Pháp luật về quản trị công ty niêm yết ở việt nam hiện nay thực trạng và phương hướng hoàn thiện - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỖ THỊ VÂN NHUNG

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ
PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM THỊ GIANG THU

HÀ NỘI - 2012


i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các kết luận khoa học nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính
xác, tin cậy và trung thực.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

quan đến công ty...............................................................................................40
1.2.2.5. Công bố thông tin và minh bạch............................................................43
1.2.2.6. Chế độ báo cáo, giám sát và xử lý vi phạm ............................................45
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .........................................................................................46
CHƢƠNG 2 ..............................................................................................................48
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT VÀ MỘT
SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ...................................................................................48


iii

2.1. THỰC THI PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT THÔNG QUA
VIỆC NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TÌNH HUỐNG CỤ THỂ ......................................48
2.1.1. Tổng CTCP xuất nhập khẩu và xây dựng Việt nam (Công ty VINACONEX)
– mã chứng khoán: VCG [15]...............................................................................48
2.1.2. CTCP Bông Bạch Tuyết – Mã chứng khoán: BBT [11], [14], [20], [29].......50
2.1.3. CTCP Dầu thực vật Tƣờng An - Mã chứng khoán: TAC [27], [28] ..............52
2.2. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT
...............................................................................................................................55
2.2.1. Tình hình thực hiện các nguyên tắc Quản trị công ty niêm yết......................55
2.2.1.1. Kết quả đánh giá dữ liệu năm 2010 về QTCT........................................55
2.2.1.2 . So sánh hoạt động QTCT của năm 2009 và 2010 .................................57
2.2.1.3. Mức độ quan trọng của mỗi lĩnh vực QTCT và so sánh qua từng năm ...58
2.2.2. Một số ý kiến pháp lý về hạn chế của pháp luật hiện hành............................59
2.2.2.1. Đảm bảo quyền lợi của cổ đông nói chung, cổ đông thiểu số nói riêng còn
kém hiệu quả ....................................................................................................59
2.2.2.2. Hoạt động CBTT chƣa đƣợc tuân thủ....................................................60
2.2.2.3. Chƣa kiểm soát đƣợc các giao dịch của công ty với các bên có liên quan
.........................................................................................................................62
2.2.2.4. Kiểm soát nội bộ còn hình thức và kém hiệu quả ...................................63

GĐ công ty .......................................................................................................73
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .........................................................................................73
KẾT LUẬN ..............................................................................................................74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................76


v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BKS

Ban kiểm soát

BCTC

Báo cáo tài chính

CBTT

Công bố thông tin



Cổ đông

CTCP

Công ty cổ phần


Quản trị công ty

SGDCK

Sở Giao dịch chứng khoán

TTCK

Thị trƣờng chứng khoán

TTGDCK

Trung tâm Giao dịch chứng khoán

UBCKNN

Uỷ ban Chứng khoán Nhà nƣớc

WB

Ngân hàng Thế giới


vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Hình 1.1: Các nguyên tắc QTCT của OECD................................................................ 17
Hình 1.2: Cơ cấu tổ chức nội bộ của Công ty niêm yết .................................................24
Biểu đồ 2.1: Kết quả đánh giá chung ...........................................................................56

phần vào việc tăng cƣờng đầu tƣ và phát triển bền vững.
Nâng cao hoạt động QTCT đồng nghĩa với việc góp phần vào sự phát triển ổn định,
bền vững do cải thiện đƣợc hoạt động và nâng cao khả năng tiếp cận đƣợc các nguồn
vốn bên ngoài của các công ty đó. Ngƣợc lại, một khuôn khổ QTCT yếu kém sẽ làm
giảm độ tin tƣởng của các nhà đầu tƣ, không đón nhận đƣợc nguồn vốn đầu tƣ từ bên


2

ngoài, giảm giá trị kinh tế của công ty và có thể dẫn tới các nguy cơ bị phá sản hoặc thôn
tính, sáp nhập công ty, điều này làm tăng rủi ro đối với hệ thống kinh tế của quốc gia.
Nhƣ vậy, việc hoàn thiện và tăng cƣờng hệ thống QTCT đóng vai trò vô cùng quan
trọng. QTCT tốt giảm thiểu khả năng tổn thƣơng đối với nền kinh tế trƣớc các cuộc
khủng hoảng tài chính, phục vụ cho việc hoạch định tốt các chính sách công của Đảng và
Nhà nƣớc. Đối với nhà đầu tƣ, QTCT góp phần củng cố quyền sở hữu, giảm thiểu các
chi phí giao dịch, chi phí vốn và đồng nghĩa với việc đầu tƣ có hiệu quả.
Quản trị công ty (Corporate Governance) đã trở thành vấn đề cơ bản trong lĩnh vực
Luật công ty và Luật chứng khoán ở nhiều nƣớc trên thế giới. Vấn đề QTCT đƣợc đặc
biệt coi trọng kể từ khi thế giới chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính tại Châu Á năm
1997 và sự sụp đổ của hàng loạt các công ty niêm yết (CTNY) tại hàng loạt các nƣớc
phát triển nhƣ Enron, Tyco, Adelphia và WorldCom (Mỹ); HIH và One. Tel (Úc) ...
QTCT không chỉ thu hút sự quan tâm và chú ý của các nƣớc, mà còn nhận đƣợc sự quan
tâm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB), Chƣơng trình phát triển Liên Hợp Quốc
(UNDP) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).
Tổ chức các nƣớc phát triển (Group of Seven-G7) còn ban hành Bộ nguyên tắc/Điều
lệ tốt nhất về QTCT và kế toán. Quản trị công ty “hiệu quả” ( “good” corporate
governance) đƣợc coi nhƣ nhân tố cơ bản cho phát triển kinh tế và đổi mới. QTCT đang
trở thành một mục tiêu tại tất cả các nƣớc phát triển và đang phát triển trên thế giới.
QTCT đã đƣợc cộng đồng tài chính quốc tế công nhận là một trong 12 tiêu chuẩn cơ
bản tốt nhất trong thực tiễn. WB là tổ chức đánh giá việc áp dụng các tiêu chuẩn của

.... Điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà một trong các nguyên nhân chính là
khung pháp lý về quản trị đƣợc ban hành và tuân thủ chƣa đầy đủ làm cơ sở để bảo vệ
quyền lợi cho các CĐ/nhà đầu tƣ và ngăn ngừa các xung đột lợi ích một cách hiệu quả.
Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục nghiên cứu về pháp luật về quản trị CTNY ở
nƣớc ta hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế QTCT ở
nƣớc ta hiện nay. Đây cũng chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài: "Pháp luật về quản trị
công ty niêm yết ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng và phƣơng hƣớng hoàn thiện" là đề
tài Luận văn thạc sỹ của mình.


4

2. Tình hình nghiên cứu
Trên thế giới, những lý thuyết pháp lý về quản trị công ty cổ phần (CTCP) hiện
đại đã xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ trƣớc đƣợc đánh dấu bằng các công trình
nghiên cứu mang tính kinh điển của Berler và Means. Những lý thuyết quan trọng về sự
phân chia quyền lực trong công ty hiện đại đã xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ
trƣớc, mà đặc biệt là trong nghiên cứu. Các học giả về luật công ty hiện đại quan tâm đến
sự phân tách giữa sở hữu và quản trị (the separation of ownership and control), đặc biệt
trong các CTCP có nhiều CĐ, nhất là các CTNY (listed firms), nơi mà các CĐ chỉ quan
tâm đến giá trị cổ phiếu trên thị trƣờng, cùng với một quyền rất quan trọng là lựa chọn
các nhà quản trị mang lại giá trị cao nhất có thể cho cổ phần của họ. Cũng từ đó, các lý
thuyết về đại diện (agency theory) đã xuất hiện để lý giải mối quan hệ giữa các CĐ và
các nhà quản trị, ngƣời ta bàn nhiều về bản chất mối quan hệ giữa CĐ với ngƣời quản lý
công ty, việc làm thế nào để hạn chế các hành vi tƣ lợi của ngƣời quản lý và bảo vệ lợi
ích cho nhà đầu tƣ. Những lý thuyết về khung pháp luật về QTCT gắn liền với các ý
niệm về phân chia quyền lực, về đại diện, và mục đích của QTCT tốt (good corporate
governance).
Phù hợp với xu hƣớng tất yếu của thời đại, các lý thuyết về QTCT và khung pháp
lý về quản trị CTCP cũng đƣợc du nhập và giới thiệu tại Việt Nam trong những năm đầu

các nguyên tắc quản trị CTNY.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung chủ yếu vào các những nội dung
quản trị CTNY từ khi Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Chứng khoán năm 2006, Điều
lệ mẫu và Quy chế Quản trị CTNY có hiệu lực pháp luật trên cơ sở nghiên cứu mô hình
QTCT ở Việt Nam và các nƣớc trên thế giới.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài của Luận văn đƣợc nghiên cứu trên cơ sở vận dụng những quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nƣớc và pháp luật, đƣờng lối, quan điểm, định hƣớng của
Đảng và Nhà nƣớc ta về xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trƣờng trong bối cảnh hội
nhập.
Phƣơng pháp luận nghiên cứu đƣợc sử dụng trong Luận văn là phép biện chứng
duy vật để nhìn nhận, đánh giá về lý thuyết của QTCT, pháp luật về quản trị CTNY
trong nền kinh tế thị trƣờng.


6

Bên cạnh đó, Luận văn cũng sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu: so sánh,
phân tích, tổng hợp, thống kê một cách thích hợp để triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu
của Luận văn.
5. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và
pháp luật về quản trị CTNY, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quản trị CTNY
để từ đó đề xuất các phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị CTNY ở
nƣớc ta hiện nay.
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu nói trên, Luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quản trị CTNY và pháp luật
về quản trị CTNY;
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về quản trị CTNY và thực
tiễn thực thi pháp luật về quản trị CTNY ở nƣớc ta hiện nay;

khi hình thức sở hữu hiện vật chuyển thành hình thức sở hữu cổ phần, còn các nhà quản
trị chuyên nghiệp thay thế cho các kiểu quản trị gia đình [38].
Ngày nay, thuật ngữ “corporate governance” đƣợc biết đến nhƣ một trào lƣu
nghiên cứu mới trong kinh tế học và luật học nhằm giải quyết một cách có hệ thống các
vấn đề pháp lý, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty. Bởi vậy, nó cũng đồng thời
là một chủ đề nghiên cứu quan trọng của trƣờng phái kinh tế-luật trong những năm gần
đây [19].
Về mặt ngôn ngữ, quản trị (governance), là một thuật ngữ đến từ ngôn ngữ La
tinh “gubernare” và “gubernator” với nghĩa chỉ cho việc bánh lái một con tàu và thuyền
trƣởng của con tàu đó [35]. Theo đó, QTCT đƣợc hiểu là hệ thống các quy tắc để đảm
bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì
quyền lợi của chủ đầu tư và những người liên quan đến công ty [37].
Về nội dung, QTCT có thể hiểu theo nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa hẹp, QTCT
thƣờng quan tâm đến: (i) các vấn đề của cấu trúc quản lý của công ty chẳng hạn nhƣ mối
quan hệ giữa HĐQT và Ban Giám đốc (GĐ); (ii) lợi ích hoặc các mục tiêu của các nhóm
trong công ty. Theo nghĩa rộng, QTCT thiết lập một tổ hợp các mối quan hệ giữa các bên
tham gia vào công ty và các mục tiêu đầy đủ của QTCT đó.
Theo nghĩa hẹp, Giáo sƣ Ira M. Millstein, Trƣờng Quản lý Yale, Hoa Kỳ, cho
rằng: QTCT là việc công ty áp dụng những phương pháp mang tính nội bộ để quản lý


8

hoạt động của công ty. Nó được thể hiện qua những mối liên hệ nội bộ về cơ cấu quyền
hạn và trách nhiệm giữa các chủ thể góp vốn, HĐQT và các nhà quản lý [18]. Quan
điểm này khá tƣơng đồng với định nghĩa về QTCT trong Luật Công ty của Vƣơng quốc
Anh năm 1985. Cụ thể là Luật này đã xác định, QTCT là một thiết chế pháp lý về mối
quan hệ giữa CĐ, các nhà quản lý và Kiểm soát viên.
Cùng với tiếp cận trên, John và Senbet lại quan niệm rằng, QTCT là cơ chế mà
theo đó CĐ của một công ty thực hiện quyền kiểm soát đối với các thành viên nội bộ

tế lâu dài cho các CĐ, trong khi nó vẫn tôn trọng quyền lợi của những ngƣời có lợi ích
liên quan và của xã hội. Theo đó, đặc điểm cơ bản nhất của QTCT là: (i) tính minh bạch
của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá trình giám sát nội bộ đối với hoạt động
quản lý, (ii) bảo đảm thực thi các quyền của tất cả các CĐ, (iii) các thành viên của
HĐQT có thể hoàn toàn độc lập trong việc thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch
kinh doanh, tuyển dụng ngƣời quản lý, giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt
động quản lý, miễn nhiệm ngƣời quản lý khi cần thiết [24].
Khi so sánh với pháp luật thực định và thực tiễn QTCT ở các nƣớc trên thế giới,
đã cho thấy, quan niệm và các chuẩn mực trong QTCT của WB và OECD đã đƣợc cộng
đồng quốc tế chấp nhận rộng rãi và đƣợc tiếp nhận trong hoạt động lập pháp của nhiều
quốc gia, đặc biệt là các quốc gia chuyển đổi trong hơn một thập kỷ qua. Đối với các
quốc gia thành viên của OECD và các nƣớc nhận sự hỗ trợ về kỹ thuật lập pháp của WB
thì sự tiếp nhận các chuẩn mực này đã diễn ra nhanh chóng và thực tế đã trở thành giá trị
nền tảng trong QTCT ở các quốc gia này. Điển hình là Luật QTCT của Vƣơng quốc Bỉ
năm 2004 [34] xác định ngay trong lời nói đầu của mình rằng, QTCT là một tập hợp các
quy tắc và cách xử sự mà theo đó công ty được quản lý và kiểm soát. Theo đó, nội dung
của luật này không gì khác hơn là điều chỉnh pháp luật về các vấn đề mà OECD và WB
đã nêu.
Phù hợp với xu hƣớng phát triển chung của thế giới, thuật ngữ “quản trị công ty”
đã đƣợc du nhập vào Việt Nam cùng với các hệ thống tiêu chuẩn QTCT hiện đại. Sau
gần một thập niên tiếp cận với hệ thống các tiêu chuẩn này, “quản trị công ty” ở Việt
Nam vẫn tiếp tục là vấn đề mới mẻ, chƣa đƣợc sử dụng nhƣ một thuật ngữ pháp lý chính
thức và thống nhất về nội dung. Khi nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn nhiều quan điểm
khác nhau.
Theo Nguyễn Ngọc Bích, quản trị công ty (corporate governance) là một tập hợp
các cơ chế liên quan đến việc điều hành và kiểm soát công ty. Nó đề ra cách phân chia
quyền hạn và nghĩa vụ giữa CĐ, HĐQT, Ban GĐ và những người có lợi ích liên quan


10

sở hữu công ty và của xã hội. Theo đó, QTCT không liên quan đến hoạt động tác nghiệp


11

điều hành các công việc hàng ngày của công ty, mà chủ yếu chỉ xác định quyền lợi và
trách nhiệm của các chủ thể quản lý, giám sát công ty, cũng như cơ chế đảm bảo thực
hiện nó [22]. Cụ thể là xác định rõ nội dung phân chia các quyền, nghĩa vụ và trách
nhiệm giữa CĐ, ĐHĐCĐ (CTCP), HĐQT, GĐ (Tổng GĐ), BKS và những chủ thể có
liên quan khác của công ty (ngƣời lao động, chủ nợ,…); đồng thời lập ra các nguyên tắc
và thủ tục để ra quyết định về những vấn đề của công ty. Các thiết chế pháp lý điều chỉnh
các quan hệ này đƣợc cụ thể hóa trong các Luật công ty (Luật tổ chức công ty), Luật
QTCT ở một số nƣớc, Luật thƣơng mại, Luật phá sản và một số quy định ở các Luật có
liên quan khác.
Ở phạm vi hẹp hơn, QTCT đƣợc hiểu nhƣ là chế định về quản lý nội bộ công ty.
Chúng điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể quản lý, giám sát trong công ty với nhau
và với chủ sở hữu công ty, qua đó ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực và chức vụ, giảm
thiểu những rủi ro không cần thiết cho công ty và chủ sở hữu công ty. Tuy nhiên, việc
đảm bảo những quyền lợi thỏa đáng của chủ sở hữu công ty vẫn dựa trên cơ sở tôn trọng
lợi ích của các chủ thể có quyền lợi liên quan.
1.1.2. Nội dung cơ bản của Quản trị công ty niêm yết
1.1.2.1. Khái niệm, đặc điểm công ty niêm yết
Theo hiểu biết chung, CTNY là Công ty có chứng khoán đƣợc niêm yết trên thị
trƣờng giao dịch tập trung sau khi đáp ứng đủ các tiêu chuẩn niêm yết [35]. Từ cách tiếp
cận này cho thấy, CTNY phải thỏa mãn các đặc điểm sau:
Một là, CTNY là loại hình công ty đối vốn đƣợc tổ chức dƣới hình thức Công ty
TNHH hoặc Công ty CP;
Hai là, CTNY phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn niêm yết tại một thị trƣờng giao
dịch tập trung cụ thể;
Ba là, CTNY phải có chứng khoán niêm yết trên thị trƣờng giao dịch tập trung

những cá nhân thật sự tận tụy, am hiểu và năng động cho dù cấu trúc của HĐQT có sự
khác nhau ở các nƣớc (HĐQT một cấp hoặc HĐQT giám sát – hai cấp). Ví dụ ở Nhật
Bản, trong cơ cấu HĐQT còn có Ban kiểm toán với các thành viên độc lập không điều
hành theo sự giới thiệu của Keidanren (Liên đoàn các Tổ chức Kinh tế Nhật Bản). Nhìn
chung, việc phát sinh các giao dịch ngầm, giao dịch nội gián, thao túng công ty thƣờng
xuất hiện trong bộ máy đại diện do đó kéo theo sự xuất hiện các thành viên HĐQT độc
lập, không điều hành.
Thứ hai, bảo vệ quyền lợi của CĐ và đối xử công bằng giữa họ;


13

Sự tách bạch rõ ràng sở hữu công ty khỏi điều hành và quản lý đƣợc coi là dấu hiệu
tích cực của CTNY và trên thực tế đã làm nảy sinh những rủi ro đƣợc nhận thức từ lâu về
sự khác nhau về lợi ích giữa các CĐ với mục tiêu quản lý. Kinh nghiệm của các nƣớc có
nền kinh tế phát triển trên thế giới đã cho ra đời nhiều thông lệ về hợp đồng tƣ lợi và các
nguyên tắc pháp lý đƣợc thiết kế để bảo vệ CĐ góp phần củng cố lòng tin của CĐ và
theo đó tăng nguồn vốn đầu tƣ cho lĩnh vực kinh doanh. Nhìn chung, khi công ty coi
những tiến bộ trong việc bảo vệ quyền lợi của CĐ là lợi ích của chính mình thì ngƣời ta
hy vọng sự cạnh tranh về vốn sẽ có những ảnh hƣởng tích cực.
Các biện pháp bảo vệ CĐ cụ thể trong CTNY chú trọng vào: (i) Sự công bằng, thông
qua các quy định cấm các hành vi gian lận, giao dịch nội gián ở cấp quản lý hoặc với CĐ
giữ vai trò kiểm soát; (ii) Sự giải trình được, thông qua việc xác định rõ vai trò, nhiệm vụ
quản trị và chủ yếu dựa vào việc giám sát cấp quản lý của HĐQT; (iii) Sự minh bạch,
thông qua các quy định bắt buộc công khai thông tin đối với các CĐ và hạn chế việc khởi
kiện – tránh coi việc khởi kiện là công cụ bảo vệ quyền lợi của CĐ, ảnh hƣởng đến mục
tiêu phát triển của CTNY.
Thứ ba, bảo đảm quyền lợi của những ngƣời có liên quan;
Sự thành công của khung quản trị hiệu quả của CTNY gắn liền với khả năng điều
hòa lợi ích giữa GĐ, ngƣời quản lý, nhân viên với lợi ích của CĐ. Thù lao dựa trên hiệu

- Công ty có cổ phiếu đƣợc ít nhất một trăm nhà đầu tƣ sở hữu, không kể nhà đầu
tƣ chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ mƣời tỷ đồng Việt Nam trở
lên.
Theo Điều 2, khoản 2, điểm b của Quy chế Quản trị CTNY thì CTNY là CTCP
đƣợc chấp thuận niêm yết cổ phiếu trên SGDCK/TTGDCK trên lãnh thổ Việt Nam.
Nhƣ vậy, khái niệm niêm yết ở đây chỉ đƣợc hiểu là niêm yết cổ phiếu và do đó
chỉ có Công ty CP mới thỏa mãn các tiêu chuẩn của một CTNY. Khó có thể tìm thấy lý
do việc loại Công ty TNHH có trái phiếu đƣợc niêm yết trên SGDCK/TTGDCK khỏi
khái niệm CTNY vì rằng ngay cả khi đƣợc tổ chức dƣới hình thức Công ty TNHH thì
chúng cũng cần thiết phải đƣợc điều chỉnh theo các nguyên tắc quản trị nghiêm ngặt hơn
so với Công ty TNHH thông thƣờng vì lợi ích của công chúng. Đây cũng là vấn đề đã,
đang gây nhiều tranh cãi song không đƣợc giải quyết trong Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật chứng khoán năm 2010.
Nhƣ đã đề cập ở trên, tiêu chuẩn niêm yết cổ phiếu tại SGDCK Thành phố Hồ
Chí Minh (HOSE) và điều kiện niêm yết cổ phiếu tại SGDCK Hà nội (HNX) cũng khác
nhau, cụ thể nhƣ sau:


15

* Điều kiện niêm yết cổ phiếu tại SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) [5], [8],
[9]:
- Là CTCP có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 80 tỷ đồng
Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán. Căn cứ vào tình hình phát triển thị
trƣờng, mức vốn có thể đƣợc Bộ Tài chính điều chỉnh tăng hoặc giảm trong phạm vi tối
đa 30% sau khi xin ý kiến Thủ tƣớng Chính phủ;
- Hoạt động kinh doanh hai năm liền trƣớc năm đăng ký niêm yết phải có lãi và
không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký niêm yết;
- Không có các khoản nợ quá hạn chƣa đƣợc dự phòng theo quy định của pháp
luật; công khai mọi khoản nợ đối với công ty của thành viên HĐQT, BKS, GĐ hoặc

- CĐ là thành viên HĐQT, BKS, GĐ hoặc Tổng GĐ, Phó GĐ hoặc Phó Tổng
GĐ và Kế toán trƣởng của công ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở
hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 6
tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu nhà nƣớc do các cá nhân trên đại
diện nắm giữ;
- Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ nhƣ quy định đối với tổ chức niêm
yết tại SGDCK;
- Việc niêm yết cổ phiếu của các DN thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng
hoặc công nghệ cao, DN 100% vốn nhà nƣớc chuyển đổi thành CTCP không phải đáp
ứng điều kiện hoạt động kinh doanh của năm liền trƣớc năm đăng ký niêm yết phải có
lãi, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm và hoàn thành các nghĩa vụ tài
chính với Nhà nƣớc.
1.1.2.2. Các nguyên tắc quản trị công ty và quản trị công ty niêm yết
a. Nguyên tắc quản trị công ty theo thông lệ quốc tế:
Theo OECD, khung pháp luật về QTCT bao gồm 6 nhóm nguyên tắc cơ bản, với 32
nguyên tắc cơ bản (xem Hình 1.1). Các nhóm nguyên tắc ngày đƣợc nhiều nƣớc vận
dụng và áp dụng để xây dựng nên luật/quy chế về QTCT của mình. Đây cũng là cơ
sở/căn cứ để các tổ chức quốc tế nhƣ WB, IMF đánh giá tình hình QTCT các nƣớc.


17

Hình 1.1: Các nguyên tắc QTCT của OECD

I.ĐẢM BẢO CƠ SỞ CHO
MỘT KHUÔN KHỔ QUẢN
TRỊ CÔNG TY HIỆU QUẢ
IA. Khuôn khổ chung về
QTCT.
IB. Khuôn khổ pháp lý đối

đƣợc phép
tham
VỚI
khảo CÁC
ý kiếnCỔ
lẫnĐÔNG
nhau.
IIIA. Tất cả các cổ đông phải
đƣợc đối xử công bằng.
IIIB. Cấm giao dịch nội gián.
IIIC. HĐQT/Ban GĐ phải
CBTT về lợi ích.

IV. VAI TRÒ CỦA CÁC
BÊN CÓ QUYỀN LỢI LIÊN
QUAN TRONG QTCT
IVA. Tôn trọng quyền hợp
pháp của các bên có quyền lợi
liên quan.
IVB. Các bên có quyền lợi
liên quan đƣợc khiếu nại.
IVC. Cơ chế tăng cƣờng hiệu
quả hoạt động.
IVD. CBTT của các bên có
quyền lợi liên quan.
IVE. Bảo vệ ngƣời tố cáo.
IVF. Luật và cƣỡng chế thực
thi quyền của chủ nợ.

CÁC NGUYÊN TẮC



18

b. Nguyên tắc quản trị công ty niêm yết tại Việt nam:
Tại Điều 28 Luật Chứng khoán năm 2006 quy định: “Công ty đại chúng phải tuân
thủ các quy định của Luật DN về QTCT. Bộ Tài chính quy định cụ thể về QTCT áp
dụng đối với công ty đại chúng có cổ phiếu niêm yết tại SGDCK hoặc TTGDCK”. Điều
1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán 2010 đã nhấn mạnh "Việc
quản trị công ty đại chúng phải theo các quy định của Luật này, Luật DN và các quy định
khác của pháp luật có liên quan". Nhƣ vậy, về hình thức, các Công ty đại chúng phải
tuân thủ trƣớc hết các quy định của Luật chứng khoán, sau đó là Luật DN và các quy
định pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, về nội dung, đạo luật này vẫn chƣa chỉ rõ phƣơng
án lựa chọn Luật áp dụng khi có sự điều chỉnh khác biệt giữa đạo luật này với Luật DN
và các quy định khác của pháp luật liên quan.
Đối với CTNY, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc quản trị công ty đại chúng nói
chung, CTNY còn phải tuân thủ các quy định riêng với các đòi hỏi cao hơn so với công
ty đại chúng. Cụ thể là: Điều lệ của CTNY phải tuân theo quy định của Bộ Tài chính về
Điều lệ mẫu áp dụng cho các CTNY (ban hành kèm theo Quyết định số 15/2007/QĐBTC ngày 19/3/2007) và Quy chế QTCT niêm yết trên SGDCK hoặc TTGDCK (ban
hành kèm theo Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007).
* Các nguyên tắc QTCT bao gồm:
- Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả;
- Đảm bảo quyền lợi của CĐ;
- Đối xử công bằng giữa các CĐ;
- Đảm bảo vai trò của những ngƣời có quyền lợi liên quan đến công ty;
- Minh bạch trong hoạt động của công ty;
- HĐQT và BKS lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả.
Đáng lƣu ý là, sau một thời gian thực hiện, các nguyên tắc quản trị áp dụng đối
với CTNY kể trên đã đƣợc chuyển hóa thành các nguyên tắc quản trị áp dụng đối với các
Công ty đại chúng, cụ thể:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status