Chức năng văn hoá giáo dục của nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam hiện nay - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN VINH HƯNG

CHỨC NĂNG VĂN HÓA – GIÁO DỤC CỦA NHÀ NƯỚC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
MÃ SỐ: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS. NGUYỄN VĂN ĐỘNG

Hà Nội, 2011


Tôi xin cam đoan đây là công
trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu,
thống kê, trích dẫn được chú thích rõ
ràng.


LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn xin được phép gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS.
Nguyễn Văn Động cùng toàn thể quý thầy cô giáo và bạn bè đã giúp đỡ để hoàn
thành đề tài.

Quy phạm pháp luật

TAND

Tòa án nhân dân

UBND

Ủy ban nhân dân

VBQPPL

Văn bản quy phạm pháp luật

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân


Mục lục

Phần mở đầu

.................................................................................................1

Phần nội dung ....................................................................................................... 6
Chương 1. Cơ sở lý luận của chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay ....................... 6
1.1. Chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

quản lý văn hóa ......................................................................................... 34
2.1.1.1. Ưu điểm và thành tựu trong quản lý văn hóa .................. 34
2.1.1.2. Nguyên nhân của ưu điểm và thành tựu trong quản lý văn
hóa ................................................................................................... 38
2.1.2. Ưu điểm, thành tựu và nguyên nhân của ưu điểm, thành tựu trong
quản lý giáo dục ........................................................................................ 39
2.1.2.1. Ưu điểm và thành tựu trong quản lý giáo dục ................. 39
2.1.2.2. Nguyên nhân của ưu điểm và thành tựu trong quản lý giáo
dục ................................................................................................... 44
2.2. Những nhược điểm và nguyên nhân của nhược điểm trong việc thực hiện
chức năng văn hóa - giáo dục ............................................................................ 45
2.2.1. Nhược điểm và nguyên nhân của nhược điểm trong quản lý văn hóa
.................................................................................................................... 45
2.2.1.1. Nhược điểm trong quản lý văn hóa .................................. 45
2.2.1.2. Nguyên nhân của nhược điểm trong quản lý văn hóa .... 48
2.2.2. Nhược điểm và nguyên nhân của nhược điểm trong quản lý giáo
dục .............................................................................................................. 49
2.2.2.1. Nhược điểm trong quản lý giáo dục ................................. 49
2.2.2.2. Nguyên nhân của nhược điểm trong quản lý giáo dục ... 52


Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng văn hóa

- giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện
nay ........................................................................................................ 55
3.1. Giải pháp về nhận thức tư tưởng............................................................... 55
3.2. Giải pháp về tổ chức bộ máy và năng lực cán bộ ..................................... 60
3.3. Giải pháp về cách thức tổ chức thực hiện ................................................. 64
3.4. Giải pháp pháp lý ........................................................................................ 67
Phần kết luận ...................................................................................................... 74

triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, vừa phát huy những giá trị tốt đẹp
của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại”[17, tr.25-26],”Chú
trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối


2
sống, thể chất, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp
luật…”[18, tr.25-26], “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn
bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục,
phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”.[19, tr.28]
Trong việc thực hiện chủ trương, đường lối trên của Đảng, Nhà nước đã có
nhiều cố gắng trong việc tăng quản lý văn hóa, giáo dục và đổi mới cơ chế quản
lý. Nhìn bước đầu thì những thành tựu trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục đã
góp phần quan trọng vào việc phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu trên thì
vẫn còn có nhiều tồn tại, bất cập liên quan đến vấn đề quản lý văn hóa - giáo dục.
Báo cáo của Ban chấp hành trung ương (BCHTƯ) Đảng khóa IX đã chỉ rõ những
tồn tại, hạn chế: “Hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa còn nhiều sơ hở, yếu
kém. Đấu tranh ngăn ngừa văn hóa phẩm độc hại chưa được chú ý đầy đủ, còn
nhiều khuyết điểm, bất cập”; “Công tác quản lý giáo dục, đào tạo chậm đổi mới
và còn nhiều bất cập. Thanh tra giáo dục còn nhiều yếu kém; những hiện tượng
tiêu cực, như bệnh thành tích, thiếu trung thực trong đánh giá kết quả giáo dục,
trong học tập, tuyển sinh, thi cử, cấp bằng và tình trạng học thêm, dạy thêm tràn
lan kéo dài, chậm được khắc phục” [4, tr.173].
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài Chức năng văn hóa giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một việc làm cần
thiết và rất có ý nghĩa, bởi lẽ việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần vào việc cung
cấp những luận cứ khoa học để Đảng tiếp tục hoàn thiện chủ trương, đường lối,
chính sách về văn hóa, giáo dục và Nhà nước tiếp tục đổi mới, hoàn thiện pháp
luật về quản lý văn hóa, giáo dục cho phù hợp hơn với bối cảnh đất nước hiện

văn hóa - giáo dục là đề tài khoa học cấp trường Đại học Luật Hà Nội năm 2008
“Chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước CHXHCN Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế” do PGS.TS.Nguyễn Văn Động
chủ biên.
Các công trình khoa học trên có là cơ sở để Nhà nước hoàn thiện hơn nữa
hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa - giáo dục. Ngoài ra, đó còn là


4
nguồn tư liệu quý giá phục vụ cho những thế hệ sinh viên, nghiên cứu sinh hay
những nhà khoa học khác sử dụng, tham khảo, học tập.
3. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Để đạt được những mục đích đã đặt ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả
dựa vào phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là về Nhà nước và pháp luật Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế hiện nay. Luận văn cũng sử dụng
một số phương pháp nghiên cứu như: so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, xã
hội học,...
4. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đối tượng nghiên cứu đề tài là chức năng của Nhà nước CHXHCN Việt
Nam. Tuy nhiên, trong luận văn này, tác giả chỉ đề cập chức năng văn hóa - giáo
dục của Nhà nước CHXNCN Việt Nam hiện nay.
Việc nghiên cứu chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước CHXHCN
Việt Nam nhằm khẳng định vị trí, vai trò, ý nghĩa của chức năng này trong hệ
thống các chức năng của Nhà nước CHXHCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới,
phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Để đạt được mục đích nghiên cứu như đã nêu ở trên, tác giả luận văn có
nhiệm vụ sau đây:


NỘI DUNG
Chương 1

Cơ sở lý luận của chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
1.1. Chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam: khái niệm, đặc điểm và nội dung
1.1.1. Khái niệm chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam
Chức năng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là những hoạt động cơ bản của
Nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, ý nghĩa xã hội, mục đích và nhiệm vụ của
Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội [25, tr.229]. Chức năng của
Nhà nước CHXHCN Việt Nam là do cơ sở kinh tế - xã hội, bản chất, nhiệm vụ
chiến lược và mục tiêu lâu dài của Nhà nước CHXHCN Việt Nam quyết định.
Trong hệ thống các chức năng của Nhà nước thì chức năng quản lý văn hóa - giáo
dục là một trong những chức năng quan trọng nhất. Chức năng quản lý văn hoá giáo dục là hoạt động chủ yếu, thường xuyên, có tính ổn định tương đối, trực tiếp
thể hiện bản chất, nhiệm vụ chiến lược, mục tiêu lâu dài của Nhà nước trong lĩnh
vực văn hoá, giáo dục, vì một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc và một nền giáo dục XHCN có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại,
lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng [32, tr.54].
Bắt nguồn từ bản chất của Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân, nên mục tiêu phấn đấu cao nhất của Nhà nước đó là
đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, an toàn cho người dân, tạo điều kiện
cho con người phát triển toàn diện và hài hoà cả về thể chất, tinh thần và phẩm
chất đạo đức. Vì vậy, mục tiêu thực hiện chức năng quản lý văn hóa - giáo dục
của Nhà nước cũng chính vì con người, cho con người.


7


8
lập, củng cố, phát triển các mối quan hệ và sự hợp tác với tất cả các nước trên thế
giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở cùng tồn tại
hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can
thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; tham gia
vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội.
Mục đích của việc thực hiện chức năng văn hóa - giáo dục là cung cấp
nguồn nhân lực có lập trường chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt và trình
độ, năng lực, văn hóa ngày càng cao để thực hiện có hiệu quả các chức năng đối
nội, đối ngoại khác. Ngược lại, các chức năng đối nội, đối ngoại khác sẽ tạo điều
kiện thuận lợi về các mặt kinh tế, tài chính, phương tiện khoa học - kỹ thuật, tâm
lý và tinh thần xã hội, an ninh chính trị và an toàn xã hội, môi trường tự nhiên và
môi trường quốc tế để chức năng văn hoá - giáo dục được thực hiện ngày có chất
lượng và hiệu quả cao hơn. Đây là mối quan hệ tác động, hỗ trợ lẫn nhau giữa các
chức năng trong hệ thống các chức năng của Nhà nước.
Ngoài ra, cũng cần phân biệt chức năng quản lý văn hóa - giáo dục với
nhiệm vụ chiến lược phát triển văn hóa - giáo dục của Nhà nước. Chức năng văn
hóa - giáo dục, như đã nói ở trên, là hoạt động chủ yếu, thường xuyên của Nhà
nước nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu chiến lược của Nhà nước trong lĩnh
vực văn hóa - giáo dục. Còn nhiệm vụ chiến lược phát triển văn hóa - giáo dục
của Nhà nước là những vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất có tính chất lâu dài
về văn hóa - giáo dục được đặt ra trước Nhà nước mà Nhà nước cần phải giải
quyết để đạt được mục tiêu đề ra.
Trong mối quan hệ giữa nhiệm vụ chiến lược về văn hoá - giáo dục với
chức năng quản lý văn hoá - giáo dục thì nhiệm vụ chiến lược về văn hoá - giáo
dục là cơ sở quyết định nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện chức năng
văn hoá - giáo dục, còn chức năng văn hoá - giáo dục là phương thức để thực hiện
nhiệm vụ chiến lược về văn hoá - giáo dục. Như vậy, chức năng văn hoá - giáo

chính nhà nước đối với giáo dục là: bảo đảm tính thống nhất và nâng cao hiệu
lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục; phân cấp quản lý nhà nước đối với
giáo dục phải bảo đảm tương ứng giữa nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm,
nguồn lực tài chính, nhân sự và các điều kiện cần thiết để thực hiện được các
công việc được phân cấp; xác định cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm


10
của các bộ, ngành, của UBND các cấp đối với sự nghiệp giáo dục, đồng thời
bảo đảm tính chủ động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ
quan quản lý giáo dục các cấp trong việc quyết định và thực hiện các nhiệm vụ
được phân công, phân cấp. Ngoài ra, các cơ quan tư pháp trong quá trình hoạt
động bảo vệ pháp luật cũng góp phần quan trọng vào việc thực hiện chức năng
quản lý văn hoá - giáo dục.
Thứ hai, chức năng văn hoá - giáo dục của Nhà nước CHXHCN Việt Nam
có nội dung do pháp luật quy định. Chức năng quản lý văn hóa - giáo dục thực
chất cũng chỉ là một chức năng quản lý nhà nước nằm trong hệ thống các chức
năng quản lý nhà nước. Chức năng quản lý văn hoá - giáo dục là những hoạt động
của Nhà nước liên quan đến việc tổ chức và quản lý văn hoá - giáo dục. Như vậy,
nội dung của chức năng quản lý văn hóa - giáo dục phải do pháp luật quy định và
điều chỉnh. Nội dung của pháp luật về tổ chức và quản lý văn hoá - giáo dục gồm
hai bộ phận là pháp luật nội dung và pháp luật hình thức, trong đó pháp luật nội
dung quy định quyền, nghĩa vụ của các loại chủ thể hoạt động văn hoá - giáo dục,
gồm Nhà nước nói chung, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân; pháp
luật hình thức quy định trình tự, thủ tục thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của
các loại chủ thể trong lĩnh vực văn hoá - giáo dục, kể cả lĩnh vực tố tụng liên
quan đến văn hoá - giáo dục. Nhìn chung, hệ thống pháp luật liên quan đến quản
lý văn hóa - giáo dục luôn được Nhà nước hoàn thiện để không ngừng nâng cao
hiệu quả quản lý văn hóa - giáo dục.
Thứ ba, chức năng quản lý văn hoá - giáo dục có mục tiêu cụ thể là điều

Thứ năm, chức năng văn hoá - giáo dục của Nhà nước CHXHCN Việt Nam
tiếp nối chức năng văn hoá - giáo dục của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Kể từ khi ra đời (năm 1945), Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đảm
nhiệm chức năng văn hoá - giáo dục và kéo dài cho tới năm 1976 khi Quốc hội
chung của cả nước họp quyết định đổi tên nước thành nước CHXHCN Việt Nam,
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được đổi tên thành Nhà nước CHXHCN
Việt Nam và chức năng văn hoá - giáo dục của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa được chuyển thành chức năng văn hoá - giáo dục của Nhà nước CHXHCN
Việt Nam. Sự nối tiếp chức năng văn hoá - giáo dục của Nhà nước được thể hiện
trước hết trong bốn bản Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959,
Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992.


12
Ngày 3 - 9 - 1945, một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh
ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tại phiên họp của Chính phủ lâm thời, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ diệt giặc dốt. Người phát động phong trào
bình dân học vụ cho mọi người dân mù chữ đi học chữ quốc ngữ. Sau đó, Quốc
hội còn ban hành Luật về chế độ báo chí ngày 25 - 1- 1957.
Hiến pháp ngày 9 - 11 - 1946 tuyên bố mọi công dân Việt Nam đều ngang
quyền về mọi phương diện trong đó có phương diện văn hoá (Điều 6); thực hiện
chế độ tiểu học bắt buộc và không học phí, Chính phủ giúp đỡ học trò nghèo, cho
phép mở trường tư tự do nhưng phải dạy theo chương trình của Nhà nước (Điều
15); Nhà nước bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân, trong đó có quyền
lợi của trí thức (Điều 10, Điều 13). Hiến pháp năm 1946 là cơ sở pháp lý đầu tiên
để Nhà nước quản lý văn hoá - giáo dục sau này.
Ngày 31 - 12 - 1959, Quốc hội thông qua bản Hiến pháp thứ hai (Hiến
pháp 1959). Đây là Hiến pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở miền Bắc và
đấu tranh giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước, trong đó đã mở
rộng thêm nhiều quyền cho công dân, trong đó có quyền văn hoá (Điều 34),

Nhằm cụ thể hóa Hiến pháp năm 1992, Quốc hội đã ban hành các luật như
Luật xuất bản ngày 7 - 7 - 1993, Bộ luật dân sự ngày 28 - 10 - 1995, Luật giáo
dục ngày 2 - 12 - 1998, Luật khoa học và công nghệ ngày 9 - 6 - 2000, Luật
phòng, chống ma tuý ngày 9 - 12 - 2000, Luật di sản văn hoá ngày 29 - 6 - 2001,
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 15 - 6 - 2004, Luật xuất bản ngày
3 - 12 - 2004, Luật giáo dục ngày 14 - 6 - 2005, Bộ luật dân sự ngày 14 - 6 2005, Luật du lịch ngày 14 - 6 - 2005, Luật sở hữu trí tuệ ngày 29 - 11 - 2005 và
Luật giáo dục năm 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2009.
Qua những bước tiếp nối và phát triển của quá trình quản lý nhà nước đối
với văn hóa - giáo dục, chúng ta có thể thấy rằng đây là một quá trình rất dài,
được kế thừa và phát triển từ những nền tảng ban đầu (Hiến pháp 1946) cho đến
ngày nay. Hiện nay, Nhà nước có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh về quản lý
văn hóa - giáo dục và không ngừng hoàn thiện, bổ sung nó bằng những quy định
mới để phù hợp với sự phát triển của xã hội Việt Nam và của tình hình quốc tế.
Thứ sáu, chức năng văn hoá - giáo dục có đối tượng tác động là các quan
hệ xã hội cơ bản và quan trọng nhất liên quan tới văn hoá - giáo dục. Hiện


14
nay, những lĩnh vực quan hệ xã hội chủ yếu mà Nhà nước tác động thông qua
việc thực hiện chức năng văn hoá - giáo dục rất đa dạng và phức tạp. Hệ thống
này được phân chia thành các nhóm trong hệ thống văn hoá từ trung ương đến
địa phương và hệ thống giáo dục quốc dân được thể hiện cụ thể trong các cấp
học và trình độ đào tạo như: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông(có tiểu
học, trung học cơ sở, trung học phổ thông), giáo dục nghề nghiệp có trung cấp
chuyên nghiệp và dạy nghề, giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học.
Thứ bảy, chức năng quản lý văn hoá - giáo dục được thực hiện dưới
những hình thức và bằng các phương pháp nhất định. Hình thức thực hiện
chức năng văn hoá - giáo dục là biểu hiện bên ngoài hoạt động của Nhà nước
trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục. Nhà nước thực hiện chức năng văn hóa - giáo
dục dưới các hình thức pháp lý và các hình thức không mang tính pháp lý. Các

dục của Nhà nước cũng cần thường xuyên đổi mới, cải tiến về nội dung, hình
thức, phương pháp cho phù hợp. Thực tế cho thấy, Nhà nước đã và đang có nhiều
biện pháp đổi mới, cải cách giáo dục - đào tạo như đưa tin học vào giảng dạy
trong nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học phổ thông, trung học cơ sở và cả
ở bậc học tiểu học; xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm rèn luyện thể chất cho sinh viên,
học sinh; tiến hành phổ cập tiểu học rộng rãi, phát triển đào tạo nguồn nhân lực
có trình độ và tay nghề cao để họ tự làm chủ máy móc, công nghệ hiện đại…
Thứ chín, chức năng văn hoá - giáo dục của Nhà nước CHXHCN Việt Nam
được thực hiện trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước về văn hoá, giáo dục và phát triển văn hoá, giáo dục trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Căn cứ theo Điều 4 Hiến pháp năm 1992 thì Đảng "là
lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội", vì vậy, các quan điểm của Đảng về
văn hoá - giáo dục là cơ sở để Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật, tức là
thành những quy tắc xử sự chung, được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà
nước. Khi đã có pháp luật rồi thì Nhà nước phải quản lý văn hoá - giáo dục
theo pháp luật thì mới đạt được các mục tiêu của văn hoá và giáo dục. Thực
tiễn đã chứng minh Đảng luôn lãnh đạo tài tình, sáng suốt, quyết định những
vấn đề quan trọng liên quan đến vận mệnh của cả đất nước. Tư tưởng của Đảng
luôn là kim chỉ nam, là nguồn cội để cho Nhà nước tiến hành các công việc,
hoạt động quan trọng.


16
1.1.3. Nội dung chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam
Hiện nay, nội dung của chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước bao
gồm hai mặt là tổ chức nền văn hoá - giáo dục và quản lý nền văn hoá - giáo dục.
Công tác tổ chức được triển khai nhằm mục đích xây dựng, bố trí, sắp xếp hệ
thống văn hoá và hệ thống giáo dục quốc dân một cách hợp lý, khoa học từ cấp
trung ương xuống tới địa phương, sao cho các hệ thống này phát huy được tối đa

động quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá, gồm: xây dựng và chỉ đạo thực
hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di
sản văn hoá; ban hành các VBQPPL về di sản văn hoá; tuyên truyền, phổ biến,
giải thích và giáo dục pháp luật về di sản văn hoá; tổ chức và chỉ đạo các hoạt
động bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hoá; tổ chức, quản lý hoạt động nghiên
cứu khoa học về di sản văn hoá; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên môn về di
sản văn hoá; huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy
giá trị di sản văn hoá; tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy
giá trị di sản văn hoá; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về di sản
văn hoá; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn
hoá; tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hoá.
- Chống thông tin truyền bá tư tưởng và "văn hoá" phản động, độc hại, đồi
trụy, bài trừ mê tín, hủ tục lạc hậu tác động tới tư tưởng, tình cảm; những hoạt
động văn hoá, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức
và lối sống tốt đẹp của con người Việt Nam.
- Tiếp tục bảo tồn và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến lâu đời của các
dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.
- Truyền bá, học tập tấm gương tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh vào cuộc sống xã hội.
- Tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, đồng thời phát huy mọi tài năng sáng
tạo trong nhân dân.


18
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý
thức công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; giữ gìn thuần
phong mỹ tục; xây dựng gia đình có văn hoá, hạnh phúc, có tinh thần yêu nước,
yêu chế độ XHCN, có tinh thần quốc tế chân chính, hữu nghị và hợp tác với các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status