và đủ để giải quyết vụ án.
14
Các quan điểm nêu trên đều chung quan điểm về gi i h n chứng minh là xác
định ở mức độ cần và đủ số l
ng chứng cứ để giải quyết VAHS. Nh vậy, xác định
gi i h n chứng minh trong VAHS chính là xác định ranh gi i của việc thu thập chứng
cứ và nghiên cứu chúng ở mức độ đủ để giải quyết đúng đắn vụ án. Nói đến tính cần
và đủ của chứng cứ để chứng minh VAHS có nghĩa là các chủ thể có thẩm quyền giải
quyết vụ án phải đáp ứng các yêu cầu sau: " Đã nghiên cứu, đánh giá tất cả các chứng
cứ, các tình tiết thuộc ph m vi đối t
ng chứng minh, cũng nh những tình tiết cần
thiết cho việc giải quyết những khâu tố tụng trung gian; Đã xác định đ
c mức độ tin
cậy của tất cả các chứng cứ dùng làm cơ sở cho kết luận đối v i toàn bộ vụ án hay đối
v i từng việc cụ thể trong vụ án; Đã khẳng định đ
mình, phủ nhận những giả thuyết nêu lên tr
c sự đúng đắn trong kết luận của
c đây trái v i kết luận đó, đã làm sáng tỏ
1.3. Chủ thể chứng minh và nghĩa vụ chứng minh
1.3.1. Chủ thể chứng minh
Chủ thể chứng minh trong tố tụng hình sự ở các mô hình tố tụng khác nhau
cũng có sự khác nhau nhất định.
Trong tố tụng tranh tụng, TA giữ vai trò thụ động, trung lập. Tố tụng tranh
tụng đòi hỏi TA phải kiềm chế tham gia tìm hiểu về nội dung vụ án cho t i khi các bên
đã trình bày hết các chứng cứ. Nếu TA tham gia tích cực vào vụ án, nhất là việc xét
hỏi t i phiên tòa, công chúng sẽ cho rằng TA là một bên tranh chấp và nh vậy sẽ
không bảo đảm công lý [43]. TP và bồi thẩm đoàn có vai trò trọng tài đứng giữa bên
buộc tội và bên gỡ tội; Công tố viên là bên buộc tội, Luật s là bên gỡ tội, việc tham
gia của Luật s vào phiên tòa là bắt buộc. Tranh luận giữa Luật s và công tố viên là
ho t động chủ yếu, trọng tâm của phiên tòa. V i vai trò là trọng tài, TP và bồi thẩm
đoàn không đ
c nghiên cứu tr
c hồ sơ vụ án. Chứng cứ để chứng minh quan điểm
của bên buộc tội và bên gỡ tội do các bên tự thu thập theo quyền luật định của họ. Để
tránh thái độ phiến diện về các tình tiết của vụ án, qua việc tranh tụng t i phiên tòa của
các bên, TP và bồi thẩm đoàn có thể chấp nhận hay không chấp nhận chứng cứ và lý lẽ
các bên đ a ra và cuối cùng bằng niềm tin nội tâm của mình đ a ra phán quyết dựa
trên chứng cứ và lý lẽ t i phiên tòa. T i phiên tòa, các bên còn có quyền yêu cầu triệu
tập thêm ng ời làm chứng, thu thập chứng cứ m i để chứng minh những vấn đề m i
phát sinh t i tòa. Theo TS. Vũ Gia Lâm: " Ng ời chi phối quá trình tranh tụng là Công
tố viên và Luật s bào chữa, các bên tham gia tranh tụng thực chất không đi chứng
minh sự thật của vụ án mà chỉ chứng minh có tính đúng đắn của quan điểm buộc tội
hay gỡ tội mà thôi" [32]. Mô hình tố tụng này đảm bảo tính công bằng cao, đặc biệt là
t i phiên tòa xét xử thể hiện vị trí ngang bằng và vai trò bình đẳng giữa bên buộc tội và
Luật s ...Tuy nhiên, mô hình tố tụng này có nh
c thực hiện bằng văn bản và bằng
sự xét hỏi (biên bản lấy lời khai của ng ời bị tình nghi, biên bản hỏi cung bị can...).
Mô hình tố tụng này có những u điểm nh : Có nhiều thuận l i để xác định sự thật của
vụ án vì ho t động chứng minh tội ph m, ng ời ph m tội là trách nhiệm của Nhà
n
c; Thủ tục tố tụng không thiên về bên buộc tội hay bên gỡ tội nh trong tố tụng
tranh tụng, nên tránh đ
c xu h
ng các bên buộc tội hay bên gỡ tội che dấu sự thật để
đ t mục đích riêng của mình; Phiên tòa diễn ra nhanh gọn nên ít tốn kém. Nh ng mô
hình tố tụng xét hỏi cũng chứa đựng những h n chế nhất định nh : Th ờng thiên về
h
ng sử dụng quyền lực Nhà n
c để tìm ra sự thật của vụ án nên khó tránh đ
c
những nghi ngờ về tính khách quan, vô t của những ng ời thực thi công lý.
Mô hình tố tụng pha trộn là hình thức tố tụng hỗn h p giữa tố tụng thẩm vấn
trong giai đo n tr
c khi xét xử và tố tụng tranh tụng t i phiên tòa. Nhìn từ góc độ
bị h i, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ng ời có quyền l i và nghĩa vụ liên quan
cũng là những chủ thể có quyền chứng minh. Họ có quyền đ a ra các tài liệu , đồ vật,
yêu cầu để bảo vệ quyền l i cho mình. Ng ời bào chữa, ng ời bảo vệ quyền l i của
đ ơng sự tham gia chứng minh những tình tiết liên quan đến việc bào chữa cho bị can,
bị cáo hoặc liên quan đến việc bảo vệ quyền l i cho đ ơng sự tức là chứng minh
những tình tiết có l i cho bị can, bị cáo hoặc đ ơng sự.
Ngoài ra, trong TTHS còn có sự tham gia của ng ời làm chứng, ng ời phiên
dịch và đôi khi còn có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức xã hội, cá nhân khác. Sự
tham gia của những ng ời này nhằm cung cấp những tài liệu, chứng cứ phục vụ cho
quá trình chứng minh. Những ng ời này không phải chủ thể chứng minh bởi vì họ
không có mục đích trực tiếp nhằm chứng minh nội dung vụ án và các tình tiết liên
quan đến vụ án. Họ cũng chỉ tham gia tố tụng khi đ
c các cơ quan tiến hành tố tụng
yêu cầu.
Khác v i các n
c, BLTTHS của n
c ta căn cứ vào vai trò của các chủ thể
đối v i ho t động tố tụng để phân các chủ thể thanh hai nhóm: - Chủ thể tiến hành tố
tụng: Cơ quan điều tra (ĐTV), Viện kiểm sát (KSV), Tòa án (TP, hội thẩm và th ký
tòa án) - Chủ thể tham gia tố tụng: Ng ời bị t m giữ, bị can, bị cáo, ng ời bào chữa,
ng ời bị h i, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ng ời có quyền l i và nghĩa vụ liên
quan đến vụ án, ng ời làm chứng, ng ời bảo vệ quyền l i cho đ ơng sự, ng ời giám
định, ng ời phiên dịch.
Theo TS. Nguyễn Đức Mai việc phân lo i các chủ thể trong BLTTHS sự của
n
thuộc bên buộc tội là chủ thể thực hiện chức năng chứng minh tội ph m, ng ời ph m
tội; Nhóm thuộc bên bào chữa là chủ thể thực hiện chức năng chứng minh gỡ tội cho
chính bản thân họ hoặc cho ng ời đ
c họ bảo vệ. Trong tr ờng h p này Tòa án giữ
vai trò trọng tài nh mô hình tố tụng tranh tụng.
Tuy nhiên, theo chúng tôi việc phân chia nh vậy cũng không thực sự cần
thiết, bởi lẽ: Thứ nhất, thực tế trong quá trình xét xử vụ án, TA chỉ dựa vào chứng cứ
do CQĐT cung cấp có trong hồ sơ vụ án, vì dù xét xử sơ thẩm hay phúc thẩm các
HĐXX phần l n và chủ yếu vẫn phải dựa vào những tài liệu do CQĐT thu thập, xây
dựng, tập h p trong hồ sơ vụ án...chất l
ng xét xử phụ thuộc rất l n vào kết quả xây
dựng hồ sơ của CQĐT [36]. Mặc dù TA không trực tiếp thu thập chứng cứ về mặt thực
tế, nh ng TA là chủ thể đánh giá và sử dụng chứng cứ để giải quyết vụ án, họ có thể
đ a ra các quyết định nh : Đ a vụ án ra xét xử; Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Đình
chỉ hoặc t m đình chỉ vụ án. Mặt khác, trong tr ờng h p xét xử vụ án t i phiên tòa nếu
phát sinh những tình tiết m i (Có thể là những thông tin, tài liệu chứng cứ m i do các
bên tham gia tố tụng cung cấp) HĐXX vừa thu thập đ
c và đ
c thảo luận đánh giá
sẽ ra một trong các quyết định nh trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc t m
đình chỉ vụ án...Thứ hai, cách phân chia chủ thể tham gia TTHS thành chủ thể tiến
hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng thể hiện đ
những chủ thể tham gia chứng minh là quyền của họ nên họ có thể thực hiện quyền đó
hoặc không thực hiện quyền đó. Ng
c l i có những chủ thể Luật TTHS quy định họ
có nghĩa vụ phải chứng minh, tức là họ bắt buộc phải tham gia vào ho t động chứng
minh. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào từng giai đo n lịch sử, tuỳ thuộc vào trình tự tố tụng
đ
c tiến hành theo các kiểu khác nhau hoặc cơ sở, ph ơng pháp luận dựa trên các
học thuyết khác nhau nên luật tố tụng hình sự ở các n
c khác nhau, ở các giai đo n
lịch sử khác nhau quy định về chủ thể có nghĩa vụ chứng minh có sự khác nhau. Nghĩa
vụ chứng minh VAHS đã đ
c đề cập từ lâu trong lịch sử luật TTHS của các n
c
trên thế gi i.
Ngay từ thế kỷ thứ III tr
c công nguyên v i hình thức tố tụng kiểu tố cáo,
Luật La Mã quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về ng ời tố cáo. Ngoài việc tố cáo,
ng ời tố cáo còn đ a ra những chứng cứ liên quan đến việc tố cáo ấy, vì vậy lời tố cáo
của một ng ời nào đó về tội ph m vừa là căn cứ xuất hiện trình tự để giải quyết vụ án,
i sự chỉ đ o trực tiếp của công tố viên (Cộng hòa Pháp), hoặc độc lập không chịu
ràng buộc của công tố viên (v ơng quốc Anh) [19]. Tuy nhiên, ở các n
c t bản Luật
s cũng có quyền thu thập chứng cứ, trách nhiệm của Luật s là tìm kiếm, thu thập
những bằng chứng ngo i ph m, những chứng cứ giảm nhẹ TNHS cho bị can, bị cáo và
chuẩn bị thẩm tra nhân chứng tr
c toà. Một số n
c theo tr ờng phái án lệ, luật pháp
quy định bị can không có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, trong khi hỏi cung bị can có
quyền trả lời hoặc im lặng.
Trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, nghĩa vụ chứng minh trong giai
đo n điều tra VAHS còn có hai quan điểm khác nhau: - Quan điểm thứ nhất cho rằng:
Trách nhiệm này là trách nhiệm buộc tội nên chủ thể là VKS v i t cách là cơ quan
thực hành quyền công tố - Quan điểm thứ hai cho rằng: Nghĩa vụ chứng minh là nghĩa
vụ bảo vệ quan điểm do mình đ a ra, nghĩa vụ t o điều kiện cho việc xác định chân lý
vụ án nên nghĩa vụ không chỉ thuộc về CQĐT, VKS mà còn cả những ng ời tham gia
tố tụng nữa.
Quan hệ tố tụng trong việc truy cứu TNHS thực chất là quan hệ giữa một bên
là Nhà n
c và một bên là công dân. Khi tội ph m đ
c thực hiện, Nhà n
c trao thẩm quyền thu
thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ để chứng minh hành vi ph m tội và
ng ời ph m tội tr
c pháp luật. Những chủ thể khác nh ng ời bị t m giữ, bị can, bị
cáo, ng ời bị h i, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ng ời có quyền l i và nghĩa vụ
liên quan, ng ời bào chữa, ng ời bảo vệ quyền l i của đ ơng sự có quyền đ a ra
những tài liệu, đồ vật, yêu cầu để bảo vệ quyền l i cho mình hoặc bảo vệ cho ng ời họ
đ i diện nh ng họ không buộc phải có nghĩa vụ chứng minh.
1.4. Q a trình chứng minh
Có nhiều cách phân chia quá trình chứng minh thành các giai đo n khác nhau. Có
quan điểm xác định quá trình chứng minh đ
c chia làm ba giai đo n: “Thu thập chứng
cứ, kiểm tra chứng cứ, đánh giá chứng cứ” [53]. Có ý kiến khác cho rằng quá trình
chứng minh vụ án hình sự đ
c chia thành ba khâu: “Phát hiện, thu thập, củng cố và
bảo vệ chứng cứ; kiểm tra, xác minh chứng cứ; đánh giá chứng cứ” [46].
Quá trình chứng minh VAHS xét về bản chất là quá trình nhận thức về VAHS
thông qua các chứng cứ đ c diễn ra liên tục, kế tiếp, xen kẽ trong các ho t động TTHS. Vì
vậy, việc phân chia các quá trình chứng minh thành các giai đo n chỉ mang tính t ơng đối.
Có thể chia quá trình chứng minh VAHS thành các b
và sử dụng chứng cứ.
1.4.1. Thu thập chứng cứ